NHỮNG SUY NGHĨ VẨN VƠ



Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT


LƯƠNG TÂM

Nói tới bộ phận này hay bộ phận kia theo cách khảo tả, là nói tới những vật hữu hình. Còn khi nói tới lương tâm thì chúng ta bước sang lãnh vực siêu hình rồi, nhưng vẫn phải nói dù chẳng ai thấy hình hài nó thế nào, mổ xác ra cũng không thấy nó nằm ở đâu. Nhưng có điều chắc 100% là nó vẫn hằng có mặt trong mỗi con người và đeo bám riết lấy con người đó cho tới khi trút hơi thở cuối cùng!

Lương tâm được định nghĩa là "nhận thức nội tâm của lẽ phải" - VD: lương tâm thầy thuốc; lương tâm cắn rứt (Đại Từ Điển Tiếng Việt, 1999). Lương tâm gắn liền với cái tôi và đồng thời với ngôi vị. Nhưng cũng như trí khôn, phải đến một độ tuổi nào đó khi thân thể đã hoàn chỉnh hơn, nó mới phát huy dần dần những hoạt động của nó. Bình thường xã hội ấn định 7 tuổi là bắt đầu có trí khôn, thì cũng bắt đầu có lương tâm. Trí khôn và lương tâm tương tác với nhau, có mặt bên nhau như hình với bóng. Có trí khôn thì mới có lương tâm, mất trí khôn (mất ở đây không phải đánh rơi đi đâu mà là không có khả năng duy trì, dùng trí khôn, dù vẫn có đấy) thì cũng mất lương tâm.

Chức năng của lương tâm: lương tâm đóng vai trò như một quan tòa trong ta. Xưa nay thiên hạ vẫn nói "tòa án lương tâm": mỗi khi ta làm 1 điều tốt đẹp, lương tâm khen thưởng ta, cho ta một niềm vui khôn tả. Mỗi khi ta làm 1 điều xấu, không hợp lẽ phải, lương tâm trách cứ ta, tố cáo ta và phạt ta bằng một nỗi buồn dai dẳng "lương tâm cắn rứt", sự ray rứt này có khi đeo bám ta suốt đời, mỗi lần nhớ lại thì lại là một lần đau đớn, ân hận trong lòng, cho tới khi " đền trả sòng phẳng" thì lương tâm mới yên.

Ai cũng cảm nhận rằng lương tâm là của mình, ở trong mình, nhưng dường như không hoàn toàn thuộc về mình mà thuộc về một ai khác, lương tâm như sứ giả của Đấng Tối Cao ở với mình, vì nó không a tòng, đồng phạm với mình trong những điều sai trái (dù ta luôn ép nó đồng tình với ta), cho nên đạo Công giáo thì tin rằng "lương tâm là tiếng nói của Thiên Chúa trong mỗi người chúng ta".

Khoảng năm 1965 tại quận I, Sài Gòn xưa - Tp. Hồ Chí Minh ngày nay, xảy ra một vụ trọng án, báo chí đăng tải sôi nổi: Tô Văn Giàu, buôn bán kim cương với bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, 2 bên mua qua bán lại với nhau lâu năm, quen biết như người nhà. Một hôm bà Ánh Nguyệt mất tích, Tô Văn Giàu bị nghi có dính líu, cảnh sát khám nhà Tô Văn Giàu 3 lần không phát hiện dấu hiệu nào khả nghi, sau đó Giàu cũng sang Cao Mên qua ngã Gò Dầu - vụ án chìm một thời gian, sau đó con gái bà Nguyệt vẫn quả quyết xác mẹ cô vẫn còn ở nhà anh Giàu, cảnh sát khám kỹ lại và phát hiện bà bị đập vào đầu bằng một cây gỗ vuông, xác vùi bên hông hầm trú ẩn sâu 2m ở dưới nền nhà. Hầm này được xây cẩn thận và lót gạch bông như một bể tắm (hồi đó dân Sài Gòn hầu như nhà nào cũng phải có hầm tránh pháo kích). Lúc này Giàu đang ở Nam Vang nên cảnh sát không làm gì được, cuộc điều tra kể như chấm dứt thì bỗng đâu Tô Văn Giàu trở lại Việt Nam và đã tới đầu thú tại đồn cảnh sát quận I. Anh đã thú nhận tội giết người, cướp của (vì mẻ hột xoàn hôm ấy rất lớn), anh cũng cho biết lý do trở về là vì lương tâm cắn rứt, dằn vặt, đòi anh phải trả giá sòng phẳng. Cuối cùng trong trại biệt giam chờ ngày xét xử (cầm chắc án tử hình), Tô Văn Giàu đã xé quần áo làm giây treo cổ tự vẫn. Thế là vụ án được khép lại vì phạm nhân đã chết.

Câu chuyện này người viết theo dõi từ đầu tới cuối qua báo chí, ai cũng thắc mắc: nếu hắn ở luôn bên Cao Mên thì số tiền hắn mang qua cũng dư một đời sung túc, tại sao lại về đầu thú khi đã thoát vòng pháp luật? Thưa rằng dù thoát luật quốc gia nhưng không thoát luật lương tâm.

Một trường hợp nữa của lương tâm: "Lời xin lỗi sau hơn 3 thập niên" - Một nhân viên của Sở Giao thông Vận tải ở bang Utah (Mỹ) cho biết vừa nhận được một bức thư xin lỗi lạ lùng nhất từ trước tới nay. Nội dung bức thư đề cập đến một việc làm xốc nổi do một người đàn ông thực hiện cách đây đã 35 năm. Chủ nhân của bức thư, ông Easton giải thích rằng hơn 30 năm trước vì tuổi trẻ bồng bột, ông đã lấy cắp biển báo Stop trên một con đường ở vùng ngoại ô Salt Lake nên giờ đây cảm thấy hối hận vô cùng. Hãng AP thuật lại, ông Easton đã nhiều lần liên lạc với bộ phận quản lý cung đường ấy nhưng họ nói không sao. Tuy nhiên, ông vẫn không tha thứ cho mình nên đã gửi kèm theo bức thư xin lỗi một tấm séc trị giá 600 USD với mong muốn các nhà chức trách cho dựng lại 3 tấm biển báo Stop trên đoạn đường ấy.

(C. Nhung - Báo Thanh Niên 13/07/2009)

Tác phẩm "Tội Ác và Trừng Phạt" (1866), tiểu thuyết nổi tiếng của đại văn hào Nga: Fiodor Mikhailovitch Dostoievski (1821-1881), là một câu chuyện dài lý giải lương tâm:

Raxcônhicốp, nhân vật chính là một sinh viên luật đang học tại thủ đô Pêtecbua, vốn xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo không đủ tiền cho anh ăn học, quá khó khăn, chật vật, anh đành bỏ học. Do đời sống quá thiếu thốn lại tiêm nhiễm thứ triết lý người hùng muốn ra tay san bằng bất công xã hội, anh đến nhà mụ cầm đồ Alêna giàu có, lấy búa bổ vỡ sọ mụ, cướp tiền, vàng bạc, châu báu, vừa ôm ra cửa, gặp ngay bà Êlidabet, em gái mụ cầm đồ, hoảng quá, anh giết luôn mụ này kéo xác vào nhà, phi tang rồi ôm của trốn đi, anh giấu toàn bộ của cướp được dưới một tảng đá, không xài một đồng nào dù anh không còn một xu dính túi. Sau vụ giết người khủng khiếp ấy, dù chưa bị khám phá và truy nã nhưng lương tâm Raxcônhicốp bị giày vò triền miên, anh như người mất hồn, ăn không ngon, ngủ không yên, tâm thần hoảng loạn, đêm nằm mê sảng vật vã, toàn nghe thấy tiếng nguyền rủa "tên sát nhân". Ngày qua ngày anh cứ lang thang, uống rượu giải khuây, tình cờ trong một quán rượu, anh nói chuyện thân mật với một bác công nhân già nát rượu Macmêlađốp, bác tâm sự với anh về cảnh thất nghiệp, nghèo đói và về đứa con gái lớn yêu quý của ông là Xônhia, phải bán thân lấy tiền giúp bác nuôi đàn con nhỏ và người vợ kế trong cảnh đói rách bệnh tật… Một hôm đang khi lang thang ngoài phố, Raxcônhicốp nhận ra bác công nhân Macmêlađốp say rượu bị xe ngựa cán ngã lăn ra đường bất tỉnh, anh vội vàng cõng bác về nhà rồi bác qua đời, anh đã đứng ra lo ma chay cho gia đình Xônhia, Xônhia cảm phục và ngày càng gắn bó, yêu anh tha thiết. Raxcônhicốp hạnh phúc trong tình yêu nhưng ngày đêm anh vẫn canh cánh trong lòng nỗi ray rứt lương tâm, cuối cùng anh đã phải thú nhận với Xônhia rằng anh ta đã giết người cướp của. Với anh bây giờ, hình phạt lớn nhất không phải là tù đày, khổ sai mà là nỗi nhức nhối dai dẳng, sự dày vò lương tâm bởi anh đã giết chết nhân phẩm của mình và cắt đứt quan hệ với bao người thân yêu khác. Xônhia rất thông cảm với anh, rất yêu yêu anh đã khuyên anh nên đầu thú, can đảm chấp nhận hình phạt, chỉ có thế tâm hồn anh mới được bình an. Sau 9 tháng dằn vặt, một buổi sáng anh đến tòa án tự thú: "Tôi đã phạm tội giết mụ cầm đồ và em gái mụ để cướp của". Cuối cùng sau khi điều tra, quan tòa cho rằng anh có vấn đề tâm thần, bị kích động đột xuất nên được miễn án tử hình, chỉ bị đi đày 8 năm tại Xibia. Xônhia người con gái đau khổ với trái tim tràn ngập bác ái của Chúa tự nguyện gắn bó mãi mãi với anh dù ở cùng trời cuối đất, sẵn sàng chờ đợi anh trở về (chuyện đã dựng thành phim, và trong phim cảm động nhất là cảnh chia ly, giữa Raxcônhicốp và Xônhia, hai người ôm nhau thật lâu, chẳng nói lời nào, chỉ có nước mắt, anh cổ mang gông, chân mang xiềng trông thật thảm thương. Cuối cùng giờ ly biệt đến, Xônhia đã bất ngờ tháo dây chuyền có thập giá Chúa đeo vào cổ Raxcônhicốp như một lời nhắn gửi rằng: Anh hãy mang lấy thập giá Chúa và Thập giá sẽ là hành trang ủi an, nâng đỡ quãng đời lưu đày của anh). "Tội ác và Trừng phạt" là cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh và hay nhất của toàn bộ hệ thống tác phẩm của Dostoievski, là một tác phẩm bi thảm nhất của nền văn học nhân loại… tác phẩm còn là một lời tố cáo mãnh liệt lớp người giàu có, quyền thế vô nhân đạo…

(Nguyễn Trường Lịch trong Từ Điển Văn Học - Hà Nội 1983, trang 409-410)

Có một chuyện "tếu" chẳng biết có thật hay không, nhưng cũng nói lên một sự thật đó là lương tâm luôn có mặt: người chồng bệnh nặng gần chết, gọi vợ lại nhẹ nhàng hỏi:

- Em biết đấy, anh sắp ra đi rồi, mấy chục năm mình sống với nhau không một lần cãi vã, nhưng có một điều anh cứ áy náy không yên, bây giờ chẳng còn gì giấu giếm nhau, cho anh hỏi thật em một điều.

- Anh yêu, lời anh làm em đau đớn quá, làm gì được để anh thanh thản em sẽ làm.

- Vậy em trả lời thật cho anh: thằng út nhà mình là con của ai?

- Em cũng rất khổ tâm, mong có cơ hội thú thật với anh.

- Em nói mau đi, giờ này thì chẳng còn gì phải ngại ngùng cả, anh rất sẵn sàng nghe.

- Anh đã rộng lượng thì em cũng xin thưa thật với anh, thằng út và chỉ có mình thằng út là con của anh thôi.

Vừa nghe hết câu nói của vợ, anh chồng nấc lên một tiếng rồi tắt thở. Người vợ đau đớn về cái chết của chồng nhưng cũng thanh thản trong lương tâm vì đã nói ra được sự thật nặng nề bấy lây nay.

Chương trình truyền hình ngày 23/7/2009 có mẩu tin cùng hình ảnh anh chàng Naaman Dealer dùng một xe tải che chắn làm thang để leo lên cửa sổ Bảo tàng Giêrusalem, dùng xà beng bẩy song sắt và chui vô lấy cắp 160 chiếc đồng hồ quý giá, trong đó có cả chiếc đồng hồ của hoàng hậu Antoinnette của nước Pháp đã bị chém đầu trong cuộc cách mạng 1789. Vụ trộm đã trót lọt và chính quyền Israel cũng bó tay kể từ năm 1983. Đến năm 2004, khi Dealer sắp qua đời tại Mỹ, anh mới thú với vợ về vụ trộm đó, và lập tức cảnh sát Israel đã tiến hành thu hồi cổ vật nhưng không thể truy tố tội phạm, vì Dealer đã chết và chết tại Mỹ, ngoài nước Israel. Điều gì khiến Dealer phải thú nhận sau khi đã ém nhẹm được 31 năm? Dó là vấn đề lương tâm. Anh cần trút gánh nặng lương tâm trước khi chết để được thanh thản ra đi.

Ai tạo ra lương tâm? Với kinh nghiệm bản thân, không ai có thể chối cãi sự hiện diện của lương tâm nơi bản thân mình. Vấn đề là lương tâm bởi đâu mà có?

Có phải chính mình tạo ra không? Hoàn toàn không, lương tâm vô hình, vô dạng, vô thanh, vô xú, làm sao tự mình tạo ra được? Nếu có ai dám bảo tự mình tạo ra lương tâm thì cho biết đã tạo bằng chất liệu gì và vào lúc nào? Nếu mình tự tạo ra thì phải tạo ra cái gì ủng hộ mình, ai lại tạo ra cái có thể phản đối mình, làm khổ mình, không bao che, xí xóa cho lỗi lầm của mình. Có phải do bố mẹ tạo ra bằng cách chia sẻ một phần lương tâm của bố mẹ như chuyện cấu tạo về thể xác ấy? Hoàn toàn không, vì lương tâm của mỗi người tuyệt đối độc lập, chẳng ai giống ai, chỉ cảm nghiệm niềm vui cũng như nỗi ray rứt nơi mình chứ không cảm nghiệm được niềm vui, nỗi khổ của người khác (cùng lắm ta chỉ phỏng đoán theo những dấu hiệu bên ngoài để rồi "suy bụng ta ra bụng người" mà thôi), người xưa vẫn nói "cha sinh con trời sinh tính", "bá nhân bá tính", chẳng ai giống ai, chẳng ai biết rõ tâm hồn người khác (kể cả giữa vợ chồng, cha con, mẹ con) như tâm hồn mình. Ca dao có câu "sông sâu còn có kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng".

Có phải do xã hội tạo ra không?

Cũng không phải, vì xã hội loài người nhiều hình thức, nhiều thể chế khác nhau, không thể tạo ra một cái phổ quat là lương tâm cho mọi người, mọi thời được (chỉ có thể ảnh hưởng phần nào do hệ thống luật mang tính đại chúng. Ví dụ: Thuở xa xưa xã hội nào cũng đa thê, nên chuyện năm thê, bẩy thiếp là chuyện thường tình).

THẦN HỌC LUÂN LÝ VỀ LƯƠNG TÂM

Lương tâm được coi như tiếng nói của Chúa trong lòng mỗi người, là luật tự nhiên dành cho mỗi người chẳng cứ có tôn giáo hay không.

Có những nguyên tắc cơ bản về việc sử dụng lương tâm:

1. Trong trường hợp khần cấp không thể tham khảo được thì tuyệt đối phải nghe theo tiếng lương tâm (dù sự việc có sai thì trước mặt Chúa đương sự cũng vô tội).

2. Trường hợp có nghi ngờ tốt hay xấu mà có thời gian thì phài hỏi những người khôn ngoan, uy tín, trước khi quyết định (cha mẹ, ông bà, thầy cô, Linh mục, tu sĩ…).

3. Mỗi ngườicó bổn phận học hỏi luật pháp (luật đời, luật đạo, luật tự nhiên, luật Chúa, luật Giáo hội) để trau dồi lương tâm, luyện cho mình một lương tâm ngay chính, là lương tâm lúc nào cũng chọn lựa phù hợp với luật tối thượng của Chúa. Làm biếng không chịu nghiên cứu học hỏi để rồi quyết định sai (mà cứ bảo theo lương tâm) thì phải chịu trách nhiệm.

4. Có nhiều loại lương tâm:

a. Lương tâm ngặt (chuyện không đáng gì cũng cho là rất trầm trọng).

b. Lương tâm rộng hay tháo thứ (chuyện nghiêm trong lại coi là chẳng đáng gì).

c. Lương tâm bối rối (không phân biêt được cái nào đúng, cái nào sai, nên dùng dằng không quyết định được điều gì).

d. Lương tâm chai lì (do thói quen sống trong tội lỗi, thói quen làm điều ác nên vô cảm đối với sự thiện, có nhận ra mình làm sai cũng không đủ can đảm để "ân hận", lúc nào cũng sẵn sàng bỏ qua cho các hành động sai trái của mình dù vẫn nhận biết là sai).

e. Lương tâm sai lạc hay lương tâm đại chúng, do những luật lệ không chính đáng nhưng do đa số đã quyết định vấn đề thành hợp pháp. Ví dụ: tại một số nước, Quốc hội đa số bỏ phiếu chấp nhận mãi dâm là một nghề hơp pháp, chấp nhận phá thai, chấp nhận hôn nhân đồng tính, chấp nhận nghiên cứu tế bào gốc, chấp nhận an tử… hoặc một sự tiêu cực mà phần đông dân chúng thường xuyên vi phạm như không trung thực trong quảng cáo, trong thi cử hay trong đời sống: nói dối để gia đình khỏi xào xáo, nói dối để bệnh nhân không hoảng loạn… người dân trong vùng ảnh hưởng này không thấy áy náy vì pháp luật không cấm, quần chúng cũng hành xử như vậy, riết rồi một cá nhân nào đó với lương tâm không nhạy bén cũng làm theo và thấy không có vấn đề gì cả "người ta sao tôi vậy", đó là lập luận của họ.

Thực ra chỉ có lương tâm nào được luật của Chúa hướng dẫn mới thực là lương tâm ngay chính. Luật của xã hội chỉ tương đối thôi, vì mỗi nơi mỗi khác. Ngạn ngữ La tinh có câu: "Bên này dẫy Pirênê là chân lý thì bên kia là sai lầm", thật vật, ví dụ ở Việt Nam lấy vợ hai là vi phạm luật hôn nhân và gia đình, là sai lương tâm, nhưng ở những nước Hồi giáo được lấy hợp pháp 4 vợ, ai đúng ai sai đây? Do đó đi tới kết luận là chỉ lương tâm nào có những lựa chọn, quyết định hợp luật của Chúa thì mới gọi là lương tâm ngay chính. Luật nào của xã hội mà trái với luật của Chúa thì người có lương tâm ngay chính không được áp dụng.

Những số đông nào đã ban hành những luật trái luật Chúa, để làm cho nhiều người sai lạc sẽ phải chịu trách nhiệm trước Đấng Tối Cao - Chỉ có lương tâm ngay chính mới là tiếng nói đích thực của Chúa.


____________________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 13.12.2010.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.