CHÍNH KINH
VIẾT VỀ QUY Y NHƯ THẾ NÀO ?





Hoàn toàn khác với những hình thức được cho là Quy Y mà mà mọi Phật tử vẫn được hướng dẫn từ trước đến giờ, Kinh Đại Phương Tiện Phật Báo Ân viết về QUY Y như sau:

"Ngài Ưu Ba Ly hỏi:

- Quy y hướng về đâu gọi là quy y Phật?

- Phật đáp:

- Quy y Phật nghĩa là quay về với cái bản tính chân như đầy đủ trí tuệ và công đức của mình.

- Nương tựa vào đâu gọi là Quy Y Pháp?

- Đoạn trừ hết thảy dục vọng để hướng về Niết Bàn, thế gọi là Quy Y Pháp.

- Quy y Tăng là quy y vào đâu?

- Phật đáp:

- Quy y Tăng là hướng về ruộng phúc tốt lành, nghĩa là hướng tới quả vị Thinh Văn hữu học và vô học đầy đủ công đức vậy.

(tr. 373).

Rõ hơn nữa là lời giải thích của Lục Tổ trong Pháp Bảo Đàn Kinh:

Chư thiện tri thức, phải quy y theo ba phép này:

1/- Hãy quy y cái Diệu Giác của tánh mình là phép tôn quý gồm đủ cả hai công đức.

2/- Hày quy y cái Chánh Pháp của Tánh mình là phép tôn quý lìa bỏ các điều tà dục.

3/- Hãy quy y cái thể Thanh Tịnh của Tánh mình, là phép tôn quý nhất trong các hạnh.

Từ nay sắp sau, hãy xưng Giác là Thầy, chẳng nên quy y tà ma ngoại đạo. Hãy lấy Tam Bảo của tánh mình mà thường tự chứng tỏ các công đức của mình. Ta khuyên chư thiện tri thức nương theo ba phép bàu của Tánh mình là: PHẬT nghĩa là GIÁC. PHÁP nghĩa là CHÁNH. TĂNG nghĩa là TỊNH.

Tánh mình quy y tánh GIÁC thì tà mê chẳng sanh. Lại ít có sự ham muốn, thường biết đủ dùng, lìa được của tiền và sắc dục, là phép tôn quý gồm đủ cả hai công đức.

Tánh mình quy y TÁNH CHÁNH thì niệm niệm không sanh tà kiến. Bởi không tà kiến nên không có lòng nhơn ngã, cống cao, tham ái, chấp trước, gọi là pháp tôn quý lìa bỏ các điều tà dục.

Tánh mình quy y tánh TỊNH thì cả thảy các cảnh giới trần lao, ái dục, tâm mình chẳng nhiễm chẳng vương, gọi là phép tôn quý nhất trong các hạnh.

Tu các hạnh này ấy là mình quy y Bổn tánh của mình. Các người phàm phu từ ngày tới đêm nói rằng quy y theo ba Quy Giới mà chẳng hiểu lý quy y. Nếu nói quy y Phật, thì Phật ở xứ nào? Bằng không thấy Phật thì quy y ở xứ nào? Nói thế thành ra giả dối.

Chư thiện tri thức, mỗi người hãy tự xem xét, chớ lầm dùng tâm ý. Kinh văn nói rõ Quy Y Phật ở Tánh mình chớ chẳng nói quy y Phật nơi nào khác. Phật ở Tánh mình mà chẳng quy y thì không có chỗ nào mà quy y vậy.

Nay các ngươi đã tự ngộ thì mỗi người phải quy y Tam Bảo ở Tâm mình. Trong phải điều tâm, tánh, ngoài phải kính mọi người, tức là mình quy y Tâm mình vậy.

Chư thiện tri thức đã quy y Tam Bảo ở Tánh mình rồi các ngươi hãy chí tâm, ta nói cho mà rõ pháp Phật một thể ba thân ở trong Tánh mình khiến cho các ngươi thấy Ba Thân rõ ràng tự mình tỏ sáng Tánh mình.

Các ngươi hãy nói theo ta:

Từ Sắc thân mình quy y Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.

Từ Sắc thân mình quy y Viên mãn Báo Thân phật.

Từ Sắc thân mình quy y Thiên bá ức Hóa Thân Phật.

Chư Thiện tri thức, sắc thân là quán xá không thể nói quy y được. Phải dòm ngó Phật Ba Thân trong Tánh mình. Người thế gian đều có Phật ba Thân. Bởi tâm mình mê muội nên không thể sáng suốt trong tánh mình. Người ta cứ tìm Phật Ba Thân ở ngoài, mà chẳng thấy Phật Ba Thân ở trong thân mình. Các ngươi nghe ta nói khiến các ngươi ngó trong thân mình và thấy Bổn tánh mình có Phật Ba Thân. Phật Ba Thân này do nơi Tánh mình mà sanh chớ chẳng phải do nơi ngoài mà tìm đặng.

Sao goi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật?

Bổn Tánh của người thế gian vốn trong sạch. Muôn pháp đều do nơi Bổn Tánh mình mà sanh. Nghĩ các điều dữ liền sanh hạnh dữ. Nghĩ các việc lành liền sanh hạnh lành. Thế thì các pháp trong Tánh mình, ví cũng như trời thường trong, mặt nhựt nguyệt thường sáng, nhưng vì bị mây che nên trên sáng dưới tối. Thình lình gặp gió thổi, mây tan, trên dưới đều sáng, thì muôn hình ngàn tượng đều hiện ra. Tánh của người thế gian thường hay dời đổi cũng như mây trên trời vậy.

Chư Thiện tri thức, Trí như mặt nhựt, Huệ như mặt nguyệt. Trí Huệ thường sáng nhưng bởi tâm dính níu cảnh vật ở ngoài rồi bị mây vọng niệm của mình che án Tánh mình nên Trí Huệ chẳng đặng tỏ sáng. Nếu gặp Thiện Tri Thức, nghe người giảng chánh pháp rồi tự mình dứt các điều mê vọng, trong ngoài sáng thấu thì trong Tánh muôn pháp đều hiện ra rõ ràng. Người Thấy Tánh cũng giống như thế. Ấy gọi là Thanh Tịnh Pháp Thân Phật.

Chư Thiện tri Thức. Tâm mình quy y Tánh mình. Ấy là quy y Chơn Phật. Tự mình quy y nghĩa là dứt trừ hết các tật xấu trong Tâm mình là lòng chẳng lành, lòng ghen ghét, lòng tà vạy, lòng vị ngã, lòng giả dối, lòng khi người, lòng nhạo người, lòng tà kiến, lòng cống cao, cùng các hạnh bất thiện trong cả thảy thời gian, lại thường thấy lỗi mình, chẳng nói việc tốt xấu của người.

Thường hạ Tâm mình, cung kính mọi người, thấy Tánh sáng suốt, không ngưng trệ. Ấy là tự mình quy y Tánh mình.

Mình tự ngộ tự tu các công đức trong Tánh mình mới thiệt là quy y. Chớ da thịt là sắc thân, sắc thân là quán xá không thể nói là quy y được. Nếu mình hiểu rõ Ba Thân trong Tánh mình tức là mình biết Phật trong Tánh mình vậy"

Mọi người vẫn thường tụng Kinh, niệm Phật để được về Tây Phương Cực Lạc. Nước này vẫn được cho là của Phật ADIĐÀ. Xin trích Kinh KIM CANG như sau:

"Xá Lợi Phất! Nơi ý của ông nghĩ sao? Đức Phật đó vì sao hiệu là ADIĐÀ?

Xá Lợi Phất! Đức Phật đó hào quang sáng chói vô lượng, soi suốt các cõi nước trong mười phương không bị chướng ngại, vì thế nên hiệu là ADIĐÀ". Giải thích về TÂY PHƯƠNG, Pháp Bảo Đàn Kinh viết: "khi Vi Thứ Sử thết tiệc chay rồi thỉnh Tổ giảng dạy cho mọi người. Thứ Sử hỏi: "Đệ tử thường thấy các thầy tăng và người tục niệm Phật A Di Đà nguyện vãng sanh về Tây Phương, xin Hòa Thượng giải rõ cho biết các người ấy được vãng sanh về Tây Phương chăng?"

Lục Tổ dạy:

"Sử Quân, hãy nghe cho kỹ, Huệ Năng này giải cho. Đức Thế Tôn lúc ở Thành Xá Vệ nói Kinh về chỗ tiếp dẫn hóa độ vào cõi Tây Phương, nói rõ ràng cõi ấy cách đây chẳng xa. Nếu luận hình tướng và số dậm thì có mười muôn tám ngàn dậm, tức là chỉ muời điều ác: l. Giết sanh mạng. 2. Trộm cắp. 3. Tà dâm. 4. Nói dối. 5. Nói xúi dục hai đàng. 6. Nói hung ác. 7. Nói thêu dệt, tục tĩu. 8. Tham lam. 9. Giận hờn. 10. Si mê. Và 10 điều làm trong thân: 1. Tà kiến. 2. Tà tư duy. 3. Tà ngữ. 4. Tà nghiệp. 5. Tà mạng. 6. Tà phương tiện. 7. Tà niệm. 8.Tà định.

Nói xa là vì người hạ căn. Nói gần vì người thượng trí. Người có hai hạng, Pháp không có hai thứ. Tánh ngộ, mê khác nhau, chỗ kiến giải có mau chậm. Người mê niệm Phật cầu vãng sanh về cõi tây Phương. Người ngộ tự tịnh tâm của mình. Do đó Phật nói: Tâm mình tịnh tức cõi Phật tịnh.

Này Sử Quân, người Đông Phương mà tâm tịnh thì không có tội. Còn người Tây Phương mà tâm chẳng tịnh thì cũng có tội. Người Đông phương tạo tội niệm Phật cầu vãng sanh về Tây Phương, còn người Tây Phương tạo tội niệm Phật cầu vãng sanh về xứ nào? Người phàm mê muội chẳng rõ Tánh mình, không biết cõi Tịnh Độ trong thân mình nên mới nguyện đông nguyện tây. Còn người giác ngộ dầu ở chỗ nào tâm địa cũng một mực thanh tịnh tự nhiên. Sở dĩ Phật nói; Tùy cái chỗ trụ mà Tâm thường được an lạc. Này Sử Quân, nếu tâm địa mình trọn lành thì cõi Tây Phương cách đây chẳng xa, bằng mình cưu mang cái tâm chẳng lành mà niệm Phật cầu vãng sanh thì ắt khó đến cõi ấy.

Nay khuyên các Thiện tri thức, trước trừ mười điều ác, tức là đi tới mười muôn dặm. Sau dứt 8 điều tà, ấy là qua khỏi tám ngàn dặm. niệm niệm thấy tánh, thường làm việc công bình chánh trực thì đến cõi ấy mau như khải móng tay liền thấy Phật A Di Đà. Này Sử Qưân, Nếu làm mười điều thiện thì cần gì phải nguyện vãng sanh. Còn nếu chẳng dứt lòng cưu mang muời điều ác thì Phật nào rước mình."

Trích một vài đoạn Kinh để chúng ta thấy rằng dù Phật, Tổ cách nhau nhiều trăm năm, nhưng những lời giải thích về Phật, về Quy Y đều giống nhau, đều nói rằng Phật ở trong tâm của mỗi người. QUY Y Phật là quay về với cái Bản Tính Chân Như của chính mình, không phải quy y với Phật nào, thầy nào bên ngoài. Chúng ta cũng không cần niệm hồng danh của Phật A Di Đà để cầu được về Tây Phương Cực Lạc của Ngài, mà mỗi người đều có Tây Phương Cực Lạc của chính mình, chỉ cần trừ đi những điều ác, điều tà là sẽ hiển hiện.

Đọc chính Kinh ta thấy, Đức Thích Ca luôn dặn dò phải VĂN-TƯ-TU. Đạo Phật lại được mệnh danh là Đạo Nhân Quả cho ta thấy mọi việc không thể chỉ do nghĩ tưởng mà có kết quả, mà phải bằng hành động cụ thể. Ta thử làm một so sánh nhỏ: Nếu có một học sinh nào đó quá mến mộ ngành Y, muốn làm Bác Sĩ thì lẽ nào cả ngày chỉ lẩm bẩm: Tôi sẽ trở thành Bác Sĩ. Tôi cương quyết sẽ trở thành Bác Sĩ... mà cuối cùng đạt được kết quả, nếu không phải là sau đó em phải cố gắng học cho giỏi rồi thi vào trường Y, dùi mài bao nhiêu năm dài, thực tập đầy đủ các môn cuối cùng mới tốt nghiệp? Tương tự như thế, nếu chúng ta chỉ niệm suông Nam Mô A Di Đà Phật, vọng ra ngoài để cầu về Tây Phương, thì làm sao về được, vì đó là phương tiện của Phật để chỉ sự thanh tịnh trong Cõi Tâm của mỗi chúng ta - sau khi "Độ tận chúng sinh" - tức là trừ hết mọi phiền não, ô nhiễm, gọi là "soi suốt 10 phương". Nói Cực Lạc là vì không còn phiền não nữa mà thôi, không phải là cái vui tột cùng của trần tục. Bảy Báu được trang hoàng là tượng trưng cho việc Xả Chấp nơi Thân, Khẩu, Ý, không phải là châu báu thế gian như nhiều người vẫn lầm tưởng!

Nhân số việc hiểu lầm như trên, xin trích Kinh VIÊN GIÁC nói về tầm quan trọng của Thiện Tri Thức: "Nầy Thiện Nam! Có loại chúng sinh có thể chứng đặng Viên Giác. Song nếu chúng gặp Thiện Tri Thức là thinh Văn hóa độ thì chúng thành tiểu Thừa. Còn gặp Thiện tri thức là Bồ Tát Hóa độ thì chúng thành Đại Thừa. Nếu gặp Như lai dạy tu đạo Vô Thượng Bồ Đề thì chúng thành Phật Thừa.

Này Thiện Nam! Có những chúng sanh đi tầm Thiện tri Thức chỉ dạy đường lối tu hành, nhưng lại gặp ngoại đạo tà sư dạy bảo nên chúng nó sanh tà kiến, hiểu ngộ không chơn chánh, thế gọi là "ngoại đạo chủng tánh". Đây không phải lỗi tại chúng sanh, mà lỗi tại tà sư. "(tr.79-80).

Dù rằng lỗi đó do tà sư, nhưng hậu quả là chúng sanh phải chịu, Do vậy, nên chăng mỗi người chúng ta tự đọc Kinh, tự phân tích, đối chiếu nhiều Kinh với nhau để tự phá Vô Minh cho chính mình? Vì đã tự xưng là Phật Tử, tức là Con Của Phật mà không biết cha mình mặt ngang mũi dọc ra sao? Làm gì? Ở đâu? Dạy làm điều gì? Dạy tránh điều chi? Kinh sách là di chúc, là bản đồ cha để lại, trong đó có dặn dò kỹ càng cách thức để lấy kho tàng thì cho đến thời nay đã được dịch sang tiếng Việt rất rõ ràng, phân biệt kỹ càng mọi điều, ai có biết chữ cũng đều có thể đọc được, thì không thèm tự đọc lấy, để cho người khác đọc, hiểu theo họ rồi giảng giải lại cho nghe! Liệu như thế có phải vô lý và bất công với chính bản thân mình lắm không? Bởi nếu may mắn gặp người biết sợ Nhân Quả, không dám diễn sai ý Phật, lời Kinh thì nhờ. Ngược lại, gặp phải những kẻ vì danh tiếng hay lợi dưỡng mà bất chấp hậu quả, cứ bê nguyên xi NGỮ mà giảng nói, thì hậu quả là chúng ta chịu chớ đâu phải là họ! Cuộc sống tạm chỉ có trăm năm là chấm dứt, nhưng ít ai dám giao quyền quyết định tương lai của mình cho người khác, trong khi đó, con đường tu hành có giá trị vô lượng đời của mình thì lại phó mặc cho người khác hướng dẫn chẳng cần biết đúng, sai, chẳng biết sẽ về đâu mà không hề thắc mắc thì quả là hết sức nghịch lý!

Chỉ một từ QUY Y thôi, ta đã thấy: từ hình thức, đến nội dung mà mọi người đang truyền nhau không chút nào giống như chính Kinh. Tất cả các pháp khác cũng đều cần phân biệt Nghĩa và Ngữ. Nhưng nhiều người lại quá thờ ơ, không hiểu rằng phương tiện của Phật chỉ phù hợp trong từng giai đoạn, sau đó sẽ hướng dẫn tiếp… "vội vã tin nhận, suy gẫm để chứng lấy". Trường hợp ta vẫn thường thấy nhất là có nhiều người chỉ cần Nghe Nói có Tây Phương Cực Lạc của Đức A Di Đà, trong đó trang hoàng bằng vô số của báu… thì chẳng cần đọc hết quyển Kinh để xem thực hư ra sao, đã cố gắng cầu mong được về đó. Chẳng cần biết vị trí ở đâu? Điều kiện nào, hay cách nào để vào được! Ai cũng nói rằng Đạo Phật dạy Tự Độ, vậy mà đa phần người thuyết giảng hiện nay lại khuyến khích mọi người hướng ra, cúng kiến, cầu xin, mong đổi xấu lấy tốt, cầu mong được độ! Không lẽ Tự Độ là tự cầu xin để được độ?

Không biết lời cảnh báo: "Phàm phu còn có tâm quay về, mà Thinh Văn thì không" để nói về mức độ cố chấp của những người đã lỡ nghe, lỡ tin ai rồi thì khó có người nói lại để cho họ sửa đổi, thì còn tệ hơn những người phàm phu chưa từng nghe pháp, vì họ còn có thể quay về, có làm cho ai đó giật mình suy nghĩ lại chăng? Bởi một bên nhắm mắt tin người khác, chẳng cần biết là họ đang khai mở hay chồng mê cho mình, dù tài liệu để kiểm chứng không thiếu! Một bên tuy không giết chết sinh mạng của người khác, nhưng lại giết chết Huệ Mạng nhiều đời của họ bằng những dẫn giải sai lạc mà Phật ngôn gọi là "Y KINH GIẢI NGHĨA TAM THẾ PHẬT OAN". Ngay cả hậu quả tác hại tới nhiều đời, nhiều kiếp như thế mà họ còn không biết để sợ thì liệu ta có nên đặt tin tưởng hoàn toàn vào họ hay không có lẽ còn tùy ở duyên nghiệp của mỗi người vậy.


______________________________________________

(Tháng 10/2008)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 11.12.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .