CÔNG NĂNG TU TẬP





Bàn đến việc Tu Phật là phải bàn đến Công Năng Tu Tập, bởi vì người tu sẽ nhờ vào những việc làm này mà đạt kết quả. Chính vì vậy mà trước khi “hạ thủ công phu” người tu không thể không biết rõ một số việc:

              l/- Mình muốn thành tựu điều gì?
             2/- Phải làm những gì?
             3/- Làm như thế nào?

Lẽ ra trước khi phát tâm “đi tu”, người muốn tu Phật cần phải xác định lại mục đích cho rõ ràng. Bắt đầu từ nghĩa của “Tu Phật”.

Phải chăng ai cũng biết TU có nghĩa là SỬA. PHẬT, không phải là Ông Phật, mà là Giải Thoát, vì Đạo Phật được gọi là Đạo Giải Thoát. Chân Lý mà Đức Thích Ca khám phá ra là “Chân Lý Giải Thoát”? Như vậy “đi tu” tức là muốn rời bỏ những vướng mắc, hệ lụy của trần gian, đi tìm một nơi có hoàn cảnh yên ổn để toàn tâm toàn ý cho việc Tu Tập. TU PHẬT là sửa chữa những Mê Lầm để được “thành Phật”, thực hiện lời Thọ Ký: “Chúng Sinh là Phật sẽ thành”.

Nhưng biết phải bắt đầu từ đâu? Sẽ tìm ai để hướng dẫn?

Nếu điều đó làm cho ta hoang mang tại sao ta lại không đối chiếu với việc Phát tâm – Tu Hành – Đắc Đạo của người khai sáng ra Đạo Phật? Vì ta phát tâm tu hành là để đi theo con đường của Đức Thích Ca đã đi. Làm theo những việc Ngài đã làm?

Người mới vào tu đương nhiên buộc phải tìm một người Thầy mà mình tin tưởng về Đạo đức, về kết quả mà vị đó sẽ hướng dẫn cho ta đạt đến, vì Kinh Viên Giác có dạy: “Này Thiện Nam! Có loại Chúng sanh có thể chứng được Viên Giác. Song, nếu chúng gặp Thiện tri Thức là Thinh Văn hóa độ thì sẽ chúng thành Tiểu Thừa. Còn gặp Thiện Tri Thức là Bồ Tát hóa độ, thì chúng thành Đại thừa. Nếu gặp Như Lai dạy tu đạo Vô Thượng Bồ Đề, thì chứng thành Phật Thừa”. (VIÊN GIÁC tr. 79).
Nhưng làm sao gặp được Phật xuất thế để mà học hỏi? Chẳng lẽ phát tâm tu hành tới đây phải bế tắc? May quá, chúng ta cũng không hẳn hoàn toàn tuyệt vọng, vì những gì ngày xưa Đức Thích Ca giảng dạy trong 49 năm được chư Đại đệ Tử kết tập thành 12 Bộ Kinh, ta có thể nương theo đó.

Chính Kinh thì ai cũng nghe nói là có 12 Bộ. Nhưng những sách luận, giải đến nay thì vô số, vì thời nào cũng có vị lấy một quyển Kinh hay vài phẩm nào đó để luận, bàn, thêm thắt vào đó những hiểu biết của mình, rồi có điều kiện thì phát hành. Vị nào thì tuổi đạo cũng cao, địa vị cũng lớn và uy tín thì lẫy lừng! Nếu chúng ta thấy là đọc chính Kinh khó hiểu, đọc những sách Luận, Giải dễ hiểu hơn, vô tình bị nhiễm cái hiểu của người khác, trong khi người mới vào tu học thì trình độ giới hạn, làm sao phân biệt vị nào diễn tả đúng với ý của chính Kinh, vị nào không diễn tả đúng? Vì vậy, cần phải hết sức thận trong, vì Một trong TỨ Y mà Phật dặn dò là: Y NGHĨA bất Y NGỮ. Bởi “Y KINH GIẢI NGHĨA, TAM THẾ PHẬT OAN”! Có nghĩa là nếu cứ dựa theo CHỮ trong Kinh mà giải, không tìm được cái NGHĨA cần hiểu, là làm oan cho Phật quá khư, Phật hiện tại và Phật vị lai! Do đó, tốt hơn hết là buổi đầu chúng ta nên đọc Pháp Bảo Đàn Kinh, vì đó là lời giảng dạy của Lục Tổ HUỆ NĂNG là người được chính thức truyền Y Bát thì bảo đảm không sai với Chánh Pháp và cũng phần nào dễ hiểu hơn nhiều Kinh khác, vì gần với thời của chúng ta hơn.

Mặt khác, chúng ta đều nghe Chư Tổ dạy: “Tu Phật là Tu Tâm”. Tổ Đạt Ma khẳng định: “Muốn cầu Phật thà cầu Tâm. Chỉ Tâm Tâm Tâm ấy tức là Phật”. “Lìa Tâm không Phật. Lìa Phật không Tâm” “Tâm tức là Phật. Phật tức là Tâm. Ngoài Tâm không Phật. Ngoài Phật không Tâm”. Trong Pháp Bảo Đàn Kinh thì Ngũ Tổ khẳng định: “Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích”. Tất cả những lời đó xác định cho chúng ta vị trí để Tìm Phật, để tu hành, để lập công phu.
Từ căn bản “Tu Phật là Tu Tâm”, bắt buộc ta phải Biết Tâm là gì? Ở đâu? Phải Tu nó như thế nào?

Tất nhiên, muốn Thấy, muốn Biết cái gì đó thì phải Tìm. Việc tìm Tâm cũng không ngoại lệ. Nhưng ta còn đang nhiều động loạn, đâu phải muốn tìm hiểu con đường tu thì dễ dàng. Chính vì vậy ta lại gặp điều kiện tiên quyết cho người tu hành trong Kinh Lăng Nghiêm: Phải có GIỚI. Nhân GIỚI mới có ĐỊNH. Nhân ĐỊNH Tâm phát HUỆ.
Nhưng đâu phải ai có GIỚI cũng đều có Huệ? Vì Giới không tự nhiên sinh ra Huệ, mà Huệ có được là nhờ Quán Sát, Tư Duy. Kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN viết: “Này Thiện Nam Tử! Tất cả pháp lành đều do Tư Duy mà được. Vì có người dầu trải qua vô lượng vô biên vô số kiếp chuyên tâm thính pháp, nếu chẳng Tư Duy thời trọn không thể được Vô Thượng Bồ Đề. Đây cũng là do tư duy mà được gần Đại Niết Bàn” Như vậy, nhờ nương Kinh mà chúng ta nghiệm ra một điều: Người thiếu Tư Duy và Quán Sát thì không thể sinh ra Trí Huệ.
Nhưng tại sao nhiều người cũng Quán sát, Tư Duy, mà cũng không có Huệ? Điều đó rất dễ hiểu theo Nhân Quả: Ta Quán Sát, Tư Duy cái gì thì kết quả sẽ là sự hiểu biết về lãnh vực đó. Các nhà khoa học cũng quán sát rất kỹ, rất chi ly. Nhưng đề tài của họ thuộc lãnh vực khoa học thì làm sao đắc đạo? Ta cũng quán sát Vô Thường, nhưng cứ xót xa cho mây trôi, lá rụng, nước chảy, đá mòn, sao dời, vật đổi, con người nay hợp, mai tan... mà không quán sát chính bản thân của ta thì làm sao thấy được tác động của Vô Thường ngay trên bản thân mình để mà buông xả ? Và đã biết rằng Tu Phật chính là Tu Tâm sao không Quán sát, không tìm hiểu về Cái TÂM để Tu, để Sửa?

Nhưng Cái gì là Tâm? Ta gặp hỏi, đáp trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất:

             - Ngưoi hỏi ta, tức đó là Tâm ngươi.
             - Ta đáp ngươi, tức đó là Tâm ta.
             - Nếu ta không Tâm, nhân đâu mà giải đáp cho ngươi?
             - Nếu ngươi không Tâm, nhân đâu mà thưa hỏi ta?
             Từ vô số kiếp âm u đến nay, tất cả hành vi, động tác nào, bất cứ thời nào, nơi đâu, đều do nơi Bổn Tâm của ngươi, đều do nơi bổn Phật của ngươi. Nói Tâm là Phật thì cũng vậy đó


             (SCVĐTT. Tr.111-112).

Nhưng nếu Tâm là Phật, mà ai cũng có Tâm, lẽ ra mọi người đều phải là Phật. Tại sao chúng ta không phải là Phật?
Chúng ta là “Phật sẽ thành”, chính vì vậy mà cần phải có cái gọi “Công Năng tu tập” để chuyển từ ” Phật sẽ thành” trở thành “Phật đã thành”.
Nhưng phải Tu, Sửa cái TÂM như thế nào?

Muốn trả lời câu hỏi này thì chúng ta cần so sánh thế nào là Tâm của Phật và thế nào là Tâm của chúng sinh. Tâm của Phật được diễn tả trong Kinh là “Rỗng rang, thanh tịnh”, còn Tâm của chúng sinh thì ngổn ngang phiền não, đầy dẫy đố kỵ, hơn thua, cao, thấp, ghét thương, Tham lam, sân hận, si mê... Như vậy điều cần Tu, Sửa là loại bỏ những tạp chất đó.

Nhưng những điều đó được cho là tính cách của một con người. Nếu loại bỏ hết đi, chẳng lẽ trở thành vô tri vô giác, không còn xúc cảm, như tượng gỗ. Chẳng lẽ đó là Phật hay sao? Đó là cái hiểu sai của không ít người tu từ xưa đến nay. Người tu theo Đạo Phật được dạy trừ Tam Tâm, tức là trừ Tâm Tham, Tâm Sân, Tâm Si, không phải là trừ Tâm quá khứ, hiện tại, vị lai, và trừ luôn những tâm Từ, Bi, Hỉ, Xả! Dạy bỏ Vô Minh chớ không dạy bỏ luôn sự Phân Biệt! Dạy Điều Phục chớ không dạy Đoạn Diệt! Vì thế, những người hiểu lầm, nghe nói Xả, Bỏ là lập tức bỏ hết cả xấu, lẫn tốt, tất nhiên sẽ trở thành ngu ngơ như kẻ không hồn, rồi chẳng biết mình phải làm gì tiếp theo? Về đâu? Trong khi người tu cần phải có TRÍ HUỆ, là sự sáng suốt, phân biệt, để biết những gì cần làm, cần Xả. Nếu không phân biệt thì làm sao có thể Độ Sinh để biến trần lao thành Phật Quốc, chuyển Phàm thành Thánh, chuyển Mê thành Ngộ?

Việc tu hành chính là để cải tạo cái TÂM MÊ LẦM, là cái Tâm đã hiểu sai, chấp sai. Cái “không phải Ta”, mà cho là Ta. Tức là Nhận Lầm cái Thân Tứ Đại giả hợp, chỉ tồn tại chừng 100 năm, cho đó là Ta, rồi chiều theo Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý để tạo Nghiệp, rồi, khổ ,vui, sống, chết với nó.

Nhưng rõ ràng ăn là thấy no. Gai đâm lửa đốt thì thấy đau. Nắng mưa dầu dãi thì sinh bệnh. Ai thương ta thì ta thấy hài lòng, ghét ta thì ta đau khổ... Sao bảo rằng đó chẳng phải là Ta? Đạo Phật cho rằng Thân chỉ là đống Tứ Đại giả hợp mà ta phải nhận lấy để trả những cái Quả trong lúc Vô Minh Ta đã tạo ra. Vì thế, Ta không phải là nó, mà là phần linh hoạt đang ứng hiện ở trong nó, chỉ đi cùng với nó trong kiếp sống tạm này để Trả Nghiệp mà thôi. Nghiệp này có thể tốt. Nếu ta đã làm toàn điều tốt, và ngược lại. Có khi có cả tốt lẫn xấu. Cái THÂN chỉ là món mà Ta sở hữu có thời hạn. Hết Duyên, Nghiệp nó lại ra đi. Nhưng vì mọi người không biết, tưởng đó là Ta, nên trong thời gian sống trong nó, lại vì nó mà tạo thêm Nghiệp mới. Cứ thế mà hết Sinh, lại Tử, rồi lại Luân Hồi để trả nợ tiếp. Chính vì thế mà người muốn tu theo Đạo Giải Thoát của Đức Thích Ca cần phải TƯ DUY, QUÁN SÁT để tìm ra CÁI THẬT MÌNH hay còn gọi là BỔN LAI DIỆN MỤC. Gặp được chính mình rồi thì sẽ không để cho cái Thân điều khiển Ta nữa, mà lấy lại vị trí chủ nhân, điều khiển nó theo ý mình. Không vùi dập nó, nhưng cũng không tôn trọng cưng chìu nó. Khi Sống thì không chìu theo xúc cảm của nó. Khi nó hết Duyên, hết Nghiệp mà Chết thì biết rằng nó ra đi, không phải là Mình Chết, nên không TỬ với nó. Nhờ vậy mà cuộc sống được an ổn, có kiếp sau cũng được tốt đẹp vì không tạo ác nghiệp. Đó là mục đích của Đạo Phật. Cũng chính vì vậy mà Đạo Phật được gọi là Đạo “Độ Khổ”.
Muốn thực hành được như vậy, người tu hành bắt buộc phải qua giai đoạn gọi là THẤY TÁNH để phân rõ giữa TÁNH và TƯỚNG, giữa CHÂN và GIẢ rồi “phản Vọng, quy Chân”. Việc làm đó gọi là Công Năng Tu Tập.

Công Năng đó gồm những gì? Phải chăng là Ngồi Thiền, Tụng Kinh, Niệm Phật, giảng pháp, như những gì mọi người vẫn làm?
Ai cũng biết Đức Thích Ca đã dùng thời gian NGỒI THIỀN để Đắc Đạo. Vì vậy, nếu ta Ngồi Thiền hoài mà không thấy đắc đạo thì nên coi lại cách Ngồi của mình. Vì Tướng Ngồi thì ai cũng biết, cũng làm được. Nhưng Ngồi như thế nào để đắc đạo thì đó mới là cách Ngồi đúng. Tuy nhiên, nếu đã hiểu rõ thế nào là THIỀN ĐỊNH thì cũng thấy là việc Thấy Tánh không liên quan đến Ngồi hay không Ngồi, vì Lục Tổ Huệ Năng chỉ có chẻ củi, giả gạo, không hề Ngồi Thiền mà vẫn được đạo. Tiếp theo là Tụng Kinh, Niệm Phật. Hầu như chùa nào, người tu nào cũng lấy việc tụng Kinh, Niệm Phật làm công phu tu hành. Nhưng rõ ràng Đức Thích Ca và Chư Tổ không hề Tụng kinh, không hề Niệm Phật mà vẫn thành đạo!

Việc đọc, tụng Kinh thật ra được bày ra từ trong Kinh DIỆU PHÁP LIÊN HOA. Nhưng là cả nguyên một chuỗi việc: “Thọ, trì, đọc, tụng, giảng nói, biên chép, y pháp tu hành”. Có nghĩa là lấy một quyển Kinh, rồi đọc tới đọc lui, giải nghĩa, biên chép cho tới khi hiểu được nghĩa rồi “Y theo đó mà tu hành”. Thế nhưng, từ bao giờ ai đó đã ngắt bớt những phần sau, chỉ còn lại tụng niệm và giảng nói Kinh, không còn ‘Y PHÁP TU HÀNH” nữa! Do đó, từ thời Tổ Đạt Ma đã thấy Ngài nhắc nhở trong Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất:

             - “Nếu không thấu rõ được tự Tâm thì đọc tụng kinh sách gì cũng chỉ là hư văn, không dùng vào đâu được” (118).

             - “Ngoại đạo không lãnh hội được ý Phật, dụng công nhiều quá, trái với thánh ý. Suốt ngày lững đững niệm Phật, chuyển Kinh làm cho thần tánh mê mờ, chẳng khỏi luân hồi”.

             - “Nếu thấy được Tánh mình thì chẵng cần đọc Kinh, niệm Phật”.

             - “Chỉ những người không Thấy tánh mới khư khư lo tụng Kinh niệm Phật, tinh tiến học hoài, đêm ngày hành đạo, ngồi mãi không nằm (Thiền), học rộng nghe nhiều, lấy đó làm pháp Phật. Đó là hạng người báng Phật, chê Pháp. (126-127)
.

Tổ Huệ Năng cũng dạy: “Miệng tụng mà Tâm làm theo nghĩa Kinh tức là mình chuyển Kinh. Miệng tụng mà Tâm chẳng làm theo nghĩa Kinh tức là mình bị Kinh chuyển”.

Hành trình tu tập đòi hỏi phải Biết, phải Phân Biệt, phải Quán Sát, Tư Duy, sau đó đưa vào thực hành. Kinh được ví như bản đồ, như hải đăng để soi đường cho chúng ta khi các vị Giác Ngộ không còn hiện diện. Vì vậy, nếu chúng ta cứ lấy đó tụng ê a theo chuông, mõ thì đâu có lợi lạc gì. Vì tụng, niệm mà không hiểu nghĩa lý cũng như không có đọc Kinh! Thay vào đó, chúng ta đọc thật kỹ để đối chiếu những gì Phật dạy trong Kinh với những gì ta đang hành, đang hiểu, xem có khế hợp hay không, để yên tâm mà tiếp tục. Công Năng là những việc làm cụ thể, phải đưa đến kết quả rõ ràng. Thí dụ như chúng ta biết trong Đạo Phật có một số cặp từ: Vô Minh, Minh - Mê, Ngộ - Thánh, Phàm - Phật, Chúng Sinh - Địa Ngục, Niết Bàn - Phước Đức, Công Đức… Chúng ta cần phân biệt cho rõ: hành dụng như thế nào là ở phía bên này? Thế nào là phía bên kia? Rồi cũng phải biết cách để chuyển từ Mê thành Ngộ. Từ Phàm sang Thánh. Từ Chúng Sinh sang Phật. Từ Phiền Não trở thành An ổn. Tất cả đều hướng về cái Tâm mà hành trì, gọi là Xả cái Tâm. Chính vì vậy nên Tổ Đạt Ma nói Kệ:

              “Bao giờ học Tâm thôi
             Viên thành tướng chân thật.
             Chợt rõ bỏ ý tu”

Dù đã Xuất gia, giữ Giới, chay lạt, Ngồi Thiền miên mật. Nhưng nếu chưa hành đúng thì cũng không thể có kết quả đúng. Bởi chưa tìm Đạo làm sao Đắc Đạo? Chưa biết Tâm là gì, chưa tìm Tâm làm sao thấy Tâm? Chưa tìm Phật làm sao gặp Phật?

Để kết thúc, xin mượn đoạn Kinh LĂNG NGHIÊM: “Anan, ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ các nghĩa lý nhiệm mầu của Như lai, nhưng không bằng một ngày tu nghiệp vô lậu, xa lìa hai cái khổ Thương, Ghét ở thế gian”. (tr.139).

Nhiều kiếp ghi nhớ nghĩa lý còn không ăn thua, huống chi là ta không biết Tâm là gi? Phật là gì? Cũng chẳng biết Kinh dạy gì trong đó, chỉ ngày ngày mang ra tụng, niệm, trầm, bỗng, nhịp nhàng theo chuông mõ lấy đó làm công phu! Rồi Ngồi Thiền mà không biết Đức Thích Ca đã NGỒI thế nào để “đắc đạo” qua Thiền. Chỉ ngồi cho lâu. Ngồi cho nhiều thời. Trong lúc Ngồi để đầu óc trống rỗng. Xem cái bụng phồng, xẹp… hay chỉ để… đếm hơi thở! NHÂN nào thì QUẢ nấy. Chẳng trách vì sao thời nay quá nhiều người tu mà không thấy có người đắc đạo vậy!


______________________________________________

(6/2010)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 03.01.2011 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .