TÀI HOA MỆNH BẠC:

ALEXANDER PÚSHKIN

(1799-1837)



    (Kiến Thức Văn Học Nga)


 

Bài 2 .

 

VI

(Tháng 8/1824 – Tháng 9/1826)
(Mikhailovskoye) (Pskov)

Tháng 8/1824, Púshkin bất thần bị trục xuất khỏi công việc ở Odessa và nhận lệnh Hoàng đế phải đến cư ngụ vô thời hạn trong lãnh địa của mẹ ông ở Mikhailovskoye, thuộc tỉnh Pskov, dưới sự kiểm soát của cảnh binh và những giáo sĩ có quyền thế. Lý do cho sự trục xuất này đến từ lá thư riêng Púshkin gửi cho một người bạn ở Pétersbourg và bị cảnh binh chận giữ, trong đó thi sĩ đã viết rằng:

“Khi tôi đọc Shakespeare và Thánh Kinh, các vị Thánh Thần vẫn thỉnh thoảng khiến trái tim tôi rung động. Bạn muốn biết tôi đang làm gì không? Tôi đang viết những vần thơ lãng mạn, và tôi cũng đang theo đuổi các bài học về thuyết vô thần. Ở đây có một triết gia người Ăng Lê. Ông ta điếc đặc, nhưng tôi lại cho rằng ông là người duy nhất thật sự thông minh. Tôi rất ưa thích gặp gỡ ông ta. Ông đang viết hàng ngàn trang về một cuốn sách luận giải rằng không thể có một đấng Tạo Hóa sáng suốt. Tất cả những chứng cớ yếu ớt được đưa ra từ trước chỉ cốt để an ủi những kẻ vô đạo đức. Còn cái phương pháp của ông ta –mà thật ít người tin—thì trời ơi, lại là điều tôi cho là chính xác. Nói chung, cái thuyết vô thần hoàn toàn, dẫu khó chịu, cũng là việc rất đáng thừa nhận.”

Khác với lần lưu đày giả hiệu từ Pétersbourg đến Kichinev, lần biệt xứ này của Púshkin, ai ai cũng đều biết.

Ngày 9/8/1824, khi đến Mikhailovskoye, Púshkin mới hay rằng cha mẹ ông đã có mặt ở đó từ trước. Những cuộc cãi vã liên tục giữa hai cha con đã khiến nhà thơ rơi vào tâm trạng tuyệt vọng với ý nghĩ rằng một nhà tù hay một tu viện có lẽ còn thú vị hơn cái địa ngục gia đình mà ông đang cư ngụ. Những căng thẳng ngày càng nặng nề khiến người cha phải quyết định dời cả gia đình sang một lãnh địa khác, từ bỏ Mikhailovskoye và cậu con trai nóng nảy nguy hiểm.

Púshkin lưu lại trong căn nhà gỗ cũ kỹ được trang hoàng bằng những bàn ghế lỗi thời từ thế kỷ 18. Bầu bạn với thi sĩ chỉ là bà nhũ mẫu già Arina Rodionovna, người vẫn làm tiêu khiển cho ông bằng những câu chuyện cổ tích dân gian trong những đêm mùa đông dài đăng đẵng. Ngoài ra là sự giao thiệp với những người hàng xóm ở vùng quê Trigorkoye.

Thời gian này, Púshkin sống như một người khách, không quan tâm gì đến những công việc khác trong lãnh địa. Ông đi dạo, cưỡi ngựa, dự những phiên chợ đồng quê và thích tự chen lẩn vào giữa các người hành khất vẫn thường hát những bài ca tôn giáo Nga tại các cổng tu viện trong tỉnh. Ông tránh xa lớp quý tộc nhỏ, ngoại trừ một gia đình hàng xóm gồm toàn phụ nữ: bà Osipova và hai cô con gái. Púshkin chơi bài với họ, chọc ghẹo một cô, ve vãn tán tỉnh cô kia. Rốt cuộc, cả hai người –mẹ và cô gái lớn—đều phải lòng chàng thi sĩ tài hoa rồi vì ông mà cãi nhau. Còn chính Púshkin lại mê đắm theo cô cháu gái –nàng Kern--, một người đã có chồng. Nàng Kern trở thành nỗi cảm hứng cho các áng thi ca tuyệt mỹ của Púshkin giai đoạn này.

Ngoài ra, Púshkin cũng có mối tình với một cô gái nông nô mà kết quả là cô này có thai. Tuy nhiên, đứa bé được chào đời và lớn lên như thế nào, hoặc sự liên hệ giữa Púshkin và đứa nhỏ ra sao thì vẫn là điều cho tới lúc này, không ai xác định được sự thật.

Đó là một cuộc sống cô đơn và hầu như bị mọi người quên lãng, nhưng với Púshkin thì lại là một thời gian hạnh phúc. Trong lá thư gửi một người bạn, nhà thơ đã viết:

“Ở đây không có biển xanh, không cả bầu trời rộng lớn của miền Nam, không có những nhà hát kịch Ý Đại Lợi, không có mặt các người bạn thân, trên hết và thích thú nhất là cũng không có sự hiện diện của những người như đức ông Vorontsov. Sự cô đơn của tôi thật là tuyệt diệu. Có rất ít người để thăm viếng. Tôi chỉ giao thiệp với một gia đình toàn đàn bà nhưng cũng chẳng mấy khi gặp họ. Ngoài ra, mỗi buổi chiều tôi đều đi cưỡi ngựa. Ban đêm lại ngồi nghe những câu chuyện kể của bà vú già Arina. (Hẳn bạn đã từng có lần gặp qua bà vú ấy ở Pétersbourg?) Bà là người bạn và cũng là kẻ duy nhất trong xã hội này đã không khiến tôi buồn chán. Sau buổi cơm chiều, bà thường ngồi kể cho tôi nghe các câu chuyện dân gian như một hình thức sửa đổi và bổ khuyết cho những lỗi lầm mà tôi đã thu nhận từ cái cách giáo dục tồi tệ của gia đình. Thật đúng là những câu chuyện thần tiên tuyệt diệu! Mỗi mẩu chuyện bà kể đều là một bài thơ!”

Xa lánh các trò giải trí cuồng loạn và luôn nhận thức được cái lỗ hổng thiếu xót trong trí thức mình, nên thời gian ở Mikhailovskoye, Púshkin đọc sách rất nhiều, đặc biệt về lịch sử nước Nga.

Nhà thơ lại tiếp tục sáng tác. Khởi đầu ở đây là Những Kẻ Du Mục (Cygane), một trong những bài thơ mang đậm tính chất Byron, xuất bản năm 1823.

Một đêm tối trời, Aleko, một chàng trẻ tuổi người Nga, xâm nhập vào trong ngôi trại của các người du mục và cầu xin vị trưởng tộc một chỗ nương náu. Tại đây, chàng bị xua đuổi. Nhưng rồi cô con gái của vị trưởng tộc, Zemphyra, tỏ ra ưa thích kẻ lạ và muốn nhận chàng làm chồng. Thế là chàng tuổi trẻ được tiếp đón và chẳng mấy chốc họ lấy nhau theo phong tục kiếp sống rày đây mai đó. Trong cuộc sống mới, Aleko vẫn bảo tồn những định kiến riêng về sự khai hóa văn minh, về những ức đoán hôn nhân, về lòng ghen.

Zemphyra sớm chán nản theo thái độ u sầu của chàng, nên quay trở lại ưa thích những người đàn ông cùng chủng tộc với nàng, đơn giản, khoẻ mạnh, và khoái hoạt. Dù vị trưởng tộc đã cố lòng giảng giải cho chàng nghe về phong tục tập quán của người Tzigane, Akelo không thể cam chịu sự bất hạnh của mình hơn nữa. Một đêm kia, chàng rình tóm được những tình nhân của vợ và giết chết họ. Tuy nhiên, những người Tzigane này vẫn không đòi hỏi công lý và tự bằng lòng trong hành động đuổi kẻ lạ ra khỏi bộ tộc của họ mà thôi.

Cũng vậy, bằng giọng thơ quả quyết tài tình trong tính cách đầy thực tế mỉa mai châm chọc, Púshkin đã viết Bá Tước Núlin, phỏng theo Lucrèce của Shakespeare: một chủ đề xoàng xỉnh, kể câu chuyện về

Bá tước Nulín, một kẻ qua đường, cố gắng quyến rũ một bà giàu có là người đã cho ông ta ở đậu nhân sự vắng mặt của chồng. Để phản đối, người phụ nữ đã tát vào mặt ông ta. Hỗ thẹn, kẻ quyến rũ chỉ còn nước rút lui.

Đồng thời, nhà thơ lại tiếp tục với hai chương đầu của Evgény Onégin, bản văn từng được khởi sự khi còn ở Kichinev. Sáng tác thi ca ảnh hưởng đường nét Byron này chẳng mấy chốc lại tự nổi lên là kiểu mẫu riêng của Púshkin và trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của chàng thi sĩ tài hoa.

Từ thuở 12, trong những trang bích báo nhà trường, Púshkin đã từng viết một kịch bản bằng tiếng Pháp. Từ đó trở về sau, ông không ngừng tỏ lộ sự yêu thích cho nền kịch nghệ. Trong những vần thơ kể chuyện, nhất là trong tác phẩm Những Kẻ Du Mục, tính chất bi thảm mang đầy kịch tính đã được nhận định rất rõ.

Bấy giờ, trong tình trạng bị giam lõng cô đơn giữa vùng hoang sơ điền dã Mikhailovskoye, Púshkin đã tạo nên được một cuộc khởi hành mới trong sự nghiệp sáng tác của ông. Thi sĩ bắt đầu viết kịch. Bước thứ nhất lại là một tác phẩm bậc thầy: Boris Godunóv. Với kịch bản này, Púshkin hy vọng đem lại được cho ngành kịch của xứ sở ông một định hướng mới. Các nhà hát Nga từ lâu bị thống trị bởi các kịch phẩm trường phái cổ điển Pháp. Lúc bấy giờ, Púshkin tin tưởng rằng “những luật lệ bình dân” thích hợp với tâm tình và khí chất người Nga hơn là “những phong tục nhàn nhã lịch sự” của bi kịch Racine.

Trong Boris Godunóv có những màn mang tính cách kịch Shakespeare. Mỗi nhân vật được cho nói một thứ ngôn ngữ riêng: một sĩ quan nói tiếng Pháp và một sĩ quan khác lại sử dụng tiếng Đức.

Ngày 7/11/1825, Púshkin kết thúc kịch phẩm Boris Godunóv, kịch bản ba hồi bằng thơ. Yếu tố dựng cảnh của hồi một được rút ra từ

những biến cố của năm 1598, trên hết là buổi lễ tôn vương của hoàng đế Boris Godounov và những tỏ bày của giới quý tộc và dân chúng trước buổi lễ này.

Hồi hai, liên kết với

những biến cố của năm 1603: nói đến sự bỏ trốn khỏi tu viện của Grigori, cực điểm quyền hành của Boris Godounov từ đó dẫn đến sự suy sụp của chính ông.

Phần này cũng diễn tả

sự hiện diện của Boris trong nội bộ gia đình, giai đoạn lưu lạc ở Ba Lan của chàng Dimitri phản loạn và mối tình của chàng dành cho Maria Munichek.

Hồi ba kể lại

những biến cố của thời 1604; cuộc chiến đấu chống lại Dimitri và cái chết của Boris Godounov.

Chủ đích nhà thơ là muốn đưa ra trong văn chương Nga một bi kịch quốc gia, với toàn những nhân vật lịch sử, như cái tiêu đề đã được ghi nơi trang đầu kịch bản:

“Bi kịch lịch sử, hài kịch về những tai ương khác nhau đưa đến trong nước Đại Nga, của Hoàng đế Boris Godounov và của Grichka Orepev

Vì vậy, kịch thơ Boris Godounov xoay quanh những dữ kiện quan trọng của các nhân vật lịch sử. Ví dụ như “câu chuyện tình giữa chàng Dimitri và nàng Marina Munichek” thì không phải là một yếu tố cốt lõi của kịch phẩm, mà Púshkin chỉ dựa vào đó để “diễn tả xác thật hơn về con người đã muốn tiếm đoạt ngôi vua.

Trong chiều hướng hình thành được chủ đích đó, nhà thơ phải đi theo hai yếu tố căn bản:

1/ Hình thức: nhân vật có thật.

2/ Nội dung: Sự thật mang tính chất lịch sử quốc gia.

Ở phần hình thức, nhà thơ đã nghiền ngẫm đọc các kịch bản của Shakespeare để tự rút ra cho mình những hiểu biết về thời kỳ đó. Ở phần nội dung, tác phẩm Lịch Sử Thời Đại Quân Chủ Nga của Karamzine với những biến cố chính xác đưa ra, đã giúp ích rất nhiều cho sự hình thành kịch bản của Púshkin. Chính Púshkin cũng đã thừa nhận hai nguồn mạch ảnh hưởng nêu trên như sau:

“Sự nghiên cứu lịch sử của Shakespeare, của Karamzine và của các tiền nhân trong cuốn Biên Niên Sử đã xúi giục tôi trong ý tưởng đưa ra một thể thức bi kịch về một trong những thời đại rất đau khổ của dân tộc. Tôi đã bắt chước Shakespeare, phóng vẽ những nhân vật lịch sử một cách tự do rộng rãi. Tôi theo dấu Karamzine, khai triển những biến cố mà ông đưa ra. Cuối cùng, dựa theo cuốn Biên Niên Sử của các tiền nhân, tôi đã tự gắng sức để ước đoán và hiểu thấu về những ý tưởng và ngôn ngữ của thời đại đó.”

Trong kịch bản, giọng điệu đạo đức và tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra, yếu tố lãng mạn cũng được đưa ra nhưng dưới những dữ kiện thực tế theo chủ tâm của tác giả. Điều vừa nói đã hoàn toàn không tìm thấy ở các tác phẩm lãng mạn khác của nước Nga. Đó cũng là một tác phẩm rất quan trọng trong nền văn chương Nga do những yếu tố kết hợp rất đặc thù: Cái kết cấu tâm lý hoàn hảo, sự phong phú về các dữ kiện lịch sử, và cuối cùng là sự hợp nhất rất đáng ca ngợi giữa cá chất và ngôn ngữ diễn tả của các nhân vật.

Dù cho Boris Godounov đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự vận chuyển nền kịch nghệ quốc gia, nhưng sự thật, Púshkin chẳng làm nên đóng góp giá trị nào cho ngành kịch của xứ sở ông. Nhà thơ đã không thúc đẩy được nền kịch nghệ Nga lớn dậy như ông hy vọng. Ở đây, ông sáng tác không phải những vở kịch kiểu Shakespeare, mà là một loạt những màn lớp nối tiếp nhau một cách dài dòng lỏng lẻo, khó diễn trên sân khấu và không gây được hiệu quả xúc động. Do đó, Boris Godunóv dẫu đã được nhân viên kiểm duyệt nhà nước phê bình rằng tinh thần của toàn kịch bản là đề cao quân chủ chủ nghĩa, bản văn vẫn bị giữ lại không cho xuất bản mãi đến năm 1831.

Sau tất cả, những tháng năm ở Mikhailovskoye vẫn là “những ngày tù gông cùm thôi thúc”. Sự lưu đày này khó chịu hơn lần trước trong cuộc sống và ý nghĩa thi sĩ. Cái ước muốn đi ngoại quốc, một xứ sở nào như Hy Lạp hay các nước Phi Châu, cứ ám ảnh đầu óc Púshkin. Vì vậy, ông làm đơn xin Hoàng đế cho ông được rời nước Nga vì lý do sức khoẻ.

Ngày 28/11/1825, Hoàng đế Alexander I băng hà. Trong hoàng gia, người em trai Hoàng đế định lợi dụng sự rối loạn nhất thời này để chỉ huy quân đội, lật đổ chế độ quân chủ và thành lập một chính phủ Cộng Hòa. Trong cuộc khởi nghĩa này có nhóm bạn hữu thân tín của Púshkin tham dự, nhưng có lẽ cho rằng cá chất Púshkin quá lông bông, hoặc ước muốn tránh cho thi sĩ sự nguy hiểm, hay cũng có thể do tinh thần bảo mật của đại cuộc, mà Púshkin không được các người bạn trình bày rõ ràng mọi sự.

Trong cái xứ Mikhailovskoye buồn tẻ đó, Púshkin chẳng hay biết gì về những xáo trộn tại thủ đô lúc ấy. Một ngày trước khi cuộc khởi nghĩa xảy ra, Púshkin vẫn còn đang ham mê với cái thú nuôi súc vật trong căn thái ấp của giòng họ ngoại mà ông đang lưu trú. Và thi sĩ cũng trải qua cái ngày 26/12/1825 đầy định mệnh với ý nghĩ nó giống như mọi ngày bình thường khác. Nhà thơ vẫn ở lại Mikhailov- skoye một cách an ổn cho mãi đến tận ngày 13/7/1826, năm người trong nhóm Décembristes (những kẻ nổi loạn tháng 12)(5) –có một người từng thân thiết với Púshkin—bị treo cổ.

Tân hoàng đế lên ngôi, lấy vương hiệu là Nicholas I.

Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa làm cho Púshkin điềm đạm hẳn. Lúc bấy giờ nhà thơ có khuynh hướng quan tâm đến chế độ và sẵn sàng hợp tác với chính quyền hiện tại.

Dù biết rằng Púshkin chẳng liên can gì, nhưng các bản thảo được tìm thấy trong nhà các người cầm đầu cuộc khởi nghĩa tháng 12/1825 đã khiến thi sĩ vẫn bị nhà cầm quyền nghi ngờ, theo dõi. Một người bạn có uy thế trong chính phủ khuyên Púshkin nên nhún mình viết những tác phẩm có mục đích tốt như Boris Godunóv. Púshkin đồng ý. Vì thế, tuy trong lòng âm thầm bực bội vì sự cô lập kéo dài, nhà thơ vẫn cố gắng tập trung đầu óc vào Evnégy Onégin.

Tháng 5/1826, Púshkin làm đơn xin vị tân Hoàng đế cho phép được trở về sống ở Moscow hay Pétersbourg, hoặc là chấp thuận cho xuất ngoại. Trong lá đơn, Púshkin cam kết rằng “quyết tâm không chống lại chế độ đã được công nhận.”

Sau đó không lâu, trong lá thư gửi một người bạn, Púshkin viết rằng nếu được trả tự do, ông sẽ không lưu lại trong nước Nga nữa. Và thêm:

“Chúng ta đang sống trong một thời đại buồn bã. Khi tôi tưởng tượng đến những đường sắt xe lửa, các chiếc du thuyền hay những cuộc thao diễn quân sự ở nước Anh; tưởng tượng đến các nhà hát, các ngôi giáo đường ở nước Pháp, thì cái vùng Mikhailovskoye hoang dã tiêu điều này làm tôi chán muốn chết và giận điên người lên được.”

Mùa hè đến mà cũng chẳng có gì thay đổi trong hoàn cảnh của Púshkin. Cuối cùng, do một báo cáo thuận lợi của một nhân viên điều tra đặc biệt, vào ngày 3/9/1826, thay vì bị bắt cầm tù hay bị đày đi Tây Bá Lợi Á thì Púshkin lại được triệu hồi gấp về Moscow và được tân Hoàng đế tiếp kiến cách riêng tư. Những cánh cửa hoàng cung mở rộng. Nhà vua và thi sĩ tay trong tay tiến bước giữa đám quần thần. Những gì thật sự xảy ra giữa vị tân Hoàng đế và nhà thơ tài hoa 27 tuổi thì không ai biết rõ, nhưng kết quả là sự lưu đày của Púshkin bất ngờ được chấm dứt.

VII

(Tháng 9/1826–Cuối năm 1827)
(Moscow)

Sau một thời gian ngắn rời xa Mikhailovskoye, Púshkin bắt đầu chuyển hướng sang viết văn xuôi. Có thể nói rằng, trong văn học Nga, Púshkin là người đầu tiên thực sự là một tiểu thuyết gia, dù rằng vị trí của ông trong lịch sử tiểu thuyết thì không đáng so sánh với chỗ đứng ngất ngưởng mà ông đã tạo dựng được trong lịch sử toàn diện của nền văn học Nga.

Tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Púshkin là một quyển tiểu thuyết lịch sử, Người Con Nuôi Của Đại Đế Pierre I, nói về tổ tiên Epiothie bất hạnh của nhà thơ. Được sáng tác theo thị hiếu ham chuộng những bản văn viết về lịch sử tổ tiên lúc ấy đang rộ ra trong tầng lớp độc giả Nga, Người Con Nuôi Của Đại Đế Pierre I là câu chuyện thật về

một nhân vật vùng Abyssin, thuộc Épiothie, Phi Châu, con đỡ đầu của Hoàng đế Pierre I. Người này là ông ngoại của Púshkin.

Sau khi hoàn tất sáu chương đầu, Púshkin bỏ dở dang không viết tiếp. (Trong số đó, chỉ có hai chương là được xuất bản năm 1827, trong thời sinh tiền của nhà thơ.)

Theo dòng kể chuyện,

“gã Hắc chủng” là con trai vua Sultan, nước Ả Rập, thuở nhỏ bị bọn thương buôn bắt cóc làm nô lệ đem bán ở chợ; được một vị sứ thần Nga cứu thoát đem về dâng lên Hoàng đế Pierre đệ I. Cậu được Hoàng đế gửi sang Pháp học. Trải qua thời tuổi trẻ dưới triều đình Louis XV, chàng “Hắc chủng” đạt được vừa chức vụ đại úy lẫn cả tình yêu của một nữ bá tước xinh đẹp đã có chồng. Hoàn cảnh của hai kẻ lén lút yêu nhau bất thần bị rơi vào cơn bế tắc nhân sự chào đời của một đứa con trai da màu. Đứa bé bị đem gửi nơi xa, thế vào đó là một đứa trẻ người Pháp, để ém nhẹm dư luận cười chê của giới quý tộc triều đình Pháp. Chàng “Hắc chủng” trở về Nga nhân lời kêu gọi của Hoàng đế Pierre I. Chàng đâm ngưỡng mộ tiếng tăm và tài trí của cha đỡ đầu và nhanh chóng biến thành một cộng sự viên đắc lực của Hoàng đế, được Hoàng đế hết lòng yêu mến, tin cậy, và sau cùng là đứng ra cưới cho chàng một cô gái thuộc hàng quí tộc lâu đời ở Nga.

Tới đây, bất thần bản văn bị bỏ ngang.

Nhưng từ trang đầu đến trang cuối, Púshkin đã đưa ra cho thấy một tài năng phi phàm không ai có thể so sánh. Những đoạn tả về những người Pháp ở Paris, các tập tục theo lối Tây Phương ở Nga, dư luận chê cười của triều thần và giới quý tộc Pháp trước sự kiện một “đứa bé hắc chủng” sắp chào đời…, đều là những đoạn tả chân tuyệt diệu dưới giọng văn diễn tả thật đơn giản bình dị của Púshkin.

Ngoài ra, Púshkin cũng sáng tác một tập sách giáo khoa theo lời yêu cầu của Hoàng đế Nicholas I, trong đó thi sĩ phô bày rằng, anh em cũng như bạn hữu của những người tham dự cuộc nổi loạn tháng 12/1825 phải biết nhận thức ra sự cần thiết của hình phạt mà người thân họ phải chịu. Trong kỳ xuất bản đầu tiên quyển sách này, Púshkin đã hai lần vẽ lên trang thứ nhất bức ảnh đoạn đầu đài với năm người đàn ông bị treo cổ. Có thể Púshkin muốn Hoàng đế Nicholas I tin rằng nhà thơ đã tha thứ cho Hoàng đế cái hình phạt treo cổ các người khởi loạn. Nhưng cảm tưởng thật của thi sĩ được diễn tả rõ ràng hơn trong bài thơ Lời Nhắn Gửi Tới Siberia(6) viết trong cùng thời gian và được giúi gọn vào tay vợ một người trong “nhóm tháng 12” lúc ấy đang sắp sửa rời khỏi tỉnh thành để đi Tây Bá Lợi Á thăm chồng.

Tháng 7/1827, sau đúng một năm treo cổ năm người phản loạn trong “nhóm tháng 12”, Púshkin đã viết bài thơ Arion, bóng gió tự nói về mình giống như kẻ duy nhất sống sót của một thế hệ bị thất bại mà đại diện là nhóm người nổi loạn tháng 12/1825.

Cuối năm 1827, cũng trong một bài thơ khác, Púshkin đã tỏ lòng thương nhớ của mình cho “nhóm người tháng 12”. Nếu nhà thơ không chia xẻ được những hành động hoặc không thể đồng tình với quyết tâm mà nhóm người này đã trải, thì ít ra ông cũng nói lên được qua thi ca sự ngưỡng mộ lòng can đảm và nỗi thương xót cho số phận không may của họ.


... CÒN TIẾP ...


_________________________________________________

(5) Décembristes (còn gọi Décabristes, phiên âm từ Nga ngữ “Dekabr”, có nghĩa ‘tháng Mười Hai’) là tên gọi của một nhóm nhỏ trong cuộc nổi dậy lật đổ Nga hoàng ngày 26/12/1825, gồm các người trong giới quý tộc có tư tưởng tự do và các sĩ quan trẻ muốn thực hiện những cải cách xã hội và chính trị cho nước Nga kể từ sau cuộc xâm lăng của Napoléon năm 1812. Cuộc chính biến xảy ra nhân dịp lên ngôi của Nicholas I (1825-1855). Nhưng bởi sắp đặt lủng củng và thiếu sự ủng hộ của quần chúng, cuộc nổi dậy tức thì bị dập tắt và những thành viên phải nhận lãnh những hình phạt rất nặng. Trong số 121 người bị đưa ra xét xử trước một phiên tòa đại hình, năm người bị treo cổ, và 102 bị lưu đày khổ sai ở Tây Bá Lợi Á. Nhưng dù thất bại, cuộc nổi dậy cũng đã gây một ấn tượng rất mạnh trên quần chúng, và được các thế hệ sau nhìn như một bước mở đầu cho cuộc cách mạng trong lịch sử cận đại của nước Nga. Trong những thập niên kế tiếp, giới chính trị và các nhà tư tưởng cấp tiến vinh danh nhóm Décembristes như những người tiên phong trong cuộc tranh đấu giải phóng nông nô. Họ cũng cố gắng, trên cách của họ, theo sau bước chân nhóm này.

(6) Có một bài thơ đáp lại thông điệp của Púshkin, gửi ra từ trong chốn tù đày Tây Bá Lợi Á và được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, qua đó, nhà thi sĩ vô danh đã khẳng định rằng “những người trong nhóm tháng 12” rất kiêu hãnh vì sự tù đày của họ và tin tưởng rằng “Những đau đớn khổ ải của chúng ta không hoàn toàn vô ích, Một ngọn lửa sẽ được bùng cháy lên từ những tàn đốm nhỏ nhoi’.” Câu dưới, về sau trở nên là phương châm của tờ nhật báo Tia Sáng Bí Mật do Lénin làm chủ bút.










© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 27.11.2010.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .