Quốc sư Vạn Hạnh
Nhà Thiết Kế Khai Sinh Triều Đại nhà Lý



Lịch sử Việt Nam tập 1, NXB Khoa học xã hội - Hà Nội năm 1971 khi nói về Triều Lý được thành lập đã cho biết, vào cuối đời Tiền Lê (Lê Hoàn tức Lê Đại Hành), vua Lê lúc đó là Lê Long Đĩnh tỏ ra là một người hung tàn, bạo ngược, không đủ tư cách và năng lực cầm đầu chính quyền. Những hành động dã man của nhà vua trong việc đàn áp nhân dân và ngược đãi các nhà sư cùng với đời sống hoang dâm trụy lạc của y làm cho lòng người vô cùng oán giận. Vì vậy, sau khi Lê Long Đĩnh chết (năm 1009) triều đình đưa một người thuộc dòng họ khác là Lý Công Uẩn lên làm vua, lập ra triều Lý (1009 - 1225) trong lúc ông đang giữ chức Điện tiền Chỉ huy sứ là chức võ tướng cao cấp chỉ huy quân hầu cận của triều đình nhà Lê. Ông là người có uy tín, tri thức và thế lực trong triều, đồng thời là người thân cận của giới Phật giáo. Vì vậy, các quan lại trong triều và một số nhà sư đã ủng hộ và suy tôn ông lên làm vua (tức Lý Thái Tổ).

Từ khi Phật giáo du nhập vào nước ta khoảng giữa thế kỷ thứ II cho tới năm ấy, các tu sĩ Phật giáo mới chính thức can thiệp sâu vào việc triều chính. Các triều đại trước như Ngô, Đinh, Lê (Tiền Lê) vai trò của các nhà sư có phần nổi trội nhưng chưa tham gia vào các cuộc phế lập triều đại. Lên ngôi năm 968, tới năm 971 vua Đinh Tiên Hoàng mới định giai cấp cho tăng sĩ và ban chức Tăng Thống cho Ngô Chân Lưu của thiền phái Võ Ngôn Thông và cho ông hiệu Khuông Việt Thái sư (Khuông Việt có nghĩa giúp nước Việt), chính thức nhận Phật giáo làm nguyên tắc chỉ đạo tâm linh cho chính sự. Cũng chính trong thế kỷ này vua Lê Đại Hành mời thiền sư Pháp Thuận và thiền sư Vạn Hạnh của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi làm cố vấn chính sự. (Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, Sài Gòn, 1974).

Riêng thiền sư Vạn Hạnh mặc dù giúp nhà Tiền Lê nhưng khi thấy tình trạng tệ lậu của đất nước do Lê Long Đĩnh tạo ra, thiền sư đã không ngần ngại ủng hộ Lý Công Uẩn trong việc chấm dứt chế độ dã man này. Con vua Lê Đại Hành là Lê Long Việt lên ngôi mới được ba ngày thì bị anh là Lê Long Đĩnh giết chết. Thiền sư Vạn Hạnh thấy bất nhẫn nên đã ôm xác Long Việt mà khóc. Ông đã nhìn thấy nguy cơ của triều đình nhà Tiền Lê nên bắt đầu nghĩ tới việc đưa Lý Công Uẩn lên nắm chính quyền.

Trong lịch sử nước ta, việc thay đổi một triều đại thường diễn ra nội bộ triều đình giữa họ này vói họ kia, khởi đầu bởi cái cũ quá xấu bị cái mới tiến bộ hơn phủ định, thường do một lực lượng làm trung gian tạo thế đòn bẩy, hoặc do phe này kình chống phái kia để tranh quyền đoạt lợi và mưu toan tranh bá đồ vương. Triều Ngô, Đinh, Lê đang là bài học kinh nghiệm nóng hổi tạo tiền đề cho Lý thay Lê không khó do một lực lượng trung gian có uy tín, đã xét thấy cần thay cũ đổi mới. Đó là thế lực của các nhà sư đang ở thế thượng phong, được các vua tiên đế trọng dụng mà thiền sư Vạn Hạnh là đại biểu. Nhưng có nhiều lý do khiến cho thiền sư triều Lý tham dự vào chính sự. Theo lý giải của Nguyễn Lang, tác giả "Việt Nam Phật giáo sử luận" (Sđd) thì các nhà sư tham gia chính sự mà không tham dự chính quyền bởi vì họ không nhận chức vụ quyền lực trong nội các, khi cần chỉ tới giúp ý kiến rồi về chùa. Lý do thứ nhất, họ là những người có học - trí thức, có ý thức về quốc gia, dân tộc, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của người dân đang bị cai trị bằng chính sách hà khắc bóc lột. Lý do thứ hai, họ không có ý tranh giành ngôi báu, không cần quyền bính và địa vị ngoài đời nên được mọi người tin họ. Lý do thứ ba, họ không khuôn sáo thực hiện "trung quân" một chiều để cứng nhắc "bất cộng nhị quân", họ biết sáng suốt thờ vua nào và từ chối ủng hộ vua nào để đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Lý do thứ tư, nhà vua cần tới tri thức của họ về nhiều mặt để trị quốc bình thiên hạ.

Những điều trên đã cho thấy họ hơn hẳn các nhà Nho. Nhân tài, hiền tài thuộc về tầng lớp trí thức có được là nhờ vào nền giáo dục quốc gia huống chi ở nước ta thời ấy chưa có nền giáo dục đúng nghĩa như dưới triều nhà Lý, nhà Trần mà chỉ dựa vào các đạo Khổng, đạo Lão và đạo Phật, trong đó đạo Khổng thì chỉ thịnh vào triều đại phong kiến sau này.

Cho nên qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê và dưới thời Bắc thuộc về trước dân trí được mở mang chỉ dựa vào các đạo mà đạo Phật lại hưng thịnh vào triều Lý, còn thời trước đó, các đạo đều chưa giúp cho nền giáo dục của đất nước đào tạo người tài đức. Do đó, các tu sĩ Phật giáo được xã hội trọng vọng, trong đó có các vua thuộc các triều đại trước. Huống hồ, lớp tăng sĩ Phật giáo lại nổi trội trong triều đình về mặt tri thức và đạo đức, lễ nghĩa và chính vì thế mà lực lượng nòng cốt cho sự thay vua đổi triều là các thiền sư. Ở đây, còn có yếu tố Lý Công Uẩn là con nuôi của nhà sư Lý Khánh Vân (hay Lý Tự Khanh) ở chùa Cổ Pháp, người vừa có học lại vừa có thân thế và quyền lực trong triều lúc bấy giờ. Đó còn là lý do khiến cho thiền sư Vạn Hạnh và các nhà sư thuộc cánh Phật giáo thời ấy ủng hộ cho sự thay đổi triều đại.

Mối quan hệ giữa thiền sư Vạn Hạnh và Lý Công Uẩn là quan hệ tình thầy trò. Thiền sư Vạn Hạnh họ Nguyễn, không rõ tên, người làng Cổ Pháp, 21 tuổi xuất gia, thọ giới nơi Lục Tổ Thiền Ông rồi tu ở chùa Lục Tổ, làng Đình Bảng, phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh, viên tịch năm 1018 (có tài liệu nói ông mất năm Thuận Thiên thứ 16 tức năm 1025) nhưng không rõ là thọ bao nhiêu tuổi (có tài liệu nói ông thọ 80 tuổi). Được biết ông thu nhận Lý Công Uẩn làm học trò vào năm Canh tuất 1010 lúc ông được 37 tuổi. Từ năm 982, ông được vua Lê Đại Hành trọng dụng để tham vấn về những việc lớn của đất nước như chống quân Tống, đánh Chiêm Thành (Champa). Ông tinh thông Tam giáo được nhân dân gọi theo pháp danh là Sư Vạn Hạnh. Sau khi lên ngôi vua Lý Thái Tổ trọng đãi phong ông là Quốc sư. Thiền sư Vạn Hạnh thọ giáo Phật pháp của phái Thiền tông dòng Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tu và đắc đạo tại chùa Tiêu. Là người thông minh đĩnh ngộ, ông không chỉ tu luyện theo giáo lý nhà Phật mà còn nghiên cứu sâu rộng am hiểu thời thế, có kiến thức về khoa học xã hội, khoa quản trị nhà nước của đạo Khổng. Hàng ngày ông dạy dỗ Lý Công Uẩn và nhận ra học trò của mình có thiên tư thông minh nên hết lòng rèn luyện nên người tài đức. Kịp lúc Lê Long Đĩnh sát hại em rồi qua đời, ông liền ủng hộ và vận động triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi. Lúc đó, trong nhân dân lưu truyền bài sấm mà người ta cho là của thiền sư Vạn Hạnh làm ra để cho thấy họ Lý lên thay họ Lê là hợp lòng trời:

"Cội Lê trầm Bắc thủy
Lý tử thụ Nam thiên
Tứ phương can qua tĩnh
Bát biếu hạ bình an".

Được dịch nghĩa:

Gốc Lê chìm biển Bắc
Chồi Lý mọc trời Nam
Bốn phương tan giáo mác
Tám cõi được bình an.

Đúng như lời thơ, năm 1009, Lý Công Uẩn lên ngôi vua lấy niên hiệu Thuận Thiên (Tuân theo ý trời hay Hợp lòng trời). Thấm nhuần Phật học, trông rộng nhìn xa và khắc sâu lời giảng dạy của Quốc sư Vạn Hạnh, vua Lý Thái Tổ quyết định dời kinh đô Hoa Lư ra thành Đại La đang nằm ở vị trí có ưu thế hợp với thuyết phong thủy và có nhiều vượng khí về sau ngày càng phát triển xứng đáng với tầm vóc của một kinh đô Đại Việt. Trước đó, vua đã tự thảo ra tờ Chiếu để hỏi ý kiến quần thần và Quốc Sư. Được sự đồng tâm nhất trí của cả triều đình và của cả nhân dân trăm họ, chỉ một năm sau khi lên ngôi, Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư vào mùa thu năm Canh Tuất (1010). Khi ra đến La Thành, vua cho là đã nhìn thấy rồng vàng hiện ra nên đổi tên thành Đại La ra thành Thăng Long (nay là thủ đô Hà Nội) mở đầu kỷ nguyên mới cho nước Đại Việt. Nội dung bài "Chiếu dời đô" được dịch ra tiếng Việt như sau:

Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.

Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.

Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

Chắc chắn việc dời đô và tờ Chiếu đều có tham mưu của Quốc Sư Vạn Hạnh. Như thế, chúng ta có thể nói rằng nếu không có Thiền sư Vạn Hạnh thì không có Lý Công Uẩn và triều đại nhà Lý, nhất là chắc gì lại có thành Thăng Long. Đó là chưa kể việc Lý Công Uẩn từ chùa Cổ Pháp (Bắc Ninh) được thầy của mình đưa vào kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) để phụ trách công tác bảo vệ vua và triều đình nhà Tiền Lê. Ông thật sự là nhà kiến trúc tạo tác nên bước đầu đời nhà Lý và ban sơ cho Lý Công Uẩn trong cuộc sống và sự nghiệp vinh quang của dòng họ Lý và khai sáng nên kinh đô Thăng Long vào đầu thế kỷ 11 mà ngày nay trở thành thủ đô hòa bình của nước CHXHCN Việt Nam, tự hào đường h oà ng sánh vai cùng thế giới trong thời kỳ hội nhập của đầu thế kỷ 21. Để ghi nhớ công đức của Quốc sư Vạn Hạnh, nhân dân Bắc Ninh và các tín đổ Phật tử đã tạc tượng ông bằng đá đặt trên đỉnh núi cao. Vầng trán cao, sống mũi thẳng, vành môi nghiêm nghị cho thấy cả khối tượng Thiến sư Vạn Hạnh toát lên phong thái khoan thai, từ tốn mà uy nghi, trí tuệ, ái quốc và đầy tâm đạo.

Khi Lý Công Uẩn lên ngôi, nhà sư còn khuyên răn với lời lẽ cảm động: " Tôi đã hơn 70 tuổi rồi, mong được thư thả hãy chết để xem đức hóa của ông như thế nào, thực là sự may mắn muôn năm mới gặp một lần". Ngày rằm tháng năm, năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) khi công hạnh đã viên mãn, thiền sư gọi môn đồ, Phật tử đang có mặt ở chùa tới để nghe bài kệ của ông rồi tịch. Sau lễ hỏa táng trang trọng, cả triều đình và đông đảo Phật tử, đồng bào xa gần đều dự lễ thỉnh xá lợi của ngài về thờ tại chùa Tiêu Sơn (Bắc Ninh). Gần trăm năm sau, cảm mộ đức hạnh của Quốc sư, vua Lý Nhân Tông (1072-1127) có bài kệ truy tán như sau:

Vạn Hạnh dong tam tế.
Chân phù cổ sấm ky.
Hương quan danh Cổ Pháp.
Trụ tích trấn Vương kỳ .

Dịch nghĩa:

Vạn Hạnh thông ba cõi.
Thật hợp lời sấm xưa.
Quê hương tên Cổ Pháp.
Chống gậy trấn kinh vua.

Nhà nghiên cứu Lê Văn Siêu trong tập sách "Quốc sư Vạn Hạnh - vở kịch lịch sử 4 màn "in vào mùa Phật đản 2510-2511 đã nhận xét về thiền sư như sau: "Chúng tôi ước ao giới thiệu được một nhân vật kỳ tài của lịch sử Việt Nam, đã từng một tay làm lịch sử ở đầu thế kỷ XI, là Quốc sư Vạn Hạnh. Chúng tôi muốn nói rõ cái kỳ tài ấy là kỳ tài một nghìn năm về trước lịch sử đã đành không có, đến một nghìn năm về sau, sắp tính đủ, lịch sử cũng lại không có nổi một người thứ hai".


Ghi nhận thêm:
Theo sử ta, Lý Công Uẩn là con vô thừa nhận. Cha nuôi là Lý Tự Khanh (Lý Khánh Vân) cho nên lấy họ Lý.
Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên còn chép chuyện hoang đường: mẹ Lý Công Uẩn có mang với thần nhân. Sách Việt sử lược chép khi lên ngôi, Lý Công Uẩn truy phong cho bố làm Hiển Thánh Vương, anh làm Vũ Uy Vương, em làm Dực Thánh Vương. Như vậy, Lý Công Uẩn không phải là không có cha.
Có thuyết nói Lý Công Uẩn gốc người Mân Việt, tổ tiên đã chạy sang nước ta sinh sống khi bị Tống lấy nước Mân năm 971. Không biết giả thiết này đúng không. Nhưng điều chắc chắn là đời Tống, người Tống nhận Lý gốc ở Mân. (theo Hoàng Xuân Hãn, 1949). (Quốc sư Vạn Hạnh, truyện kịch lịch sử của Lê Văn Siêu, Lá Bối - Sài Gòn 1967)

_____________________________________________________

(Tháng 9/2009)



© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 13.12.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .