CÁI TÂM TRONG ĐẠO PHẬT





Trong Đạo Phật Cái TÂM rất là quan trọng. Người bắt đầu vào tu đã phải PHÁT TÂM. Hành trì gian khổ cũng chỉ để 'đắc cái TÂM". 33 vị Tổ nối nhau cũng chỉ TRUYỀN TÂM cho nhau. Người thầy truyền pháp cho trò gọi là TRUYỀN TÂM ẤN. Tu hành là để Thành Phật, để thực hiện lời Thọ Ký "Chúng sanh là Phật sẽ thành", nhưng "Muốn tìm Phật" thì không phải hướng về Tây Phương hay Đông Phương mà tìm, mà phải "TÌM TÂM". Muốn được Tịnh Độ không phải ăn chay hay tụng Kinh, Niệm Phật, mà phải TỊNH TÂM. Tu hành phải học biết bao nhiêu pháp, nhưng tóm lại thì Ngũ Tổ dạy: "Nếu không thấy Tâm thì học pháp vô ích". BÁT NHÃ TÂM KINH cũng khẳng định: đây là con đường mà "tam thế chư Phật đã y theo để đắc a nậu đa la tam miệu tam Bồ Đề". Tổ Đạt Ma khi sang Trung Quốc cũng nói: "Trời Tây 28 Tổ sư thiền đều lần lượt truyền tâm ấn cho nhau. Ta đến xứ này cũng chỉ truyền một Tâm ấy, không luận về Giới, Thí, Tinh Tiến, Khổ hạnh cả đến việc vào nước, lửa, lên vòng gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm (Thiền), thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo", và "Phật trước Phật sau chỉ nói pháp Truyền Tâm, ngoài ra không pháp nào khác. Nếu thấu rõ pháp ấy thì phàm phu ngu dốt không biết một chữ cũng vẫn là Phật".

Chỗ khác nhau giữa người đạt đến cứu cánh của Đạo và những người rất là thiết tha tu hành và thực hành đủ mọi phương tiện, nào là khổ hạnh, nào là giữ những giới rất nghiêm ngặt, nào là ngồi bất động rất lâu năm, nhưng cũng không thành công, theo Kinh Tâm Địa Quán thì: "Các vị còn trong phàm phu địa, không Quán Tự Tâm nên phải trôi giạt trong bể sinh tử. Chư Phật, Bồ Tát vì Quán được Tâm, nên qua được bể sinh tử, đến bờ Niết Bàn" (tr. 61). Lý do nhiều người tu Phật không biết nên làm thế nào? Bắt đầu ở đâu? là vì họ không nắm được mục đích của công việc tu hành, không biết được rằng Tu Phật chỉ là để "Độ Khổ" hay "trừ Phiền Não" cho bản thân, nên cũng không biết được rằng Khổ hay Phiền Não đều do Tâm và Mắt đem lại, mà đại diện cho những người khi hiểu chưa đúng nên tu hành không thành công chính là Ngài Anan. Cũng nhờ nhân duyên đó, Đức Phật khai mớ cho Ngài mà cũng là cho tất cả chúng ta: "Ông từ hồi nào đến giờ nhiều kiếp sinh tử luân hồi cũng vì Tâm và Mắt. Nếu ông không biết nó ở chỗ nào thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao". Nhân cơ hội này, Đức Phật khẳng định: "Cũng như vị quốc vương, bị giặc đến xâm lăng, đem binh dẹp trừ, nếu không biết giặc cư trú tại đâu thì không bao giờ dẹp được".

Đúng thế, đã không xác định được mục đích thì làm sao sử dụng phương tiện cho thành công? Chưa phân biệt ai là giặc, ai là dân thì làm sao để tiêu diệt giặc dể cho quốc độ của Tâm được an ổn? Đó là những điểm căn bản để người tu hành nhìn lại bản thân, kiểm tra xem bao lâu nay mình đã vào Đạo Phật vì lý do gì? Hành trì như thế nào? Để đạt được điều gì? Đã làm đến đâu? Còn phải làm đến bao giờ?

Nếu biết được thế nào là Phật và tu Phật thì phải làm gì? thì con đường tu hành xem ra không có gì quá cầu kỳ, phức tạp. Nhưng thử tưởng tượng cách đây hơn 2.550 năm, để diễn tả được cái TÂM không phải là điều dễ dàng. Chính vì vậy, Đức Phật phải mượn đủ thứ cảnh, khi nói trong, lúc chỉ ngoài, khi nói về mình, lúc nói về người…để mô tả, làm cho người nghe dễ sinh ra nhầm lẫn. Bằng chứng là trong Kinh Lăng Nghiêm, phải chỉ đến lần thứ 7 thì Ngài Anan mới nhận ra cái Tâm. May thay, càng về sau, chư Tổ cũng lần lần khai sáng ra thêm, ngôn ngữ cũng phong phú hơn, nên chúng ta dễ dàng hiểu được rằng Cái TÂM mà Đức Thích Ca cho là quan trọng nhất, là đầu mối của những dính mắc, mê lầm, đó chính là tư tưởng của chúng ta. Những tư tưởng này, dựa trên căn bản cái Thân khi tiếp xúc với các pháp nảy sinh ra.

Cái tư tưởng, hay còn gọi là CÁI BIẾT, CHO RằNG CÁI THÂN NÀY CHÍNH LÀ TA thi Đức Thích Ca cho đó là CÁI BIẾT MÊ LẦM. Vì sao gọi là Mê Lầm? Vì phát khởi từ cái Thân, là một nhóm Tứ Đại, chỉ tồn tại chừng trăm năm, mục đích là để cho Duyên Nghiệp vay trả với nhau, không trường tồn, không phải Thật Ta. Nhưng từ khi bắt đều hiểu biết, mở mắt ra là phải sống với cái THÂN, nên tưởng lầm đó là chính MÌNH. Vì thế, khi cái Thân phải đối đầu với các Pháp, thì lại đứng vào vị trí cái Thân, cho đó là đến với Mình, rồi Giận, Hờn, Thương, Ghét.. muốn lấy, muốn bỏ, tranh giành với người khác, tạo bao nhiêu Nghiệp chướng, để rồi sau đó phải theo Nghiệp Lực mà Sinh, Tử triền miên trong Sáu Nẻo gọi là Luân Hồi.

Mỗi người đều có một CÁI BIẾT SÁNG SUỐT hay còn gọi là CÁI BIẾT GIÁC NGỘ, nhưng vì bị VÔ MINH che mờ, nên trở thành Cái Biết Mê Lầm. Bản thân nó trường tồn, không Sinh, không diệt, không vướng mắc vào những lục dục, thất tình của các pháp, không khổ, không vui, tự tại, thanh tịnh…Vì thế, người Tu Phật chính là người phải phân biệt được hai Cái Biết này để Phản Vọng, Quy Chân, tức là phải biết rõ điều gì đã làm ra mê lầm để tháo gở, để thanh lọc cái Vọng, trở về với cái CHÂN, thì sẽ được Giải Thoát

Quá trình thanh lọc đòi hỏi phải có Cái BIẾT SÁNG SUỐT để hướng dẫn cho mọi hành động. Chính vì vậy, Đạo Phật đặt TRÍ HUỆ hay Trí Bát Nhã lên hàng đầu, TRÍ này mỗi người cũng đều có, nhưng do quá trình trôi lăn nên bị che mờ, vì thế phải học hỏi, phải tháo gở những lớp mây mờ che chắn. Công việc này mỗi người phải tự làm nên gọi là TỰ ĐỘ, vì không ai có thể hiểu giùm, làm giùm cho ai.

Đạo Phật dù nói thiên Kinh, vạn quyển, nhưng con đường tu chỉ có một hướng duy nhất: QUAY VÀO TRONG MÌNH, nương Kinh văn để TÌM CÁI CHÂN TÂM CỦA MÌNH, để thấy rằng RÀNG BUỘC HAY GIẢI THOÁT CŨNG DO CÁI TÂM MÊ. Hết Mê là Tỉnh hay Giác. Mọi công phu, tu hành đều tập trung ở đó gọi là TU TÂM. Tất cả những phương tiện bên ngoài chỉ là để hỗ trợ mà thôi.

Cũng tương tự như có một người bị nhốt trong một căn phòng, muốn giải cứu cho người đó ra thì phải phá cửa, đập tường, mở khóa hoặc đào đất... cách nào miễn đưa được người đó ra ngoài. Nếu ta chỉ lo đập tường, phá vách, hoặc đào đất mãi mà không giải thoát được người đang bị nhốt trong phòng thì bao nhiêu công sức cũng vô ích mà thôi! Hiểu được mục đích của việc tu hành. Chú tâm vào việc đi tìm Cái THẬT MÌNH. Khi tìm được gọi là THẤY TÁNH hay THẤY ĐƯỢC BẢN THỂ TÂM. Thấy được rồi thì bắt đầu tập sống theo bản chất thật sự của nó mà Kinh dùng thí dụ như sư tử con từ nhỏ bị lạc vào bầy giả can, cũng ăn thức ăn nhơ, cũng kêu tiếng giống như chúng. Từ khi ý thức được gốc của mình là Sư tử thì rống lên tiếng rống oai vệ của loài sư tử và không ăn thức ăn nhơ bẩn của loài giả can nữa.

Con đường tu hành tưởng chừng như cam go, nhiều người phải tìm đến tận nơi Đức Thích Ca đã lập đạo tràng để giảng dạy ngày xưa. Có người đã không ngại gian khổ tìm đến tận Tây Tạng xa xôi, hoặc nương những phương tiện, nào Tiểu Thừa, Đại Thừa, Mật Tông, Hiển Tông, hành Lục Độ, Vạn hạnh,Thiền Định, Trai Giới, Khổ Hạnh… như Đức Thích Ca đã làm ngày trước. Thế nhưng, thật ra chỉ cần hiểu rõ rồi theo hướng dẫn của một quyển Chính Kinh, như Kinh Lăng Nghiêm chẳng hạn, ta thấy Phật dạy thật đơn giản:

"Ông nay muốn đặng đạo Vô thượng Bồ Đề, thì điều cần thứ nhứt là phải hiểu hai món căn bản:

1/- Căn bản của Sinh tử là Vọng Tâm"

2/-Căn bản của Bồ Đề Niết Bàn là Chân Tâm".

Sau khi biết được hai thứ, biết là phải Phản Vọng, Qui Chân rồi, nhưng không biết phải làm như thế nào thì ta lại thấy Phật dạy cho Ngài Anan như sau: "Ông hỏi phương tiện tu hành để độ chúng sanh trầm luân đời sau, vậy ông nên chú ý, ta sẽ vì các ông chỉ dạy: "Này Anan, Ông đã thường nghe ta dạy, tu hành quyết định phải đủ 3 điều:

1/- Dùng Giới luật nhiếp phục Tự Tâm.

2/- Nhơn Giới Tâm mới sinh Định.

3/- Nhơn Định, Tâm phát Huệ.

Đó là Phật nói vắn tắt, nhưng chúng ta cũng phải cần biết thêm là không phải chỉ cần có sức ĐỊNH là đương nhiên sẽ có HUỆ, mà phải Quán Sát, Tư Duy. Chính cái Chánh Tư Duy mới sinh ra CHÁNH KIẾN. Đó là Huệ hay Cái Biết Sáng Suốt để tự hướng dẫn đi tiếp mà Phật Ngôn dạy là: "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi". Người tu sẽ phối kiểm, đối chiếu với chính Kinh để không bị lệch lạc, cho tới khi cái LÝ được hoàn chỉnh thì áp dụng vào cuộc sống, gọi là LÝ SỰ SONG HÀNH, bởi dù chúng ta biết rõ ràng nước dùng để giải khát, nhưng nếu không đích thân uống thì sẽ không thể nào hết cơn khát được.

Tóm lại, dù nương bất cứ phương tiện nào, chỉ cần thấy được Cái TÂM MÊ LẦM để khống chế, điều phục hay chuyển hóa nó, gọi là TU TÂM thì mới thành công, vì mọi Khổ, vui, dính mắc, phiền não, thiện, ác, Sáu Đường, Ba Cõi, Địa Ngục, Niết Bàn, Chúng Sinh, Phật… cũng từ Cái TÂM mà ra. Cứ kiên trì điều phục hay là thanh lọc nó thì việc hoàn tất chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi. Để kết thúc, xin mượn bài Kệ của Tổ Đạt Ma:

TÂM là gốc của muôn pháp lành

TÂM là chủ của muôn công đức.

Niết Bàn thường vui cũng do TÂM mà ra.

Ba cõi lăn lóc cũng theo TÂM mà dậy.

TÂM là cửa, là ngõ của đạo xuất thế,

TÂM là Bến, là Ải của đạo Giải Thoát,

Cửa ngõ đã biết, há lo khó vào?

Bến ải đã rõ, há ngại chẳng thông?


______________________________________________

(Tháng 12/2008)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 27.11.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .