CUỘC HỘI NGỘ NGUYỄN DU - KAFKA

 

BÙI NGỌC MINH


Quản bao nước thẳm non xa
Để ta tìm kiếm cho ra bạn lòng.

(Li tao
– Khuất Nguyên)

    Cổ kim hận sự thiên nan vấn
    Phong vận kì oan ngã tự cư

Đây có lẽ là một trong những câu thơ ám ảnh nhất trong toàn bộ tác phẩm Nguyễn Du. Không ngẫu nhiên chút nào khi các bản dịch Độc Tiểu Thanh kí của các dịch giả khác nhau, tuy có nét tiểu dị nhưng đều gặp gỡ trên đại đồng.

Cụ Bùi Kỉ dịch như sau:

Sự oán hận xưa nay khó mà hỏi trời được
Oan lạ của người phong vận kia tự mình ta buộc lấy mình.

Cụ Đào Duy Anh dịch là:

Mối hận cổ kim khó mà hỏi trời
Oan lạ của người phong vận ta cũng tự thấy có mình ở trong ấy.

Ông Vũ Tam Tập cũng dịch:

Những mối hận cổ kim khó mà hỏi trời được
Ta tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong
nhã.

Đây là cặp câu luận của Độc Tiểu Thanh kí. Từ cuộc đời đau khổ hồng nhan đa truân, sắc tài mệnh yểu của Tiểu Thanh (1594-1612) sống vào triều đại Minh bên Trung Hoa, Nguyễn Du (1765-1820), với sức đồng cảm lạ thường của người có cặp mắt trông suốt sáu cõi, tấm lòng nghĩ tới ngàn đời đã khái quát thành một trong những qui luật của muôn đời.

Hận, oan vốn là những chữ dùng, những khái niệm thường dùng trong văn chương thời cổ trung đại ở phương Đông. Cổ nhân dùng những chữ này để biểu hiện những cung bậc, những sắc thái khác nhau của nỗi buồn nhân thế, thời thế và thân thế. Đó cũng là những chữ mà người xưa dùng để thể hiện sự tự ý thức về bản ngã. Hận là nỗi đau đớn tột cùng không thể giải tỏa, không thể sẻ chia vì những giá trị, những năng lực, những tài năng, phẩm giá... của con người bị lãng quên, bị phí hoài, bị xỉ nhục và lăng mạ. Oan là sự tự ý thức của cổ nhân về các giá trị người bị chà đạp, bị kết tội một cách thậm vô cớ và vô lí. Trong thơ mình, Nguyễn Du chủ yếu thể hiện nỗi đau đứt ruột, xé lòng của mình trước những đau khổ bất hạnh về tâm và thân của những giai nhân tài tử tài mà không được gặp gỡ, tình mà không được hả hê (Mộng Liên Đường chủ nhân): Ai tri âm đó mặn mà với ai- Nỗi mình thêm tức nỗi nhà-Thân sao bướm chán ong chường bấy thân- Biết thân đến bước lạc loài...( Truyện Kiều )

Nỗi đau, nỗi oan của con người, niềm uất hận của những bậc kì tài tuyệt sắc trong thiên hạ xưa đã có, nay cũng có và có lẽ không bao giờ hết được. Nỗi đau ấy, niềm uất hận ấy đến trời cũng không có lời giải đáp. Câu thơ là sự tổng kết, sự nghiệm sinh của thi nhân về chính mình và của biết bao kiếp tài hoa, biết bao kiếp người đau khổ trên cõi nhân gian bé tí này. Nguyễn Du từng điếu Khuất Nguyên (340-278 tcn) bằng Phản chiêu hồn ( Bắc hành tạp lục).Thi nhân Việt Nam không muốn tác giả Li tao trở về. Về làm gì hỡi hương hồn Khuất Nguyên, bởi mặt đất giờ đây, đâu đâu cũng là sông Mịch La, người đời ai ai cũng là Thượng Quan, họ ra vào cười cười nói nói như ông Cao, ông Quì không để lộ nanh vuốt, nhưng nhai xé thịt ngưòi ngọt xớt như đường. Hà cớ gì mà Khuất Bình phải nhảy xuống sông Mịch La tự tử? Bởi cả đời đục riêng một mình ông trong, bởi cả đời say riêng một mình ông tỉnh. Tố Như cũng từng khóc thánh thi Đỗ Phủ (712-770)- người được ông tôn vinh là Thiên cổ văn chương-Thiên cổ sự với day dứt không nguôi: Phải chăng vì thơ hay mà đời khổ, phải chăng vì đời khổ mà thơ hay? Ở ta, Nguyễn Trãi chỉ vì Một niềm trung mấy hiếu- Mài chăng khuyết nhuộm chăng đen- Đêm ngày cuồn cuộn nước triều Đông, chỉ vì tiên ưu hậu lạc mà bị cái án oan thảm khốc tru di tam tộc, khiến người anh hùng phải di hận kỉ thiên niên. Trong thơ chữ Hán của mình, Nguyễn Du còn thổn thức nỗi niềm đau khổ của Nhạc Phi, Tỉ Can, Dương Quí Phi, của cô Cầm (Long thành cầm giả ca), của mấy mẹ con người đàn bà trong Sở kiến hành... Hai lần trong Truyện Kiều và trong Văn tế thập loại chúng sinh Nguyễn Du đã cất lên Đoạn trường tân thanh cùng một lời than:

Đau đớn thay phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?

Rồi:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Nhà thơ Tố Hữu từng thốt lên: Hỡi ôi! Thân ấy biết là mấy thân! Có điều mấy thân cũng chỉ có kiếp đàn bà. Còn trong Độc Tiểu Thanh kíCổ kim hận sự, là Phong vận kì oan. Đau khổ là của chung mọi kiếp người. Cổ nhân có câu:

Mĩ nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Tạm dịch:

Người đẹp xưa nay như danh tướng
Trời xanh chẳng để sống bạc đầu.

Tất nhiên, mệnh đề tài mệnh tương đố không chỉ có ý nghĩa tiền định, mà ở thời Nguyễn Du, mệnh đề này có một nội dung xã hội khá cụ thể. Đây là thời đại xuất hiện hàng loạt tài năng lớn về nhiều phương diện. Ông vua chuyên chế phong kiến luôn cảnh giác trước tài năng, nhất là cái tài kinh bang tế thế. Người có tài có thể làm lu mờ đấng tối cao, thậm chí có thể bị cướp mất ngôi. Chế độ xã hội ấy chỉ chấp nhận người cúc cung tận tụy, thậm chí cuồng tín, ngu tín trước ông vua. Không phải ngẫu nhiên mà trong các phim cổ trang nước Tàu lúc nào kẻ bề tôi cũng luôn luôn lặp lại câu cửa miệng Hoàng thượng sáng suốt kể cả khi hoàng thương rơi vào tình thế bi hài nhất, kể cả khi hoàng thượng ngu tối ban cho kẻ tôi trung chén thuốc đọc hay giải lụa (Cảm ơn hoàng thượng ban chết). Thật là cười ra nước mắt. Cái tài nhiều khi bị đem ra mua vui cho thiên hạ. Vì vậy mới cần đề cao tấm lòng biệt nhỡn liên tài.. Chắc chắn Nguyễn Du không thể không biết đến số phận bi thảm của Huy Quận công Hoàng Đình Bảo, Cống Chỉnh, Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường, Lê Văn Duyệt, cha con Nguyễn Văn Thành..., rồi gia cảnh nhà ông khi kiêu binh nổi loạn ở kinh thành Thăng Long, đặc biệt là những nghiệm sinh về thân phận của chính mình trong mười năm cát bụi. Quả là: Có tài mà cậy chi tài-Chữ tài liền với chữ tai một vần. Thời ấy kẻ có tài năng thường thị tài, cậy tài, khoe tài mà quên mất câu nhắc nhở của cổ nhân: thông minh thánh trí thì giữ mình bằng ngu độn, muốn giữ được đầy thì đổ bớt đi. Ta hiểu vì sao. Tuy là chú vợ vua, làm đến bậc á khanh, quan lộ khá hanh thông mà mỗi khi vào chầu, được vua hỏi tới việc gì ông cũng chỉ vâng dạ cho phải phép. Đã làm quan thì cái cười cái nói cái đi cái đứng đều phải tính toán! Câu tổng kết dân gian: ngu si hưởng thái bình, ngẫm ra thấy quả có lí. Những kẻ chỉ luẩn quẩn trong vòng mũ áo, trong cuộc tỉnh say dẫu có gặp cái cảnh thanh nhàn như hoa thơm buổi sáng, trăng tỏ ban đêm cũng trơ trơ như cỏ cây, như cá chim, lại thường được sống trọn tuổi trời. Lì lạ thay, bất công, ngang trái và oan trái thay! Nhưng đó lại là một sự thực hiển nhiên.

Thế mới thấy tầm khái quát và tình thương Nguyễn Du dành cho thân phận con người mênh mông nhường nào. Con người đặc biệt là người tài, người đẹp chính là sự kết tinh những phẩm giá người cao nhất, lại thường đau khổ. Mang cái tài cái đẹp chính là mang cái mầm mống của khổ đau, mang cái bản án của định mệnh phũ phàng nghiệt ngã... Ngay từ cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Du đã chỉ ra sự bất công của Tạo hoá, sự đành hanh của "máy trời". Thương người như thể thương thân, thương thân như thương người, phải chăng đó là Nguyễn Du? Ông đã nhìn ra trong nỗi đau của đồng loại nỗi đau của chính mình, và trong nỗi đau của chính mình, ông thấy được nỗi đau của đồng loại. Giọt nước mắt khóc nàng Tiểu Thanh trở thành lời điếu cho mọi kiếp tài hoa bạc mệnh, trở thành giọt nước mắt khóc chính mình. Vì sao sắc tài thường khổ ? Vì sao thân phận con người lắm những nỗi đau? Câu hỏi ấy vẫn treo lơ lửng giữa trời xanh. Biết đến bao giờ và ai là người giải đáp hữu hiệu?

Nguyễn Du đã rất đồng cảm với Nguyễn Gia Thiều (1741-1789) trong Cung oán ngâm khúc, khi ông này viết :

Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.
...
Cái quay búng sẵn trên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.

và với Đặng Trần Côn- Đoàn Thị Điểm (?) trong Chinh phụ ngâm :

Xanh kia thăm thẳm tầng trên
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Câu hỏi ấy thực Thiên hà ngôn tai (!). Còn nhớ Hê- ghen, nhà triết học Đức thế kỉ XIX từng nhận xét rằng : trong văn học hiện tượng định mệnh là hiện tượng bi kịch của người tốt. Với Nguyễn Du, những bậc tài hoa phong nhã luôn luôn phải chịu cái gọi là phong vận kì oan mà ông không tìm thấy lời giải đáp hữu hiệu trong triết lí thiên mệnh của Nho học, duyên nghiệp quả báo của Phật học, tướng số của đạo Lão... Dường như, nhà thơ của chúng ta đã linh cảm được giải tần mờ của cuộc đời đầy bí ẩn. Lịch sử có những sự trùng hợp lạ kì.Năm 1965, khi cả thế giới long trọng kỉ niệm 200 năm ngày sinh đại thi hào danh nhân văn hoá Nguyễn Du, cũng chính là năm nhà toán học người Mĩ Lôtfi Zadeh công bố lí thuyết lôgic mờ trong một bài báo có tên Các tập mờ. Nhưng mãi đến đầu thế kỉ XX, F. Kafka (1833-1924)- một nhà văn gốc Do Thái nói tiếng Đức sống ở Tiệp Khắc cũ dưới ách đô hộ Áo - Hung, được Phương Tây suy tôn là một trong ba ông tổ của văn học hiện đại chủ nghĩa, mới phát hiện ra cái điều mà Nguyễn Du đã nói trước đó hơn một trăm năm. Trong các tác phẩm của mình F. Kafka đã thể hiện: "Cảm giác về sự không có tự do của con người, về sự lệ thuộc của con người vào những thế lực bất hợp lí nào đó ở ngoài con người và chi phối bắt con người phục tùng "(1).

Trong Vụ án, nhà văn này mô tả câu chuyện về một viên chức ngân hàng, mang cái tên Jôzep K. bỗng dưng bị một toà án vô hình kết tội. K. không biết mình có tội gì. Toà án cũng không biết...Cuối cùng K. bị dẫn đi hành quyết đúng vào sinh nhật lần thứ ba mươi của mình. Đao phủ chọc dao vào ngực K. và ngoáy một cái. Kafka kết thúc thiên truyện của mình bằng kết luận: K. chết như một con chó

Thân phận K. là thân phận con người bị kết án bởi một toà án vô hình, tựa như tội tổ tông trong Thánh kinh đạo Gia-tô, tựa như tội mà đạo Phật quan niệm trong câu Đức Thích- Ca- Mâu- Ni trả lời con quạ: Con khổ vì con có cái thân của con, và dường như có cả sự khúc xạ những ám ảnh của Kafka về thân phận con người trong xã hội tư sản hiện đại, khi bóng đen của chủ nghĩa phát xít đang đến gần, trước thảm hoạ do mặt trái của nền văn minh hậu công nghiệp ngày nay gây ra.

Sự hội ngộ Nguyễn Du - Kafka phải chăng là sự gặp gỡ Đông - Tây? Điều này còn chứng tỏ chủ nghĩa duy lí phương Tây không phải bao giờ cũng hữu hiệu hơn cảm quan trực giác huyền diệu phương Đông khi khám phá hiện thực đời sống. Sự hội ngộ này khiến những bộ óc sùng ngoại nhất cũng phải bừng tỉnh. Không hiểu vì sao viết đến đây tôi bỗng cảm thấy cái câu: Phương Đông là phương Đông- Phương Tây là phương Tây của nhà thơ Anh quốc Kiplinh thật vô nghĩa.



Vạn Xuân,10-1995, Vân giang 10-2011

____________________________________________________

(1) Suxkôp - Truyện ngắn phương Tây thế kỷ XX (tập I)- Nhà xuất bản Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội 1998.
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả ngày 17.11.2010.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.