HAI BÀI THƠ KHẨU KHÍ CỦA
TAM NGUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN

VŨ PHẠM HÀM




Học giả Lãng Nhân cho biết: Nước ta từ trước, đỗ Tam nguyên Nhất giáp duy chỉ có đời Lê Trung hưng có Bảng nhãn Lê Quý Đôn và đời Nguyễn, Thám hoa Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm). Năm 1994, nhân dịp Viện Sử học Việt Nam và Sở Văn hóa - Thông tin tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) tổ chức Kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm, giáo sư Sử học Lê Văn Lan và nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc đã có dịp về Đôn Thư viếng thăm Lăng mộ cụ Thám Hàm, các vị học giả khi nói đến trí thông minh của cụ Thám, đã nêu một so sánh như sau: "Nếu trí nhớ thần đồng của Bảng nhãn Lê Quý Đôn thời Lê Trung hưng là có một, thì trí nhớ tuyệt vời của Thám hoa Vũ Phạm Hàm thời Nguyễn có thể kể là thứ hai". Chúng ta thử đọc lại hai bài thơ thời niên thiếu của hai vị Tam nguyên Lê Quý Đôn và Vũ Phạm Hàm.

TAM NGUYÊN LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784)

Tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, quê xã Duyên Hà, Hưng Yên, nay thuộc tỉnh Thái Bình, là con Trung hiếu công Lê Phú Thứ, thượng thư bộ Hình triều Lê Dụ Tông.

Ông thông minh lanh lợi, nổi tiếng thần đồng. Hồi tám chín tuổi, một hôm, ông mải chơi bỏ học, cha gọi về đét cho mấy roi, mắng:

- Đồ rắn đầu rắn cổ.

Ông đọc ngay tám câu thơ Đường luật, mỗi câu có tên một thứ rắn:

Chẳng phải Liu điu(1) vẫn giống nhà

Rắn(2) đầu biếng học, lẽ không tha!

Thẹn đèn Hổ lửa(3), đau lòng mẹ

Nay thét Mai gầm,(4) rát cổ cha

Ráo(5) mép chỉ quen tuồng dối trá

Lằn(6) lưng, đành chịu vọt năm ba

Từ rày Châu Lỗ(7) chăm nghề học

Kẻo Hổ mang(8) danh tiếng thế gia!

Trong bài thơ trên có 8 câu liên quan đến loài Rắn:

(1) Liu điu: rắn có nọc độc ở hàm trên, phía sau có răng nhỏ, đẻ con và sống ở ao hồ, ăn ếch nhái.

(2) Rắn: động vật thuộc lớp bò sát, thân dài, có vẩy, không chân, di chuyển bằng cách uốn thân.

(3) Hổ lửa: rắn độc có khoang, màu đỏ như màu lửa.

(4) Mai gầm (Cạp nong): rắn độc, thân có nhiều khoanh đen, vàng xen kẽ. Cần phân biệt với Cạp nia, là rắn độc, thân cũng có nhiều khoanh đen, trắng xen kẽ cỡ nhỏ hơn Cạp nong.

(5) Ráo: loài rắn nhỏ, sống trên cây chuyên săn chuột

(6) Lằn: tức Thằn lằn, động vật tương cận, loài bò sát, thân và đuôi dài phủ vẩy, có 4 chi khỏe, sống ở bờ bụi, ăn sâu bọ.

(7) có hai nghĩa:

a/ nước Châu của Mạnh Tử và nước Lỗ của Khổng Tử,

b/ rắn châu lỗ: loài nhỏ, sống ở ao, hồ, chuyên rình bắt gà con.

(8) Hổ mang: rắn độc có tập tính ngẩng đầu, bạnh da cổ để đe dọa kẻ địch.

Lê Quý Đôn đỗ Hương nguyên năm 18 tuổi, khoa Nhâm Thân (1752) triều Lê Hiền Tông, ông đỗ Hội nguyên và Đình nguyên, khoa thi chỉ lấy đỗ Bảng nhãn, nên ông đỗ Tam nguyên Nhất giáp Bảng nhãn. Đầu tiên ông được bổ Hàn lâm viện thị thư, ông đi sứ sang Tàu vào năm 1790, 1769 và 1770, dự việc đánh đồ đảng Lê Duy Mật ở Thanh- Nghệ. Năm 1775, làm Tổng tài Quốc sử quán coi việc tục biên quốc sử. Tiếp đó vào Thuận Hóa, chức Tham thị, cùng Bùi Thế Đạt chống Tây Sơn, sau làm đến chức Công bộ Thượng thư. Ông mất năm 1784, thọ 59 tuổi.

Tính hay tự kiêu tự mãn, chúa Trịnh Sâm đã thấy ở Lê Quý Đôn ngay từ lúc ông mới vào yết kiến lần đầu tiên. Một hôm ông vào hầu, Trịnh Sâm hỏi:

- Ông đỗ Tam nguyên, hẳn là cái gì cũng biết đấy nhỉ?

Ông thưa:

- Tôi được thế là mông ân Vương thượng (chịu ơn chúa).

Chúa cười. Khi ông ra khỏi, chúa nói với quan a bảo (thầy dạy học):

- Ta trông thấy Lê Quý Đôn là người cậy tài, khinh người mà lại gian.

- Sao chúa biết?

- Nhìn trộm là tính gian. Nói hay ngửa mặt lên là ý kiêu.

Tính gian này, về sau có xảy ra một chứng minh rõ: Ấy là việc khoa thi năm 1775, Lê Quý Đôn làm chủ khảo thi Hương, cả trường thi có hai sĩ tử trội nhất: Đinh Thời Trung và Lê Quý Kiệt (con của ông). Đến khi vào thi Hội, thì giữa vua Lê và chúa Trịnh có cuộc đánh đố, vua cho là Lê Quý Kiệt sẽ đỗ Hội nguyên, còn chúa lại thiên về Đinh Thời Trung. Ngày ra bảng, Lê Quý Kiệt đỗ Hội nguyên, Đinh Thời Trung đỗ thứ hai. Chúa Trịnh không chịu là công bằng, truyền cho xét lại bài thi. Thì khám phá ra rằng bài có tên Kiệt do Trung viết, mà bài có tên Trung do Kiệt viết. Bấy giờ mới hay có sự điều đình giữa Lê Quý Đôn và Trung để tráo tên quyển cho Kiệt đỗ đầu. Việc đổ bể ra, ông bị bắt giam, Kiệt bị tước hết bằng sắc giáng làm bạch đinh, Trung bị đi đày.

Trong khi Lê Quý Đôn bị bắt giam, có sứ Tàu sang đố chữ "đông", cả triều không ai giải được, chúa Trịnh bất đắc dĩ phải cho đòi ông ra hỏi, Lê Quý Đôn giảng được, sứ Tàu chịu là đúng. Vì có công này nên ông được tha và thiên bổ đi làm Tham thị Thuận Hóa để chống với Tây Sơn.

Sau này mới rõ là sứ Tàu sang nước ta gặp Lê Quý Đôn, rất mến phục tài học, nhân xem lá số của ông, tiên đoán rằng ông sẽ bị vận hạn, nên năm ấy, tâu xin vua Tàu gửi chữ sang đố nước Nam để Lê Quý Đôn được dịp lập công chuộc tội.

Ngoại trừ tính kiêu căng và thiếu minh bạch, Lê Quý Đôn vẫn là một nhà học giả xem nhiều biết rộng, để lại những tuyệt tác:

1/ Quốc âm: bài kinh nghĩa "Về nhà chồng, phải kính phải răn, chớ trái lời chồng", bài văn sách "Lấy chồng cho đáng tấm chồng" và số ít thơ luật.

2/ Hán văn: "Đại Việt thông sứ", "Vân đài loại ngữ" (chia loại các lời nói), "Toàn Việt thi lục" (sưu tập các thi gia từ Lý đến Hậu Lê), "Hoàng Việt văn hải" (sưu tập văn hay), "Kiến văn tiểu lục".

Lê Quý Đôn là một học giả uyên bác, đa dạng và sung mãn nhất của văn hóa cổ nước ta. Giới nghiên cứu Pháp xem ông là nhà bác học về lãnh vực văn hóa của Việt Nam.

TAM NGUYÊN VŨ PHẠM HÀM (1864-1906)

Quê làng Đôn Thư, Kim thư, Thanh Oai, Hà Nội, tự là Mộng Hải, hiệu Thư Trì, tên thụy là Trang Khải.

Thuở nhỏ, Vũ Phạm Hàm có bài thơ vịnh "Con Cua" để tỏ chí mình:

Linh đài nhất điểm tự phân minh,

Thùy bả vô tràng mạn phẩm bình.

Thảo dã thử thân nguyên hữu dụng,

Giang sơn đáo xứ tẫn hoành hành.

Huyền hoàng mãn phúc, văn tâm nhuận,

Qua giáp đương đầu: võ lược tinh.

Thiên hạ chính đương: cơ khát vọng,

Quân như bất xuất(1) Thục điền canh?(2)

Nghĩa:

- Một điểm ở linh đài (tâm) rất rõ ràng

- Vậy mà người ta cứ bảo là cua không có ruột

- Tuy ở chốn thảo dã, nhưng thân hữu dụng

- Giang sơn đến đâu cũng hoành hành (đi ngang)

- Trong bụng có sắc đen và sắc vàng, là sẵn có văn chương

- Đầu có gươm, mình có áo giáp là giỏi võ lược

- Thiên hạ đương mong mỏi, ví như đói mong ăn, khát mong uống.

- Nếu cứ ở yên mà không chịu ra, lấy gì giúp việc nấu canh?

-----------------------

(1) "Quân như bất xuất": lấy điển Tạ An đời Tấn, có chữ 'Bất xuất như thương sinh hà ' (nếu không ra, thì dân biết trông cậy vào ai?)

(2) "Thục điền canh": lấy điển Phó Duyệt. 'Điều canh dụng nhữ tác diêm mai', ý nói vua tôi hợp nhau, như người nấu canh vừa mắm muối.

Bản dịch của Nhân Phủ Lê Thế Vinh:

Khuôn thiêng sẵn có đủ phân minh,

"Không ruột" đời sao dám phẩm bình!

Cỏ nội, thân này còn hữu dụng.

Giang sơn đâu cũng vẫn hoành hành.

Gấm hoa đầy bụng : văn tâm đẹp,

Qua giáp đương đầu : võ nghệ tinh.

Thiên hạ chính đang khao khát đấy.

Vắng người, ai kẻ đứng điều canh?

Ông là con cả cụ Phạm Vũ Dự và cháu nội cụ Phủ Thiên Vũ Đăng Dương (tức Phạm Vũ Cát), khi đi thi, ông phải khai ba đời, nên phải mang họ của Ông nội. Họ gốc của ông là Phạm Vũ.

Năm Giáp Thân (1884), Vũ Phạm Hàm (Phạm Vũ Hàm) 21 tuổi, đỗ Hương nguyên, năm 29 tuổi đỗ Hội nguyên và Đình nguyên, vua Thành Thái sắc ban "Nhất giáp Tam nguyên Thám hoa", hàm Quang Lộc Tự Thiếu Khanh kiêm Sung Quán Đồng Văn, được khắc tên trong văn bia ở Văn Thánh Huế. Ông được bổ Đốc học Hà Nội, sung Đồng Văn Quán (báo chữ Hán đầu tiên ở Bắc Kỳ), sau Hiến Sát sứ tỉnh Hưng Hóa, Đốc học Ninh Bình, Đốc học tỉnh Phù Lỗ (Phúc Yên), Đốc học tỉnh Cầu Đơ (Hà Đông), Hàn Lâm viện Trực học sĩ. Ông bị bênh mất sớm, thọ 43 tuổi, được truy tặng hàm Tham Tri.

Thư mục Vũ Phạm Hàm:

Nhân dịp kỷ niệm 145 năm ngày sinh của Ông và cũng để biết rõ hơn về sự nghiệp thơ văn, văn hóa giáo dục của Ông, gia đình hậu duệ của Thám Hàm cùng với Hội Khoa học Lịch sử, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chủ trương xuất bản một số sách của Ông, trong đó có sách "Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm" Nxb Văn hóa -Thông tin, 2010 nhằm lau bớt đi lớp bụi mờ thời gian che khuất chân dung Ông. Sau đây là một số tác phẩm:

1.Văn sách của trường học của Vũ Phạm Hàm trong các tập "Danh gia Văn tập"...

2.Mộng Hồ Thi Tuyển, Vũ Phạm Hàm soạn thảo gồm 10 bài thơ vịnh các trung thần...

3.Mộng Hồ Gia tập: cuốn Phả họ Phạm Vũ, Đôn Thư, do Vũ Phạm Hàm soạn năm1888.

4.Thư Trì Thi Tập: gồm những bài thơ tả danh lam thắng cảnh, cảm tác gửi gắm tâm tình của Vũ Phạm Hàm.

5.Hương Sơn Phong cảnh: là bài thơ Nôm duy nhất của Vũ Phạm Hàm và được nhiều người truyền tụng. Bài thơ theo thể Hát nói dài 75 câu, ca ngợi phong cảnh chùa Hương, một thắng cảnh nổi tiếng của Việt Nam.

6.Cầu Đơ tỉnh nhân đinh phong tục tổng sách: do Vũ Phạm Hàm biên soạn, nói về dân số, phong tục, nghề nghiệp, cổ tích, đền chùa của tỉnh Cầu Đơ (Hà Đông)

7.Hưng Hóa tỉnh Phú: bài Phú về địa lý, lịch sử tỉnh Hưng Hóa ( là một trong số 13 tỉnh của Bắc Kỳ nước ta, giáp Sơn Tây, Thanh Hóa, Vân Nam, T.Q và Ai Lao)...

Vũ Phạm Hàm là một danh nho, đồng thời là một vị Đốc học nổi tiếng của Hà Nội, nên sau Cách Mạng tháng 8 năm 1945, chính quyền Hà Nội lấy tên đường 104 trên bán đảo Ngũ Xá, hồ Trúc Bạch đặt tên là phố Vũ Phạm Hàm, nhưng từ năm 1964 lại đổi thành tên khác, gọi là phố Lạc Chính. Ở Tp. HCM có đường Vũ Phạm Hàm ở Quận 8, sau cũng bị đổi thành tên khác, đường Bình Đức, không rõ lý do của sự thay đổi này.

Nhiều học giả, trong đó có Trần Hồng Đức kiến nghị với chính quyền Hà Nội (và Tp.HCM) nên đặt lại tên đường phố Vũ Phạm Hàm.

Nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, phố Vũ Phạm Hàm đã được đặt lại ở Quận Cầu Giấy, Hà Nội. Mong rằng, Tp.HCM cũng sẽ đặt lại tên đường Vũ Phạm Hàm, một một danh nhân văn hóa tài hoa của đất nước Tiên Rồng - ngang tầm với nhà bác học Lê Quý Đôn.

 
Tham khảo:

- Giai thoại Làng Nho, của Lãng Nhân, 1999
- Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa VN, của Trần Hồng Đức,1999
- Tam nguyên Thám hoa Vũ Phạm Hàm của Chương Thâu.2010

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 19.01.2011 theo nguyên bản của tác giả từ SaìGòn .
. Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvwietart.com