TÁC GIẢ
TÁC PHẨM



NGUYỄN VĂN HOA


Sinh ngày 8 tháng 9 năm 1946 tại Thôn Tháp Dương, xã Trung Kênh, huyện Lương Tài , Bắc Ninh.

. Tiến sĩ Kinh tế. ( bảo vệ tại CHDC ĐỨC 28-2-1987)
. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội
. Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội.

TÁC PHẨM XUẤT BẢN :

- Sếu Đầu Đỏ (tập thơ), 1998.
- Mưa Trong Thơ Việt (sưu tầm, tuyển chọn), 1996.
- Miền Quê Kinh Bắc: tuyển thơ cổ và kim (sưu tầm, tuyển chọn), 1997
-Tuyển Tập Thơ Văn Xuôi Việt Nam và Nước Ngoài ( biên soạn cùng PGS. TS Nguyễn Ngọc Thiện, Viện Văn học).
- Chân Dung Các Nhà Kinh Doanh Nổi Tiếng Thế Giới ( biên soạn cùng Nguyễn Hữu Viêm, Thư viện Quốc gia).









Tranh của họa sĩ Lê Đọi





GIẢI MÃ NGHỀ BUÔN QUA
CA DAO TỤC NGỮ THÀNH NGỮ VIỆT NAM


. PHẦN THỨ I .




1-Khái niệm nghề lái buôn :

Dân gian có câu :"Mồm cá chép, mép lái buôn" hoặc "Thật thà cũng thể lái trâu" , "Lái buôn nói ngay, bằng thợ cày nói dối", "Phi thương bất phú", "Giàu nhà quê không bằng ngồi lê thành phố". Về thứ hạng họ bị xếp cuối cùng trong xã hội cũ: Sỹ - Nông - Công - Thương. Là người đã gắn bó với ngành thương nghiệp gần 40 năm, nhưng Tác giả nghiên cứu lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà nội xin giới hạn của đề tài lời ăn tiếng nói này:

- Giữa thương nhân với chính quyền lời ăn tiếng nói của thương nhân thế nào ? (ví dụ Uỷ ban, công an, phóng thuế, quản lý thị trường...)
- Giữa thương nhân - thương nhân: Họ là bạn hàng, họ là đối thủ cạnh tranh, do vậy " bí mật nghề nghiệp" trong lời ăn tiếng sẽ khác khi tiếp xúc với chính quyền và cũng khác với đối tượng dưới đây:

. Giữa thương nhân với người tiêu dùng;
. Giữa thương nhân Hà nội với khách hàng nước ngoài ;
. Các lời ăn tiếng nói trên có sự giống nhau và khác nhau .

Tác giả đề tài cũng nghiền ngẫm về nguồn gốc lời ăn tiếng nói của thương nhân do đâu mà hình thành:

- Do những người đánh cá (Theo Trần Quốc Vượng thì nghiên cứu văn hoá dân gian Hà nội phải xuất phát từ cư dân đánh cá ven sông Tô Lịch, Sông Lừ và sông Kim Ngưu ngày xưa, họ là người sớm đánh cá rồi lại mang cá ra chợ bán để mua những thứ cần thiết cho cá nhân và gia đình mình).
- Do những người thợ thủ công ở các nơi tụ hội về kinh thành này (Mặc dù sau 1888 Hà nội trở thành thành nhượng địa của Pháp), thợ thủ công Hà nội không bị đưa hết vào Kinh thành Huế. Do vậy thương nhân kiêm thợ thủ công vẫn tiếp tục ảnh hưởng mạnh mẽ đến tiếng nói lời ăn của thương nhân Hà nội Nơi tôi ở là Phố Bùi Xương Trạch có đền thờ ông Tổ nghề Kim hoàn, làng này vốn là nơi giam giữ tù binh thợ thủ công kim hoàn người Chàm, nay vẫn còn gọi là Làng Chàm, người làng này nay hành nghề chế tác, kinh doanh ở phố hàng Bạc rất nhiều.
- Do người tiêu dùng là đối tác giao dịch bắt thương nhân phải tuân theo lời ăn tiếng nói này. (Mỗi tầng lớp dân cư có văn hoá - kinh nghiệm - tuổi tác - địa văn hoá khác nhau).
- Do thương nhân mang đặc thổ sản đến bán ở Hà nội cho thương nhân bán buôn bán lẻ - hoặc cho người tiêu dùng mà hình thành lời ăn tiếng nói của thương nhân (Bưởi Đoan Hùng, Bưởi Phúc Trạch, Nhãn Hưng Yên, Vải thiều Hải Dương, Cam Bố Hạ Rượu San Lùng (Lào Cai), Bánh Đậu xanh Rồng vàng (Hải Dương)...;
- Do thương nhân ngoại tỉnh vào mở cửa hàng cửa hiệu ở Hà nội cũng rất nhiều ví dụ Bún Bò Huế, Cà phê Trung Nguyên, Phở Nam Định, Vịt Vân Đình, bún Cá Thái Bình, Bún Bò Nam Bộ;
- Do các tác giả vô danh, các nhà nho " Có chữ " đặt ra. Ví dụ các câu " Mua quan bán tước ", "Bán nước hại dân ", " buôn thần bán thánh ".
- Do thương nhân nước ngoài mang ngoại ngữ , thông lệ quốc tế trong buôn bán vào Hà nội (ví dụ bán hàng giao ở mạn tầu FOB, giao hàng đến cảng đến CIF , DUU là giao hàng đến chân công trình, giao hàng ở Biên giới DAF, vận đơn B/L , thanh toán tiền bằng thư tín dụng L/C ...).
- Mượn lời ăn tiếng nói của thương nhân để ám chỉ việc khác không phải là buôn bán ví dụ "Chưa đến chợ đã hết tiền" (chỉ nam giới yếu sinh lý);
- Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài không đi vào lĩnh vực thương nhân làm ăn phi pháp như nghề buôn ma tuý, nghề mại dâm, nghề buôn lậu, nghề trốn thuế, nghề cửu vạn, hoặc ngôn ngữ của thương nhân với Bọn cặn bã xã hội Khánh Trắng- Phúc Bồ "bảo kê" lộng hành tác oai tác quái hàng bao nhiêu năm đối với thương nhân ở chợ Đồng xuân - Bắc qua Hà nội. Cũng không nghiên cứu lời ăn tiếng nói của bọn buôn bán ma tuý khoác áo công an Vũ Xuân Trương, cũng không nghiên cứu lời ăn tiếng nói của Thạc sĩ Luật học Ngô Văn Thà kinh doanh gái mãi dâm ở Quảng Bá -Hồ Tây "Công Dung - Lưu Ly" và đề tài không đề cập đến ngôn ngữ "chợ đen" buôn bán bằng cấp các loại hoặc đề thi ở Phố Tạ Quang Bửu (trước Bộ Giáo dục và Đào tạo). Không nghiên cứu lời ăn tiếng nói của bọn buôn phụ nữ bán ra nước ngoài làm gái điếm.

Cũng cần làm rõ thế nào là thương nhân và thế nào là thương nhân Hà nội? Luật Thương mại của CHXHCN Việt Nam ban hành năm 1997 cũng không nêu được khái niệm thế nào là thương nhân mà chỉ thống kê thương nhân gồm những ai . Tại điều 5 và điều 6 của Luật ghi : "thương nhân gồm cá nhân, pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên " .

Còn thương nhân Hà nội là ai? Căn cứ vào Hộ khẩu, căn cứ vào địa điểm cố định kinh doanh ư? Có người ngoại tỉnh nhưng lại có điểm cố định, nhưng có người có hộ khẩu nhưng lại không có vị trí cố định, cửa hàng cửa hiệu nay chỗ này mai chỗ khác? Quán Cà phê Trung nguyên Thương hiệu của chủ nhân ở Tây nguyên, những thương nhân Hà nội phải mua 20 triệu đồng rồi mở quán Cà phê Trung nguyên, vậy có liệt kê họ vào thưong nhân Hà nội không? Quán Huế (bún bò giò heo và bittết Bò) của cô chủ quán người Huế (đã bỏ chồng lấy một ông Tây để thêm một đứa con gái) có phải là thương nhân Hà nội không?. Các thương nhân nước ngoài đầu tư vào Hà nội mang pháp nhân Việt nam, kinh doanh trên đất Hà nội có kể họ là thương nhân Hà nội không? Hội chợ liên miên ở Khu triển lãm Giảng Võ, Cung Hữu Nghị và Khu Triển Lãm Vân Hồ thương nhân các tỉnh về bán hàng khía cạnh nào bắt họ vào " khuôn phép" cung cách phục vụ kiểu thương nhân Hà nội?.

Theo tôi ai đã buôn bán ở đất thủ đô bất kể nguồn gốc (không theo Hộ khẩu, không phụ thuộc vào thời gian kinh doanh - ban ngày hay ban đêm lưu động hay cố định, siêu thị hay chợ búa thì phải tuân thủ cung cách của thương nhân Thủ đô nghìn năm đang tiến lên văn minh và hiện đại. Như vậy đề tài đề cập đến tất cả loại người thương nhân trên thương trường Hà nội từ người quẩy quang gánh bán cốm Vòng len lỏi giữa phố phương đông đúc. Tôi cứ nghĩ chắc từ thời Lý Công Uẩn dời đô ra Thăng Long thì người bán cốm vòng vẫn không có gì thay đổi. Nét xưa của lịch sử vẫn còn nguyên vẹn: Bà già răng đen, quần đen, khăn mỏ quạ, đi chân đất, lá giáy đậy trên các thúng cốm, bó rơm giắt vào bên quang, cồm bẹt xanh rờm thoảng thoảng hương. Cổ giữa thành phố mới mọc lên những ngôi nhà chọc trời. Ông đồ giá bán chữ Nho đã chết, nhưng bà bán cốm vẫn còn giữa hồn nước Việt qua bao thăng trầm lịch sử. Tiếng rao trong trẻo của Người bán cốm Vòng còn vang vọng vào mùa thu với hoa sữa thơm nồng thì Hà nội sẽ còn mãi. Tâm tưởng tôi còn vang vọng mãi tiếng rao đúng vào ngày mồng một Tết của người bán muối : "Muối ơ, Ai mua muối ở" . "đầu năm mua muối, cuối năm mua dầu". Chắc ngày xưa là đôi quang gánh đi bán muối, nhưng bây giờ là chiếc xe đạp và một bao muối lặn lội vào từng ngõ ngách của phố phường ngày đầu năm. Rất lạ, không ai sợ người bán muối mồng xông nhà đầu năm. Họ đổ ra mua như một tập tục tốt đẹp của người đân Việt nói chung và Hà nội nói riêng , Tôi cũng chứng kiến khách Việt nam bị mếch lòng khi Thưong nhân 36 Phố cổ chỉ thích phục vụ Tây để lấy Đô la, có lẽ cơ chế thị trường là vọng ngoại tệ .là sùng bái tiền bạc là "trăm hơn không bằng hơn tiền". Phải chăng mở cửa đã làm phai nhạt đi cái thanh lịch của người Hà nội xưa. Cái nhìn khinh khỉnh, cảnh lạnh nhạt với người mua Việt thật trái ngược khi thương nhân nhanh nhẩu, săn đón xum xoe trước "ông Tây Bà Đầm và tiếng Anh tiếng Pháp xổ ra như mưa" .Thật thương hại cho những thương nhân hoặc người làm thuê đã hạ thấp nhân phẩm của mình.

Luật Thương mại mới điều chỉnh hành vi thương mại (điều 45). Trong 14 hành vi này chỉ có một hành vi được coi là thương mại hàng hoá, còn lại 13 hành vi khác chủ yếu là các hoạt động dịch vụ gắn liền với hành vi thương mại hàng hoá như môi giới, uỷ thác, đại lý, đấu giá, đấu thầu, giám định hàng hoá. Hành vi thương mại hàng hoá do Luật thương mại điều chỉnh cũng chỉ là hành vi mua bán. Trong khi đó hiệp định thưong mại Việt - Mỹ đã có hiệu lực (gồm thương mại hàng hoá, thương mại trong sở hữu trí tuệ, thương mại dịch vụ và thương mại liên quan đến đầu tư), Việt nam đã gia nhập ASEAN, APEC, đang tích cực chuẩn bị gia nhập WTO. Do vậy nội dung về thương mại đã bao gồm cả quyền sở hữu trí tuệ, hoạt động thương mại dịch vụ như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, kiểm toán, kế toán, tư vấn pháp luật đóng vai trò ngày càng quan trọng trong tương lai. Gợi nên những khái niệm này để biết lời ăn tiếng nói của thương nhân xưa, nay và tương lai sẽ ngày càng mở rộng và phát triển. Nó kế thừa những lời ăn tiếng nói xưa và nó tiếp thu ngôn ngữ ngoại lai có chọn lọc và phải chấp nhập tập quán quốc tế. Thậmchí những hợp đồng xuất nhập khẩu, tạm nhập tái xuất ,gia công xuất khẩu , thuê mua tài chính phải dùng song ngữ tiếng Việt và ngoại ngữ (Anh, Pháp, Hoa, Nga, Đức) và có giá trị pháp lý như nhau.

Trong đề tài, xin phép tôi gọi tất cả họ là Thương nhân.

Về không gian đề tài chọn Hà nội . Nhưng rõ ràng từ 1888 đến nay Hà Nội đã có sự thay đổi về không gian rất nhiều (trong đó có các tên gọi đã thay đổi rất nhiều - Tô Hoài, Bùi Thiết đã có nhắc đến ví dụ Phố Tràng Tiền đã có thời mang tên là Phố Pháp quốc, nhưng lại có Bách hoá tổng hợp nên đã đi vào tâm thức của rất nhiều thế hệ khách hàng Hà Nội, miền Bắc và cả nước; hoặc như các huyện ngoại thành thậm chí cả thị xã Sơn Tây đã có thời cũng thuộc Hà nội. Các huyện ngoại thành bị đô thị hoá nên mất đất, thất nghiệp, nên đổ xô vào các chợ tạm, chợ lưu động để mưu sinh, nên số lượng người buôn bán nhỏ ở Hà nội ngày càng đông theo nhịp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của cả nước. Những năm gần đây lớp trẻ nhỏ " xa mẹ" cơ nhỡ bán báo tràn ngập các quán bia hơi, bến xe, vỉa hè, thuận tiện, kịp thời phục vụ bạn đọc, nhưng có khi dùng loa Pin với những "Lời ăn tiếng nói" rất thiếu văn hoá " Giết người đây! Bán dâm đây! Hiếp dâm đây ! Khánh Trắng đây, Phúc Bồ đây Năm cam đây ! Báo đây !" Cứ ra rả chọc tức vào tai khách đi đường. Lớp thương nhân này đã làm méo mó hình ảnh của thương nhân thủ đô Hà nội thanh lịch, có văn hoá.

Theo cuốn Nguyễn Đình Đầu: Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại (Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh 1999) thì: Tác giả chia ra thời kỳ dựng nước dài 2671 năm, Thời kỳ đấu tranh giành độc lập (Triệu Đà - 206, Ngô Quyền 938 dài 1088 , nhà tiền Lý quốc hiệu Vạn Xuân 68 năm, thời kỳ độc lập tự chủ (Đại cổ Việt, Đại Việt Quốc hiệu Đại ngu của nhà Hồ chỉ tồn tại 7 năm 1400-1407), thời kỳ thống nhất lãnh thổ từ 18 : Đại nam hay ĐạiViệt nam. 1945 VNDCCH và 1976 CHXHCNVN.
Về khoảng thời gian, đề tài này chọn mốc từ năm 1888 đến nay là hợp lý. Khởi đầu của mốc này là đất nội thành Hà Nội bị biến thành nhượng địa của Pháp. Cũng là năm Việt nam ta mất nhà thơ ái quốc vĩ đại Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888).

Tôi nghiên cứu vấn đề này lấy mốc từ năm 1888 là năm mà Hà nội là "nhượng địa "của thực dân Pháp, triều đình Nguyễn hết quyền, hết lợi lộc đối với Hà Nội. Tây thực dân biến Hà Nội thành thủ phủ của năm (05) xứ Đông Dương thuộc Pháp, với một phủ toàn quyền, một phủ thông sứ, một toà đốc lý. Hà Nội có Ngân hàng Đông Dương, có Nhà hát Tây, những khu phố Tây, vườn Bách thú - Bách thảo với một Sở thú và cólàng Hoa.

Nửa sau thế kỷ 19 theo Trần Quốc Vượng Việt Nam là nông nghiệp dựa trên nền tảng xã hội tiểu nông: Nông dân - nông nghiệp - xóm làng -Folklore, trong lúc thế giới Tây phương đã công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Việt nam đứng trước nguy cơ bị mất nước là lẽ tất nhiên.
Hà nội vùng địa linh nhân kiệt, thương nhân Hà nội cũng có người khi hoá đã trở thành một trong các vị thần được thờ cúng ở Hà nội. Điều đóa nó có ý nghĩa rất to lớn về tâm linh:

- Ai có công với dân với nước mà linh hiển thì đều được hương khói muôn đời ;
- Như vậy nghề lái buôn - thương nhân cũng là một nghề được dân gian tôn trọng.
- Đền thờ này còn có tác dụng giáo dục hậu thế khi đến khẩn cầu.
- Lái buôn thông thương đều rất mê tín do vậy khi thương nhân đương thời đến các đền thờ các vị thần thương nhân này đều sẽ tự hào về nghề nghiệp của mình và ngẫm nghĩ về thân phận của mình. Có lẽ những đức tính xấu vốn có của thương nhân tự thân đào thải hoặc họ sẽ vươn lên Chân - Thiện - Mỹ .

Truyền thuyết cho rằng Ba làng Yên Thái, Bác Ân và Tiên Thượng đã được vua Lý cho lập đền thờ thương nhân bán dầu tên là Vũ Mục và vợ là Vũ Phục. Lý do là vua Lý đang bị bệnh đau mắt. Vì tin lời bọn mê tín dị đoan cho rằng nếu ném người nào sáng sớm đi sang sông đầu tiên thì nhà vua sẽ khỏi bệnh đau mắt. Thương nhân này bị chết oan và người vợ thương nhân này cũng tuẫn tiết theo. Dân gian nhiều người giả vờ "ngồi đồng "để oán giận sự tàn bạo của vua và lũ mê tín dị đoan (Bác Hậu Hội Văn nghệ dân gian Hà nội hôm 3-1-2003 đi thăm K9 nói là có Thàn phả về thần thoại này. Các cụ làng này kể: có nhiều đền thờ vợ chồng ông bà này kéo đến tận Việt Trì ? Ngày 25 tháng Chạp đón Tết Quý Mùi, Bác Hậu đã cho tôi xem cuốn Lãng đãng Hồ Tây của Đào Ngọc Du Hội Nhà văn Hà nội xuất bản năm 2000. Trang 45-46-4748-49-50 đã viết : " Tiến sĩ Nguyễn Công Cơ cùng tiến sĩ Nguyễn Trạc Dụng (An Thái), tiến sĩ Nguyễn Đình Hoàn (Bái Ân) đã thảo thần tích về Ông Dầu , bà Dầu vào triều Vua Lê Hy Tông (1680) . TRuyền lại rằng vào cuối đời vua Nhân Tông triều Lý (1072-1126) có ông Võ Phục - tên chữ là Phúc Thiện - quê quán ở Phong Châu (nay là huyện Bạch Hạc), qua ở xã Minh Cảo, huyện Từ Liêm. Ông lấy vợ người làng, nhà họ Đỗ ở ngõ Bảo Tháp, vợ chồng lấy nghề buôn bán dầu trẩu sinh sống. Lúc bấy giờ nhà vua đột nhiên bị đau mắt nặng, thuốc thang chữa trị mãi không khỏi, nghe tin ở Kim bảng, núi Vân Mộng có ngôi chùa cổ có thầy Quý cốc tiên sinh rất giỏi liền cử người đến xem. Thầy gieo quẻ: trong quẻ ẩn chứa hình tượng vua chúa. Nhà vua xây dựng cung điện trong kinh đô bị dòng nước từ hướng Kiền Tuất như mũi tên bắn lại nên bị động đến long thể và kinh thành, do đó phải tìm cách trấn trị (trang 45) thì mới bảo đảm thành trì và long thể. Lúc ấy sông Thiên phù và Tô lịch đến đấy cùng hợp chảy vào phía Tây Bắc thành Thăng long. Nay phải làm thế nào chặn dòng chảy lại. Nhà vua nghe xong liền than rằng : "Nay nhân lực vật lực đã quá hao tổn, ta biết làm sao bây giờ ". Vua bèn sửa soạn, trai giới, lập đàn cầu đảo Bách Thần, mong thần linh giúp lấp quãng sông ấy. Một mặt sai quan Trung sứ đến ngã ba sông đốt hương cầu khấn. Hỡi thần linh linh thổ địa, Hà bá tiêu quan, ngày nay từ lúc mặt trời mọc đến lúc chiều tà thành vàng nghìn dặm không thấy gò đống, nay bằng bói khoa thấy thành Thăng Long bị dòng Kiến Tuất chảy ngang sói quá . Nếu lấy sức người chặn lại thì không nổi, nay khẩn cầu Bách thần trợ giúp nhanh chóng sao cho nổi bãi phù sa ngăn dòng nước, để thánh đế được an khang, thành trì được vững chắc lâu dài. Nếu thần sông có linh thiêng xin cho báo ứng. "Khấn xong thấy tinh thần mệt mỏi, liền thiếp đi, đêm ấy (trang 46 in sai là đên) sứ mộng thấy thần nhân hiển hiện, có người trần tục quần áo khác thường, từ trên không đến thẳng trước mặt Sứ chắp tay cúi đầu lạy hỏi: " Thưa, nay muốn lấp chỗ sông ấy thì phải làm thế nào?". Thần nhân nói rằng: "Về nói với nhà vua, muốn lấp sông hãy chọn ngày nào đó, từ sớm đến chiều, thấy người đầu tiên đến chỗ sông ấy thì giữ lại, hỏi người ta thích gì thì ban cho người ta, rồi ném vào quãng sông giữa dòng chảy, sau phong làm Phúc Thần, đền miếu Thờ cúng. Thần nói xong tự nhiên biến mất. Sứ giả kinh hoàng tỉnh giấc, trong bụng vẫn nhớ đinh ninh lời thần trong mộng, liền về tâu nhà vua lời thần chỉ bảo. Vua lấy làm lạ, muốn nghiệm lời thực hư thế nào bèn cử sứ đến quãng đường mé sông ấy nấp đợi. Vào tờ mờ sáng chưa rõ mặt người, sương mù mờ mịt đã thấy vợ chồng Võ Phục vai quảy gánh dầu từ làng Cảo đi tới, sứ bèn giữ lại không cho đi. Võ Phục ngạc nhiên hỏi: "Vợ chồng lão phu sớm đi tối về, chỉ biết lấy nghề buôn bán dầu sinh sống, nay quan nhân vô cớ giữ lại, thì đây là việc phúc hay tai hoạ. Sứ thần nói: " Xin hãy đợi ". Nói rồi sứ bèn lên ngựa về tâu với vua: " Thần vâng lệnh canh đợi quãng đường ấy, nay chỉ thấy hai vợ chồng ông bà già buôn bán dầu là người đầu tiên đi đến. Thần đã giữ lại, nay về tâu xin ý kiến bệ hạ nên khu xử thế nào?. " Nhà vua trầm ngâm suy nghĩ lúc lâu rồi phán: "Hãy y lời mộng thần chỉ bảo, xem thực hư thế nào!". Sứ thần liền trở lại, lấy lời lẽ khuyên bảo. Võ Phục điềm nhiên nói: "Chết ta há tiếc, công danh cũng khó mà mua được, huống hồ con người ta sinh ra ở đời chẳng hay ôm vàng giữ ngọc, gặp lúc để tiếng thơm muôm đời sao nỡ cúi đầu khư khư giữ mạng sống ở cõi đời thế ru! Xin sứ cho về nhà cùng em trai để giao phó việc nhà rồi xin trở lại theo lệnh vua.". Sứ thần nói: " Không được, theo lời thần linh chỉ bảo trong mộng thì mệnh của ông bà chỉ nội nhật ngày hôm nay, sở nguyện của ông bà thế nào thì xin cho biết !". Võ Phục nói: "Mùa xuân ca xướng, hát múa, yến tiệc, thịt gà mái ghẹ ăn với cơm nếp đậu xanh, xôi dẻo bò béo, đó là sở thích của ta vậy". Sứ thần tức thì sai ngtười mổ gà đồ xôi, các thứ đầy (sách in sai là đầu) đủ mời hai ông bà ăn no. Ăn xong ông ngửa mặt lên trời nói rằng: " Nay vợ chồng ta (trang 48) bỏ mình cứu nước lấy cái chết để cứu vua, trời cao có biết cho xin hãy chứng giám" Nói xong tự nhảy xuống giữa dòng sông mà chết, lúc ấy đúng ngày 30-11(âm lịch). Lại nói ông em trai ở nhà, được tin anh chị tuẫn tiết, kinh hoàng khóc lóc thảm thiế , vội vàng đi xuống đến Ao Cả, Quán Cây nhìn sang chỗ anh chị tuẫn tiết, bốn bề vây kín, quan quân canh giữ nghiêm mật, cấm người qua lại. Ông uất ức ngậm hờn bèn đập đầu vào mắt gốc cây to ở đấy mà chết giữa ngày mồng 6 tháng Chạp. Sau này vua cấp sắc phong là: "Chiêu Điều Đại Vương". Từ đấy trở đi, bãi phù sa nổi lên ở dòng sông, nước bình lặng chảy. Bệnh đau mắt của nhà vua dần khỏi. Nhân dân lập miếu phụng thờ phong làm phúc thần, tìm đến con cháu cho về ở phường Tục Lâm, nay là Phường Yên Thái, trông nom lăng tẩm. Đến nay trong phường con cháu giòng họ Võ vẫn còn ở mấy xã ven thành . Năm Đinh Mùi , vương hiệu Thiên Phù Khánh thọ năm đầu, nhà vua cho xây dựng đền miếu thờ cúng. Nhà vua giao cho phường Yên Thái - Bái Yên và nhiều nơi thờ cúng, đến nay đã hơn 600 năm từ 1072-1126 đời Lý Nhân Tông đến 1680 (mấy ông tiến sĩ đời Lê Hy Tông) hương khói không bao giờ tắt, rất linh ứng! Dân trong vùng cảm công đức đại Vương, một lòng thờ cúng, mùa nào thức ấy đầy đủ. Vua hàng năm tế lễ long trọng. Đến nay làng Minh Cảo, xóm NGõ Dấu vẫn còn nền nhà cũ của Đại Vương, dân gọi là đất Cấm địa. (trang 50). Cảm ơn Nhà giáo Văn Hậu đã cung cấp thông tin này. Qua thần phả này tôi nhận thấy: Lái buôn chết vì vua để được hương khói đời đời thì thật đúng câu: "Mua danh ba vạn, bán danh ba đồng" hiếm người lái buôn nào mà may mắn như Võ Phục.

Tại Đền Đại Yên phường Ngọc Hà Hà nội có đền thờ Ngọc Hoa con gái người buôn bán tôm cá tại chợ An Bản. Truyền thuyết cũng kể rằng tại để nắm chắc địch tình cô gái xinh đẹp này đã hoá trang thành thương nhân trong vùng quân Chiêm Thành tạm thời chiếm đóng. Nhờ nắm chắc tình hình quân địch nên đã giúp quân của Lý Thường Kiệt đại phá quân Chiêm Thành ra khỏi Kinh thành Thăng long.
Truyền thuyết rất đẹp trên đã khơi dậy cảm hứng cho tôi nghiên cứu về lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà Nội.

Theo Lịch sử Việt nam tập 1 Nhà xuất bản khoa học xã hội năm 1976 (tác giả tập thể) tại trang 48 Truyền thuyết Mường thì trống đồng đầu tiên được đúc dưới thời vua Dịt Dàng? sai đúc hàng trăm, hàng nghìn trống đồng, trống nào đẹp thì để lại kho, trống nào xấu thi sai mang đi bán. Năm 1964 Malaixia tìm thấy 2 trống đồng loại 1, năm 1967 biển đông Malaixia lại tìm 2 trống đồng tương tự trống Hữu Chung (Hải Hưng). Như vậy ngoại thương của Việt nam đã có rất sớm.

Nhà Hán cấm buôn bán đồ sắt cho Nam Việt chủ yếu cốt chặn nguồn tiếp tế vũ khí cho Triệu Đà, cốt phá mưu đồ cắt cứ của họ Triệu. Trang 97 của cuốn Lịch sử này cho rằng: Ngoài cây trồng, bấy giờ nhân dân ta cũng khai thác nhiều loại gỗ quý, đặc biệt là gỗ trầm làm hương liệu dùng trong nước và xuất khẩu. trang 110 năm 262 nhà Ngô sai đặng Tuân sang ta để cùng với viên thái thú bắt hàng nghìn thợ thủ công giỏi người Việt đi xây dựng kinh đô Nam Kinh.Trang 124 ghi thế kỷ 7,8 trên mặt biên, thuyền bè qua lại, buôn bán tấp nập, có thuyền buôn qua lại thường xuyên giữa nước ta và Quảng châu (Đường). Ngựa thục đã bán sang lưu vực sông hồng. Cũng theo cuốn sử này thì nhiều lái buôn Trung á, lái buôn người Hồ, đã đến nước ta buôn bán, người Chân lạp sang mua ngựa và khí giới. Thuyền buôn Mã lai, ấn Độ, Gia Va, Ba Tư, Ả Rập mang hương liệu, thuốc men, đồ thuỷ tinh, đồ sắt, đồ thiếc, gia vị tới Giao châu buôn bán, thương thuyền các nước còn buôn bán cả nô tỳ. Thương nhân ở các đạo miền nội địa Trung quốc đem đồ sứ, chè, thuốc, bước sang bán ở miền đất nước ta, hàng hoá xuất cảng của ta có lâm thổ sản và các mặt hàng tơ lụa. Nhà Đường cấm buôn bán với thương nhân nước ngoài. Năm 1040 Lý Lý Thái Tông quyết định dùng vóc trong nước để may lễ phục cho vua quan, không mua gấm vóc của nước ngoài. Theo cá nhân tôi (NVH) Đây là thông tin rất quý không chỉ thấy được trình độ sản xuất của Việt nam mà còn thể hiện tính tự tôn dân tộc rất cao của Nhà Lý . Nghề mỹ nghệ làm đồ vàng, bạc đã đạt đến trình độ tinh tế. Trang 158 việc lưu thông hàng hoá và trao đổi hàng hoá sản phẩm nhờ đó được mở rộng. Các chợ tiếp tục mọc lên ở nhiều nơi làm trung tâm trao đổi của thị trường địa phương. Hoàng Thành đã chia ra thành những phố phường chuyên buôn bán loại sản xuấtmặt hàng và có những chợ tấp nập như chợ đông, Chợ Tây, chợ Nam..., Quan hệ buôn bán với người nước ngoài phát đạt, Trung quốc, Champa, dọc biên giới Việt nam - Trung quốc có những trung tâm buôn bán lớn Vĩnh Bình, Hoành sơn, Khân Châu, hàng hoá có: Hưong liệu, sừng tê, ngà voi, cá, muối, gấm vóc, giấy bút... Cũng tại trang 158: Xiêmla, Indonexia đến Ta bằng đường biển. Thuyền buôn đến Vân Đồn Cẩm phả Quảng Ninh là thương cảng lớn đời nhà Lý .Nhà Lý quản lý chặt chẽ kiểm soát thuyền buôn nước ngoài, nhưng không hạn chế qua hệ thông thương đó. Đến đời nhà Trần thì Vân đồn vẫn là vị trí số 1 buôn bán với Việt nam Trung quốc và Đông Nam á. Khi ấy Việt nam đã có thuyền lớn đến 30 đến 100 người cùng chèo, tốc độ nhanh,

Quan hệ thương mại giữa Trung quốc và Việt nam trước thế kỷ 14 :
( qua An Nam chí lược của Lê Tắc - Nhà xuất bản Thuận Hoá - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây -Hà nội 2002 - Lời thẩm định của GSTS Chương Thâu ( Viện Sử học Việt nam ) - In lại bản của cố trực tiếp biên chỉ đạo để biên dịch , khảo đính Giáo Sư Trần Kinh Hoà ( 196o)- Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt nam của Viện Đại hoc Huế )

Sau khi nghiên cứu An Nam chí lược của Lê Tắc - Nhà xuất bản Thuận Hoá - Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây -Hà nội 2002 - In lại bản của cố vấn trực tiếp chỉ đạo để biên dịch, khảo đính Giáo Sư Trần Kinh Hoà người Trung quốc 1960- Uỷ ban phiên dịch sử liệu Việt nam của Viện Đại học Huế, có lời thẩm định của GS TS sử học Chương Thâu (Viện Sử học Việt nam); tôi là một tiến sĩ kinh tế chuyên ngành thương mại, đang tiến hành viết cuốn Lịch sử ngành thương mại Việt nam, xin ghi lại đây một chủ đề nhỏ của cuốn sách trên, đó là Quan hệ thương mại giữa Trung quốc và Việt nam trước thế kỷ 14. 1- Những sử liệu của Lê Tắc:

Cuốn sách kết cấu theo nhiều chuyên đề phong phú, về thương mại thì nổi lên các sự kiện rải rác khắp sách. Có sự kiên nhắc đi nhắc lại nhiều lần . Năm 246-207 trước Công nguyên, lấy Giao chỉ làm Tượng Quận, sau khi Cao Tổ băng hà, Cao Hậu cấm Nam Việt mua đồ sắt của Trung quốc. ( Tr.51 -102-153 ). Nhận định về người Việt: " Đàn ông lo làm ruộng, đi buôn, đàn bà lo nuôi tằm, dệt vải, cách nói phô hiền hoà, ít lòng ham muốn " ( tr. 52); Ngưòi Giao Chỉ hay uống rượu, thường uống quá độ, nên người gầy yếu. Ngày vui thì đốt pháo tre, cỗ bàn, trà rượu cúng tổ (Tr.70). Tr. 80: 1288 nước ta hứa đưa con làm tin, tiến mỹ nữ, cống hiến thổ sản năm 1291 phía Trung quốc cho rằng: An Nam xoả trá hư văn và chỉ chiếu lệ cống hiến lễ vật (Tr.81). Năm 1281 tr.97 Lê Tắc tả ăn tiệc đã có đủ các thứ rượu, đồ trái quý lạ và hải vị, cau trầu têm với vôi bàu (vôi bàu là con hầu dưới biển nấu thành vôi, quét vào lá trầu và cau ( tr.107). Đà (Triệu) ngồi chò hõ (dáng ngồi của Triệu Đà có lẽ là ngồi xổm cho hai chân lên ghế vẫn nhìn thấy ở các quán ăn Bia hơi của Xích lô Hà nội thế kỷ 21 (năm 2003 - TS NVH ) mà tiếp Lục Giả sứ của Hán Cao Tổ) (tr.101). Năm 214 trước công nguyên, những kẻ buôn bán ở trong hạt đều phải đi lính . Năm 1316 Lưu an Hoài Nam Dương can vua Hán Vũ Đế: hơn nữa, người Việt có tính khinh bạc, phản phục khinh thường, họ không tuân theo pháp độ của Trung quốc đã lâu rồi (tr.128). Giao Chỉ dâng những trái long nhãn , lệ chi v.v... , cứ 10 dặm có 1 trạm ngựa, năm dặm 1 nơi nghỉ, để tiện ngày đêm truyền đạt (tr.130). Vua Hán Hoà đế sau cho rằng: Không nên cống hiến lệ chi và long nhãn nữa. Năm 126-144 dâng lệ chi tươi (Tr.130). Một mặt khác đem vàng bạc tơ lụa để làm quân nhu, đưa phạm nhân ở Trung quốc sang tạp cư với dân bản xứ (Tr.132). Đời Ngô, Quan thứ sử là Châu phủ, xâm lấn ngang ngược với dân gian, một con cá thia bắt đổi một hộc lúa (Tr.133).
Nhà Tần dẹp Ngô vào Giao Châu hai ba lớp thông ngôn mới hiểu (Tr.134).
Thời ấy đã biết dùng đốt lò hương (tr.141). Năm 1278 qua năm lần thông ngôn tới triều công (tr.142) các sứ thần ở tiểu quốc qua lại, 10 người thì chết 6,7 người vì lam chướng tr.144; bài chúc tụng làm bằng vàng, đựng trong hộp vàng (tr.146).Vua Trần năm 1292 xin vua Tầu 1 vạn 5 nghìn quyển kinh. Thời Triệu Đà, Vua Hán Vũ đế cấm bán cho nước Việt các đồ làm ruộng, lại cấm bán trâu, bò, dê, ngựa về giống cái, nếu có bán chỉ bán con đực mà thôi (Tr. 153). Triệu Đà ở nước Việt 49 năm .980 Lê Hoàn cống ngọc ngà, Liễn ( Đinh ) tiến cống vàng lụa, sừng tê, ngà voi, trà thơm (tr.227 ): Hoàn (Lê) cống rùa vàng , bạc, lư hương, ngà voi và 1 vạn cây lụa trắng để mừng tiết Càn Minh (tr.231). Hoàn (Lê Hoàn) cống 1 cái ghế khảm vàng bạc sừng tê, ngà voi , lụa mịn; Hoàn (Lê) còn cống voi thuần, tê ngưu, 1 bình thất bửu mạ vàng .đời Lý Nhân Tông, Trung Quốc ra lệnh cấm chỉ các châu huyện không cho mua bán với người Giao châu Tr.239. Giao Châu là đường cho người nước Chân Lạp vào Lĩnh Nam mua khí giới và ngựa tr.289; Chỉ có An Nam thì quan học sĩ thảo tờ chế sắc, còn các xứ khác thì không cần (tr.283 Lê Tắc Tạp ký): gần đây có nhiều thuyền qua An Nam mua vật dụng để dâng vua, công việc lớn lao, sợ đồ cung cấp không đủ. Lĩnh Nam tiết độ kinh lược sứ: nay muốn sai phái quan qua An Nam thu mua vật hạng, xin triều đình phái một vị trung sứ ngõ hầu tránh việc gian dối Tr .289 có người tâu Vua Tầu rằng : những bẻ buôn bán ngoài chỉ cần mối lợi, đựoc yên vỗ thì đến, bị quấy nhiễu thì đi . Năm 1320 nhà Đại Nguyên, dân bần cùng ở Hải Nam bắt con gái của dân chúng đem bán vào An Nam bán làm con ở tr115 Cho Phục Ba đến dùng 3 nghìn chum rượu. Trong ăn tiệc đã có đủ các thứ rượu, đồ trái quý lạ và hải vị, cau trầu têm với vôi bàu (vôi bàu là con hầu dưới biển nấu thành vôi, quét vào lá trầu và cau ( tr.107).

2- Tôi xin có một số nhận xét bước đầu về quan hệ thưong mại Trung quốc - An Nam trước thế kỷ 14 :

2.1- Điều kiện tự nhiên ( Giao thông vận tải) để tiến hành quan hệ buôn bán không thuận lợi: Theo cách miêu tả của Lê Tắc thì khi ấy: Đất Giao Chỉ oi bức độc địa, quân lính chưa giao chiến 10 phần đã chết mất 2,3 phần tuy đánh hơn cũng không giữ được. Giao Châu đầy khí lam chướng, nếu thắng thì cũng như có ruộng đá, núi cũng hiểm độc, Giao Châu vực sâu, bụi rậm đầy đặc sương mù, hơi độc xông lên, khí ẩm thấp, tuy có lấy được toàn cõi cũng không ích gì cho thiên hạ (tr290). Thổ ẩm thấp và khí độc xứ đất nóng nực, ẩm ướt, lương phạn thiếu, quân lính mệt mỏi, bèn kéo quân về ( tr.137), các sứ thần ở tỉểu quốc qua lại 10 người vì lam chướng mà chết 6,7 người (tr112/tr144) Giao Châu là nơi độc địa nếu đem binh qua đánh thì 10 phần chết bẩy (tr.207).

2.2 Quan hệ chính trị không bình thường : Nhận định về dân Việt, năm 845 Giai Châu có 8 tiến sĩ và 10 người minh kinh (tr.289) . Nhưng so với các nước thì An Nam vẫn có vị thế mà Trung quốc không thể xem thường. Theo Lê Tắc thì Chỉ có An Nam thì quan học sĩ thảo tờ chế sắc, còn các sứ khác thì không cần. Hơn nữa người Việt có tính khinh bạc, phản phục khinh thường, họ không tuân pháp độ của Trung quốc đã lâu rồi Tr.118 năm 1316 Lưu An Hoài Nam Dương can vua Hán Vũ Đế Tr. 225, dân Giao Chỉ chỉ ưa làm loạn, chỉ nên lung lạc họ mà thôi. Giao Châu rộng lớn: khi làm phản lúc xưng thần, từ đời Hán trở lại đây, luôn luôn như thế (Tr 290). Họ còn đồng hoá Giao Chỉ theo cách: "đưa phạm nhân tạp cư với dân bản xứ" dân Giao Châu ưa làm loạn (tr.132/tr.134). Vua Trần tự nhận: Tiểu quốc là nước mọi dợ, phong tục bạc ác, Chu Thặng ngự sử bị đầy đi Giao Châu: Giao Châu là nơi tuyệt vực, tập tục tham ô, các họ hào cường thì gian dối, các chức trưởng sử thị bạo ngược, hà hiếp bóc lột muôn dân, Sợ Chu Thặng các thuộc quản 30 người bỏ đi nơi khác. Năm 1260 bên Trung quốc phải khẳng đinh: "Việc gì cũng theo cựu lệ bản quốc, không nên thay đổi". .Năm 1275 kẻ thù lồng lộn đe dạo "Thế là quy phụ đã hơn 15 năm, chưa từng tới triều 1 lần nào, tuy rằng 3 năm tới cúng hiến 1 lần, nhưng các đồ cống đều không dùng được( tr.77 );

2.3- Buôn bán khó mở rộng bởi vì Trung quốc và Giao Chỉ Ngôn ngữ bất đồng: Nhà Tần dẹp Ngô vào Giao Châu phải hai ba lần thông ngôn mới hiểu (tr 134).Năm 480 Tống vào Giao Châu thất lợi Việt Thường (tr.137): tới cống hiến, trải qua chín lớp thông ngôn. Năm 1278 qua mấy lần thông ngôn tới triều cống.

2.4- Chính sách của Trung quốc kìm hãm sự phát triển sản xuất của Giao Chỉ : Đó là không bán đồ làm ruộng bằng kim loại và con vật giống cái (Tr. 239). Đời Lý Nhân Tông, Trung quốc ra lệnh cấm chỉ các châu huyện không cho mua bán với người Giao Châu. Vua Hán Vũ đế cấm bán cho nước Việt các đồ làm ruộng, lại cấm bán trâu, bò, dê, ngựa về giống cái, nếu có bán chỉ bán con đực mà thôi (Tr. 153). Thời Triệu Đà ở nước Việt 49 năm.

2.5 Sản phẩm của An Nam có chất lượng rất cao : Hàng hoá An Nam cũng giữ một "thị phần" quan trong với Trung quốc: Gần đây có nhiều thuyền qua An Nam mua vật dụng để dâng vua, công việc lớn lao, sợ đồ cung cấp không đủ. Lĩnh Nam tiết độ kinh lược sứ: nay muốn sai phái quan qua An nam thu mua vật hàng, xin triều đình phái một vị trung sứ ngõ hầu tránh việc gian dối (tr.283 Lê Tắc Tạp ký). Mặt khac họ cũng thấy rằng phải có chính sách đúng đắn với lái buôn nước ngoài: có người tâu Vua Tầu rằng: những bẻ buôn bán ngoài chỉ cần mối lợi, được yên vỗ thì đến, bị quấy nhiễu thì đi (Tr .289).

2.5- Từ thế kỷ 14 về trước sản phẩm ở An Nam đã rất phong phú: Sản phẩm hàng hoá thời đó chỉ là nông sản và thủ công: Ruộng trồng lúa trắng, lúa đỏ, tơ tằm, mè, những không có lúa mạch, một năm tám lứa tằm, tằm sản xuất ở Nhật Nam, dâu thì có lớn nhỏ hai giống, giống dâu nhỏ trồng về tháng giêng, cành lá sum sê. Từ tháng ba đến tháng tám đều nuôi tằm, lấy tơ dệt lụa. Muối thì nấu nước biển trắng như tuyết. Dân biên thuỳ qua phục dịch ở An Nam, đều vì nguồn lợi muối và sắt. Pháo tre, Trà, rượu, ghế khảm vàng bạc thất bửu, sừng tê, ngà voi, lụa mịn. Hoàn (Lê) còn cống voi thuần, tê ngưu, 1 bình thất bửu mạ vàng. Giao châu ký chép rằng khi ấy đã dùng trâu vận chuyển 3 nghìn chung rượu cho Phục Ba (tr115). Trong ăn tiệc đã có đủ các thứ rượu, đồ trái quý lạ và hải vị, cau trầu têm với vôi bàu (vôi bàu là con hầu dưới biển nấu thành vôi, quét vào lá trầu và cau). Nếu người chủ nhà hậu tình hơn nữa thì rót rượu cay, mời thuốc hút, đều là những vị trị khí độc và gió độc (tr.107), trâu, bò, dê, ngựa, long nhãn, lệ chi tươi. San hô có đỏ đen hai thứ. Đầu đời nhà Hán, Triệu Đà dâng cây san hô đỏ gọi là hoả thụ (cây lửa) (Tr.279). Đồi mồi: Hình giống rùa, nhưng vỏ hơi dài, có 6 chân, hai chân sau không có móng (tr.279). Giao châu có cây hương mộc, muốn lấy thì đốn xuống, chờ lâu năm cho vỏ mục rồi lấy ruột và mắt cây, có trầm hương, sạn hương (tr.280). Cây cam ma đốt để trừ tà khí. Mật, sáp ong, chì , sắt, thiếc, quế, kha lê lặc chủ trị khí lạnh, bụng trướng đầy (Tr.281). Ý dĩ khi Mã Viện sang đánh Giao chỉ, có chở ý dĩ về, gừng, riềng (sắc hơi tía, thưòng dùng làm men rượu, rất tốt), cao lương cương: trị thổ tả; hoàng cương hoà giấm uống trị ghẻ lác; củ nghệ trị bệnh con gái chậm thấy tháng, mài giấm nóng mà uống , lông tê ngưu giống lông heo; voi: xứ Lâm ấp sản xuất voi, dùng voi để cỡi và chở; Thời Tống Lý Tông (1225-1264) An Nam cống voi, công khanh đều dâng biểu mừng (tr.284). Bò tót sản xuất ở quận Cửu đức, bạch lộc : Giao chỉ dâng hươu trắng (tr.285); trứng kiến muối chua: Tù trưởng các khê động ở Giao châu hay lấy trứng kiến muối chua, không phải các quan và thân tộc, không được dùng món ăn ăn này tiếp đãi (tr.286). Hiện nay 2003, tôi (TS . NVH) vẫn được ăn món ăn trứng kiến ngay tại một quán ăn ở cạnh Hồ Tây - Quảng bá.

2.6- Giao Chỉ còn là cầu nối buôn bán quốc tế: đường cho Chân lạp vào Lĩnh Nam mua khí giới và ngựa.

2.7- Thời xưa Trung quốc Lái buôn cũng phải đi lính. Chiến tranh liên miên cũng làm gián đoạn buôn bán hai nước. Khi ấy đã có việc buôn bán người nghèo từ Hải Nam vào An Nam để làm con ở. Dân biên thuỳ qua phục dịch ở An Nam, đều vì nguồn lợi muối và sắt (Tr.278).

2.8- Đã biết buôn bán sản phẩm cao cấp như vàng bạc và ngọc trai : Các châu Phú Lương , Quảng Nguyên sản xuất vàng, bạc, nhưng các người tìm vàng, tìm bạc thường không kiếm đủ nạp cho quan, phải mua chỗ khác để nạp ( Tr.278 ). Chứng tỏ vàng bạc thời ấy đã đựoc mua bán rộng rãi.

2.9 - Những sản phẩm tôn giáo đã được trao đổi giữa hai nước: Tháng 6 năm Cảnh đức (1004) Lê Hoàn khiến con là Lê Minh Đế vào cống, tháng giêng 1005 Vua Trung quốc đã ban cho Lê Hoàn một bộ Kinh Đại Tạng. Tháng 3 (1006) , Lê Hoàn mất (tr.231). Năm 1292 Vua Trần xin Trung quốc 1 vạn 5 nghìn cuốn Kinh Phật.

Là người đang tự viết Lịch sử phát triển ngành Thương mại Việt nam. tôi nhận thấy An Nam chí lược của Lê Tắc là một nguồn tư quý quý để nghiên cứu về thương mại An Nam và Trung quốc. Qua đó chúng ta có thể tự rút ra những bào học bổ ích cho đương đại.

Trong chính sử thỉnh thoảng cũng có nói đến hành vi "thương mại" như chuyện của Trần Khánh Dư (trang 313 Đại Việt Sử Ký Toàn Thư) kể, ông là người tướng giỏi nhưng chỉ phải tính vốn tham lam, keo kiệt, ông ra lệnh cho quan trấn không được đội nón kiểu phương bắc mà phải đội nón Malôi nhà mua sẵn nón về bán lại. Mỗi chiếc bán giá đắt gần bằng tấm vải. Ông bị thất sủng. Sau này Vua Trần Nhân Tông trông thấy thuyền than, vua gọi đến, ông chèo chiếc thuyền chài, đội nón lá, mặc áo tơi vào yết kiến. Vua nói: "Nam nhi nhỡ bước khốn khổ đến thế ư?".
Theo Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm bài thơ Người bán than như sau:

Một gánh càn khôn quấy tếch ngàn
Hỏi : Chi bán đấy ? Gởi rằng than !
ít nhiều miễn được đồng tiền tốt
Hơn thiệt nài bao gỗ củi tàn
ở với lửa hương cho vẹn tiết
Thử xem sắt đá có bền gan
Nghĩ mình nhem nhuốc toan nghề khác
Chỉ sợ dân đen lắm kẻ hàn
(Tao đàn số 9-10 ngày 16-7-1939 ).

Nhưng theo Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm thì đã có sự lầm lẫn khi gắn cho Trần Khánh Dư là tác giả bài thơ trên. Ông lập luận rằng theo Tang thương ngẫu lục cuốn dưới tờ 48-49 thì bài thơ này là của một di thần Nhà Nguyễn đã đi ở ẩn. Theo tôi dù tác giả là ai đi nữa - vẫn còn tồn nghi, những nội dung bài thơ đã làm nổi bật lên khí phách của một người lái buôn. Họ đâu chỉ biết đến "đồng tiền tốt " mà tình cảm của họ thật bao la: "Chỉ sợ dân đen lắm kẻ hàn". Thật tự hào cho nghề lái buôn Việt nam. Đây là bài thơ hay nhất ca ngợi thương nhân Việt nam mà tôi đã được đọc.

Sử trang 323 kể Lê Nhân Thự lúc trẻ nghèo khổ làm nghề buôn bán ở xã An Thuận, Đại Từ (Thái Nguyên) vào năm 1416 cùng Lê Sát có công giết Liễu Thăng ở Mã Yên và bắt sống Thôi Tụ và Hoàng Phúc. Tại trang 333 cũng kể về ông quan cai trị dân ở Biên giới là Lê Niệm , vùng An Bang , giáp giới Trung quốc, đồng chua nước mặn không một thước , một tấc để cấy cầy , dân làm nghề buôn bán , dù vừa dạy vừa phát cũng không hết nổi ( Liên hệ với vụ buôn lậu Hang Rơi ở Lạng Sơn thì thấy bọn chủ thuê rất nhiều người nghèo các tỉnh tụ hội ở đây để làm phu " cửa vạn " khênh hàng lậu từ Trung quốc tràn ngận vào chợ Đồng Xuân ).

Lê Quý Đôn năm 1770 đã từng tâu xin thu bớt các thuế thổ sản , thuỷ sản cho các huyện và thuế còn thiếu ( trang 391 ) . Năm 1721 thời Bảo Thái có chức Tòng cửa phẩm Thị trưởng ,thị bình ở các chợ ( các chợ ở kinh đô cũng vậy ) Theo VSTGCM ở các chợ chỉ có thị trưởng không có thị bình 9 Trang 459 ). Theo LCHCLC ( Quan chức chí trang 473 chức Trương Phủ ở mỗi Phủ có từ đời Cảnh Hưng để thu thuế .Theo Phan Huy Chú thì phải chiếu số chợ trong các phường ,mỗi chợ đặt hai viên thị chính , cho bản phường chọn lấy viên mục nào giỏi dang liêm thạo thì cho làm . Có kê giá mua vật gì , lưu ở bản thị làm bằng( trang 501) . Năm 1225 Trần Nhân Tông định phép dùng tiền .Năm 1360 Trần Dụ Tông đúc tiền đại trị Thông Bảo . Năm 1396 Thuận Tông ban hành tiền giấy tờ 10đ vẽ ây dong, tờ 30 đồng vẽ gợn sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ con rùa , tờ 3 tiền vẽ con kỳ lân ,tờ 5 tiền vẽ con phượng ,tờ 1 quan vẽ con rồng.

Nhà Hồ năm 1400 có chính sách phát hành tiền giấy có 7 loại . Năm 1403 Hán Thương đặt chức thị giám ( người coi chợ ) ban hành cân thước ,thưng , đấu , định giá tiền giấy ,cho buôn bán với nhau .Bấy giờ người buôn phần nhiều chê tiền giấy lại lập điều luật xử tội không tiêu tiền giấy , bán giá cao , đóng cửa hàng , bao che nhau. Năm 1405 Hán thưong ra lệnh xem nhà giàu có bao nhiêu thóc bảo họ bán cho dân vì năm ấy đói kém. Năm 1415 quan xâm lược nhà Minh quy định : Bãi muối ven biển cấm dân mua bán riêng , sai nội quan coi giữ .Các viên quan , mộ người buôn bỏ tiền ra lĩnh giấy Khám Hợp ( Giấy chứng nhận có đóng dấu :cắt làm đôi , dân buôn một nửa , quan giữ một nửa , kiểm tra khớp lại . Nộp rồi mới được bán : 3 bát muối và 2 lọ nước mắm khi đi đường . Năm 1427 Lê Lợi hạ lệnh hễ thấy dân quân chở lương đi bán thì cấp giấy và chỉ bảo cho nơi đến bán không được đi lang thang .
Thời Lê Lợi Thăng Long - đông đô - đông Kinh chia thành 36 phường , nhiều phường có phố xá buôn bán và khu vực sản xuất thủ công nghiệp ví dụ yên thái : giấy ; Nghi Tàm : dệt vải , Hà Tân : nung vôi ; Hàng Đào : nhuộm Điều, còn ở miền núi khai mỏ đồng ,vàng ,bạc cũng phát đạt . Trang 269 Nhà Lê có điều luật quy định về lập chợ và họp chợ . Nhà Lê bỏ tiền giấy khôi phục tiền đồng . Năm 1429 Lê Thái Tổ xuống chiếu Tiền là huyết mạch của dân không thể thiếu được và nghiêm cấm từ chối tiền xấu ( sức mẻ mà còn xâu vào chuỗi ). Ở chợ đặt người trưởng chợ xét bạc thật bạc giả để mua bán .Nhà Lê còn ban hành mẫu thống nhất đong lường thóc gạo. Cách tính và kích thước một số hàng hoá vải ,lụa , giấy .... được quy định thống nhất để tiện việc trao đổi và nộp thuế. Buôn bán với nước ngoài Nhà Lê sa sút hơn nhà Lý . có chính sách hạn chế ngoại thương. Quy định cảng thương nhân nước ngoài được đến là Vân Đồn. ( trang 269 ). Trang 274 nhà Lê lấy Đèo Cù Mông làm biên giới phía Nam của nước Đại Việt. Như vậy thời nhà Lê buôn bán nước ta đã lan đến Quàng Nam , Quảng Ngãi , Bình Định. Bộ Luật Hồng Đức rất tiến bộ cho phép con gái được kế thừa ruộng hương hoả thờ cũng cha mẹ , được quyền hưởng tài sản bình đẳng như con trai . Thế kỷ 16-17 chợ mọc lên rất nhiều .

Năm 1481 Những người có hàng chợ ,cửa hiệu trước đây đã vào thuế ngạch thì bây giờ cho được cư trú để buôn bán sinh nhai,cho vào bản phường nộp thuế theo lệ cũ .( trang 485).
Năm 1494 Giáo Hoàng La Mã phân chia khu vực : Tây Ban Nha : Tây Bán cầu ; Bồ Đào Nha : Đông Bán cầu .Bồ đào Nha đã có mặt ở Ân độ ,Mã lai ,Inđonêsia và Áo Môn Trung quốc .
Năm 1572 Hồng Phúc năm thứ nhất:" chợ búa không ai nói thách ", thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán trao đổi phải giá .Trấn thủ Nguyễn Hoàng vỗ trị mấy chục năm dân hai trấn ( Thuận Hoá và Quảng Nam ) cảm mến nhân đức .
Thế kỷ 16 Hà Lan là nước tư bản đầu tiên . Công ty Đông Ấn được thành lập vào năm 1602.
Từ thế kỷ 17 Anh và Pháp cạnh tranh với Bồ Đào Nha .Thế kỷ 16 từ Áo Môn đã đến buôn bán với nước ta.Bồ Đào Nha có quan hệ với Chúa Nguyễn đàng trong. Thế kỷ 17 đã có thương điếm ở thành thị nước ta. Công ty Đông Ấn của Anh và Pháp cũng đến lập thương điểm của đàng trong và đàng ngoài . Họ thường mua hàng từ nước này sang nước khác để bán kiếm lời . Họ bán cho Việt Nam như len, dạ , súng đại bác, đồ pha lê, thuỷ tinh. và họ mua của Việt Nam tơ tằm ,đồng ,hàng dệt, gốm , đồ mỹ nghệ , hàng vàng bạc, quế ,trầm hương , ngà voi , gỗ quí . ( trang 303).Mục đích của tư bản phương Tây vừa tìm thị trường nguyên liệu vừa cướp giật của cải và chuẩn bị cho sự xâm lược của chủ nghĩa tư bản .Bồ Đào Nha đã đúc súng thần công cho chúa Trịnh, Hà Lan 3 lần liên minh quân sự với quân Trịnh đánh quân Nguyễn để âm mưu độc chiếm thị trường nước ta.
Năm 1643 hạm đội Hà Lan bị chiến thuyền chúa Nguyễn đánh bại tại biển Quảng Nam.
Năm 1663 Lê Cảnh Trị quy định: kẻ buôn bán không được tụ họp bè đảng mà làm trộm cắp .
Năm 1658 bấy giờ các viên quan và nha môn đặt ra nhiều nơi tuần ty không vào ngạch để yêu sách tiền gạo nên những người buôn bán không tiện đi lại . Nên Triều đình ra lệnh: Không được hạch sách tiền gạo của người buôn bán ( trang 267 ).
Năm 1660 triều đình ra lệnh cấm không đựoc lấy tiền thuế chợ thuế đò quá lệ.
1732 không đánh thuế để buôn bán được lưu thông, đi lại được thuận tiện, thực là chế độ rộng rãi không phải là Trọng nghề gốc ức nghề ngọn.
Năm 1727 định lệ thuế chợ trong kinh kỳ , chợ nào có làm thịt trâu thì chuẩn định ngạch thuế nhiều ít khác nhau. Chợ cửa Đông 300 tấm da trâu , chợ cửa Nam 100 tấm da trâu ,chợ Đình Nganh 100 tấm da trâu và chợ Bà Đá 100 tấm da trâu . LCHCLC quyển 3 trang 38 kể Các chợ ở kinh kỳ thì phải nộp da trâu 100 tấm để chế mũ cho binh lính. áo mũ của ngoại binh thì dùng da trâu sơn đỏ. Trịnh Doanh cho rằng : " Hiện nay sau cơn binh lửa ,tài lực của dân thiếu thốn , chỉ còn trông vào các nhà buôn giàu buôn bán chuyển vận chỗ có đến chỗ không , sao lại để cho bọn nha lại giao quyền sách nhiễu hà lạm , thế không hại cho việc buôn bán hay sao ? Nên sai triệt bỏ tuần ty trong các xứ ".

Lịch Triều Hiến Chương loại trí nhà xuất bản khoa học xã hội Hà nội 1992 , theo Phan Huy Chú thì nước Nam ta là nơi đô hội lớn ở PHưong nam , ruộng cấy lúa tốt , đất trồng dâu tốt , núi sẵn vàng bạc, biển sẵn châu ngọc người ở đâu đến buôn bán cũng giàu được cả, ( trang 31 ) .

Năm 1760 Cảnh Hưng 21 cho Trấn Sơn Tây được mở trường đúc tiền , có xin Trịnh Doanh chiêu tập các khách thương ( người Hoa ) mở trường đúc tiền. Năm 1715 cấm về vỏ quế cho nhân dân được thông hành buôn bán .Năm 1722 Trịnh Giang cho bỏ thuế chuyên lợi về muối ,cho dân miền biển được nấu lấy muối và buôn bán tự do .Dân cho là tiện .Năm 1759 cho tuỳ địa điểm đặt chỗ để cho lái buôn tiện tụ tập đem muối đi bán các nơi , ai lĩnh muối công đi bán thì được tha thuế ,mang muối tư thì phải nộp thuế theo lệ . Ai mang lén bán trộm , có người tố giác , thì bị tịch thu . Năm 1720 đã có quy định cấp bằng mua bán Đồng . hễ thấy được đồng đỏ thì cho được bán ngay trong trong trường mỏ để thông thương trong nước .

Thế kỷ 16-17, trang 296, Việt nam đã bán ra nước ngoài sản phẩm gốm , tiện gỗ, vàng bạc , ngọc ngà , tơ tằm. Khi ấy đã có các địa danh như Bát Tràng , Thổ Hà, Hương Canh, Hàm Rồng. Trang 296 số lượng tơ xuất khẩu ở đàng ngoài hằng năm đến nghìn tạ . Còn đàng trong đường cát , đường phèn, đường phổi bán ra nước ngoài hàng vạn tạ. Tại Trang 296 chợ mọc lên rất nhiều .trang 301 Các thành thị trở nên phồn thịnh : Thăng Long , Phố Hiến .Hội An , Thanh Hà và Gia Định. Khi ấy đã truyền khẩu : " Thứ nhất Kinh Kỳ , thứ nhì phố Hiến .Kinh kỳ lúc ấy lớn nhất ở á đông. Theo cuốn sử này thì : Vào mồng 1 và ngày rằm (15 )Thăng Long tập nập nhộn nhịp một cách lạ thường ,với những đường phố chật người , những bến sông đầy ắp thuyền bè và có đủ mặt hàng từ các nơi đem đến bán . Việc buôn bán ở thành thị chủ yếu để phục vụ vua quan và tầng lớp thống trị.

Vào thế kỷ 17 buôn bán với Trung quốc , Nhật Bản phát triển mạnh theo các đợt gió đến đến Thăng Long , Phố Hiến và Hội An . Theo Nguyễn Đình Đẩu trong cuốn Việt Nam quốc hiệu và cương vực qua các thời đại Nhà xuất bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh 1999 thì tình hình Việt Nam như sau :

 
Thời điểm
Quốc hiệu
Thủ đô
Dân số ( người )
-300
Văn lang
Phong châu
500.000
-180
Âu lạc
Phong khê
600.000
1
Giao chỉ
(thuộcHán)
Long biên
666.13
40
Trưng Vương
Mê linh
700.000
544
Vạn Xuân
Long Biên
1.000.000
968
Đại Cổ Việt
Hoa Lư
2.000.000
1054
Đaih Việt
Thăng Long
2.200.000
1407
Quận Giao chỉ
( thuộc Minh )
Đông Đô
3.129.500
1490
Đại Việt
Đông Kinh
4.000.000
1750
Đàng ngoài
Trung Đô
4.000.000
1750
Đàng trong
Thuận Hoá
1.500.000
1802
Việt nam
Huế
5.780.000
1840
Việt nam
Huế
7.764.128
1870
Việt nam( kể cả Nam kỳ thuộc Pháp)
Huế - Sài gòn
10.000.000
1901
Việt nam thuộc Phap
Hà nội - Huế
13.000.000
1943
Việt nam thuộc Pháp
Hà nội - Huế
22.000.000
1962
Việt nam ( Dân chủ cộng hoà )
Hà nội
17.000.000
1962
Việt nam Cộnghoà
Sài gòn
14.275.000
1976
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam
Hà nội
49.160.000
1994
CHXNCNVN
Hà nội
75.500.500
1999
CHXHCNVN
Hà nội
76.324.753
* Từ năm 2002 : Quốc hiệu : Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Thủ đô : Hà Nội - Dân số : 80.000.000( NVH)

Thế kỷ 18 buôn bán bị hạn chế . Gia Long cho một số người Pháp làm quan trong triều , nhận nhiệm vụ vận động triều đình Huế ký những điều ước ngoại giao , thương mại có lợi cho chủ nghĩa tư bản Pháp .Năm 1804 Napoléon I đã nói : Tấm áo của họ sẽ che chở cho họ và sẽ dùng để che giấu những mưu đồ chính trị và thương nghiệp . ( trang 380 ) .
Theo Phạm đình Hổ trong Vũ Trung Tuỳ Bút 1859 Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam vì Ta cự tuyệt không nhận quốc thư của Pháp đòi tự do buôn bán. Năm 1859 đòi được truyền đạo tự do và buôn bán tự do .Năm 1883 Pháp chiếm toàn bộ Việt nam.

Theo Đào Duy Anh trong Việt nam văn hoá sử cương Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin , Hà nội 2002 trang 77 : Thương mại nước ta xưa lại kém cỏi hơn công nghệ nữa . Ngày xưa nước ta ở trong tình trạng bế quan toả cảng , sự buôn bán với ngoại quốc rất ít đã đành , mà ở trong nước thì ở xứ này đi qua xứ khác đường giao thông không tiện , cho nên sự buôn bán thường hạn trong phạm vi địa phương . ở nhà quê thì các chợ là người dân cùng xung quanh họp nhau mỗi ngày hay mỗi phiên để đổi chác những đồ thổ sản , hoặc về nông nghiệp hiọc về công nghiệp , cần dùng cho sự sinh hoạt hàng ngày . Ngoài những người nhà quê đến chợ để bán thổ sản , còn có ít nhiều người lái buôn chuyên môn như hàng vải , hàng xén , hàng cau, hàng thuốc , hàng thịt, hàng bánh , cứ gánh hàng đi chợ này chợ khác để bán rong. ở quanh các chợ lớn lại thường có những nhà buôn nhỏ , nhất là của Hoa Kiều , bán tạp hoá và thuốc bắc . Sự buôn bán ở nhà quê cũng có vẻ náo nhiệt , nhưng giá trị của những cuộc giao hoán ấy chẳng là bao nhiêu . NHững hàng rau cỏ, có khi cả gánh chỉ giá độ hai hào ( giác ) , còn hàng bánh trái thì cả gánh đáng giá chừng được một vài đồng bạc . ở chợ nhà quê , chỉ có hàng vải thì vốn liếng là đáng ba chục hay bạc trăm . Trong một phiên chợ nhỏ có khi tổng giá hàng hoá đem bán chỉ đựoc chừng bốn năm chục bạc .

Sự buôn bán chỉ cốt để đổi chác những vật thổ sản , mà công nghiệp lại không phát đạt , cho nên thương mại cũng không phát đạt. NHững người buôn chuyên ở các chợ phần nhiều là đàn bà nhà nông , khi rảnh việc đi buôn để kiếm thêm đồng lời . Có người đi cả ngày đến tối về nhà tính chỉ lời đâu vài xu . ở chợ nào việc buôn bán có hơi quan trọng là thấy có một vài nhà buôn Hoa kiều lũng đoạn lợi quyền . Một mặt họ mua những vật thổ sản dư dật như lúa , gạo, bắp , đậu, bông , sắn , để bán đi nơi khác , hoặc chở ra ngoại quốc ; một mặt họ bán cho dân quê những tạp hoá như vải lụa , thuốc men cùng đồ dùng ngoại hoá khác nhất là hàng Tàu . ở thành thị sự buôn bán thịnh hơn ở nhà quê vì thành thị thường là trung tâm điểm về kinh tế của một tỉnh hay một miền . Những nhà buôn nhỏ các chợ nhà quê thường đến đó để lấy hàng về bán , hay đem đồ thổ sản mua ở các địa phương tập trung ở đấy . Song ở thành thị cũng như ở nhà quê , người Việt Nam chỉ buôn bán vặt , những hàng khá nhất là mấy hàng tấm , hàng đồng bán lẻ, chứ các cuộc buôn sỉ và cất hàng to đều ở trong tay người Hoa kiều.

Việc buôn bán bằng ghe thuyền thì ở sông cũng chỉ do huyện này sang phủ khác , xa lắm là do một tỉnh đi sang tỉnh bên mà thôi ; còn ở biển thì ghe thuyền nhỏ không thể dời xa ven bờ , cho nên những nhà hàng hải táo bạo nhất cũng chỉ đi xứ này sang xứ khác ở trong phạm vi Trung , Nam , Bắc thôi. Trừ nước Tàu ra thì nước ta xưa , vốn không có thông thương với ngoại quốc , song việc mậu dịch này cũng ở trong tay người Hoa kiều , họ chở phẩm vật của Trung quốc sang bán ở nước ta , rồi lại cất hàng thổ sản cúa ta mà chở về nước họ. Từ nửa đầu thế kỷ 15 , có một ít người Nhật cũng đến buôn bán ở nước ta, rồi đến thế kỷ 17 , các lái buôn Âu châu theo gót các nhà truyền giáo Gia Tô đến xin thông thương , từ đó cuộc quốc ngoại mậu dịch của ta mới bắt đầu mở rộng phạm vi . Song sự thông thương với ngoại quốc đứt nối không chừng , cho nên nó không thành một cuộc liên lạc thường xuyên vĩnh cửu. Năm 1637 người Hà lan đền Đàng ngoài ( Bắc bộ ) mở thương cuộc Phố Hiến , về tỉnh Hưng Yên , chuyên mua tơ lụa gạo bắp của ta để chở đi bán ở Nam Dương quần đảo và Nhật Bản , rồi nhập khẩu những thứ dương hoá như súng , đạn, diêm sinh và các thứ nỉ. Ở đàng trong ( Trung bộ ) thì Hội An ( Faifo) từ năm 1640 cũng thành một đô thị buôn bán to, ngoài những hiệu buôn của người Tàu , người Nhật , ngưòi Xiêm , lại có nhiều lái buôn Bồ đào Nha, Hà lan và Pháp , cảnh tượng buôn bán phồn thịnh không kém gì Phố Hiến . Năm 1750 , một nhà du lịch Pháp tên là Pierre Poivre đến Thuận Hoá yết kiến chúa , Võ Vương chúa hứa để cho người Pháp được quyền tự do buôn bán ở đàng trong. Về sau vua Gia long nhờ đức giám mục Bá Đa Lộc và các võ quan người Pháp mà đánh được Tây sơn , thống nhất Nam Bắc , nên để cho người Pháp tới lui buôn bán dễ dàng trong nước . Đến đời Minh Mạng , Thiệu Trị , có cuộc cấm đạo đuổi sứ nên việc thông thương với người Âu bị đình .
Cái chính sách bế quan toả cảng ấy đã thành cái kết quả mất nước ở đời Tự Đức .

Theo Đào Duy Anh : ( trang 80 ) Từ khi nước ta tiếp xúc với các dân tộc Âu Tây , nhất là từ khi thuộc Pháp , tình hình kinh tế mở mang thì thương nghiệp cũng nhân thế mà phát đạt rất chóng . ở trong nước nhờ đưòng giao thông thuỷ lục mở rộng và tiện lợi , sự buôn bán tỉnh này sang tỉnh khác và xứ này sang xứ khác được dễ dàng , khiên mối liên lạc kinh tế các địa phương với nhau một ngày một mật thiết . Những thành thị ở vào nơi kinh tế trung tâm , như Hà Nội , Nam Định , Hải Phòng , Sài Gòn, Chợ Lớn , đã thành những thương trường phồn thịnh có thể so sánh với các thương phu lớn ở Á Đông. Theo Đào Duy Anh, người nước ta xưa kia chỉ chăm nông nghiệp và sĩ nghiệp mà để sự buôn bán lại cho Hoa Kiều , nhưng ngày nay ( tức Huế 1938-NVH ) đã giành lại quyền kinh tế về thương mại . ở Bắc bộ những nhà buôn Việt nam đã đánh đổ được độc quyền thương mại của khách trú , còn ở Trung bộ và Nam bộ thì người bản xứ cũng đương chấn khởi . Theo Đào Duy Anh những phưong pháp tân thức , như sự mở công ty và giao thiệp với ngân hàng , đã thành những phương pháp quen dùng của nhà buôn ta. Những công ty công thương đầu tiên ở nước ta vốn gọi là Hội đồng lợi , hội thứ nhất lập ở Kiến An ( Bắc bộ ) vào khoảng 1903 để mua bán thóc lúa và cho hội viên vay . Về sau những công ty cổ phần ( societe par actión ) theo các ( cách ? NVH) thức hợp tư (en partipation), LƯỠNG HỢP ( EN NON COLLECTIF) LẦN LẦN XUÁT HIỆN Ở BA XỨ . SONG LỐI HỮU HẠN VÔ DANH CÔNG TY (SOCIETE ANONYME) THÌ CHƯA THỊNH HÀNH . VỀ NGÂN HÀNG THÌ CÁC NHÀ CÔNG THƯƠNG người nước ta vẫn dùng những ngân hàng của người Pháp và ngoại quốc . Từ mươi năm nay, ở Sài Gòn có nhà Việt Nam Ngân Hàng ( Societe Annammite de Crédit ) thành lập , đó là sở ngân hàng thứ nhất của người bản xứ . Lệ giao dịch với ngoại quốc phần nhiều do hai phụ đầu lớn là Hải Phòng và Sài Gòn , còn các Hải cảng ở Trung bộ , như Bến Thuỷ , Tourane , Quy Nhơn thì hàng hoá xuất nhập khẩu không có bao nhiêu . Món hàng xuất cảng nhiều nhất là gạo , một mình Sài gòn dự đến 80-90 phần 100 trong tổng ngạch . Hiên nay Đông Dương Pháp đứng bậc thứ hai trong thế giới ( sau Miến Điện ) về sự xuất cảng gạo (trang 82 ). Tài liệu nghiên cứu về thương nhân Hà nội tản mạn chưa nhiều .Nhưng có nhiều tác giả có nhiều nhận định rất thuyết phục . Ở đây tôi cảm nhận quan điểm của Trần Quốc Vượng về vấn đề này . Theo Trần Quốc Vượng thì chợ ở Hà nội đã hình thành từ lâu đời. Sau khi ven sông đã xuất hiện một số làng xóm nông - chài và nghề thủ công đã phát triển thì , theo lẽ tự nhiên , sẽ xuất hiện nhu cầu đổi chác và sự hình thành các chợ . Chợ ở các liên làng ven sông- mom sông đều là chợ bến , tiếng Việt cổ và dân gian gọi là chợ búa ( búa = bến ) .Cũng theo Trần Quốc Vượng thì Hà nội là Trong thành ngoài thị,ngoài các cửa thành là chợ , đó là chợ Cửa Bắc ( nay là chợ Châu Long ) , chợ Cửa đông ( nay là chợ Đồng Xuân từ năm 1925 ) , chợ cửa Tây ( nay là chợ Ngọc Hà ) , chợ cửa Nam ( nay vẫn nguyên tên ) .Theo Tràn Quốc Vượng thì các chợ ven đô hay chợ ô nằm ở các cửa nước của thành ngoài , đấy là nơi giao lưu kinh tế văn hoá giữa nội thành với vùng ngoại thành rộng lớn ở châu thổ Bắc Bộ , đấy đều vốn là chợ Bên - chợ búa , nghĩa là chợ ở ngã ba sông ,trên dưới thuyền tấp nập . Theo tôi điều đó cũng dễ hiểu vì ngày xưa chưa có nhiều phương tiện vận chuyển hàng hoá thuận tiện như bây giờ ,khi xưa thuyền vẫn là phương tiên quyết định cho việc buôn ngươc bán xuôi của Hà nội..

Trần Quốc Vượng có lý khi cho rằng : CÓ ĐÔ THỊ - THỦ ĐÔ LÀ CÓ DIỄN TRÌNH HÌNH THÀNH CÁC LÀNG NGHỀ - LÀNG RAU - HOA- QUẢ VEN ĐÔ. CÁC NGHỀ/ NGHỆ NHÂN HỘI TỤ VỀ ĐÂY , ĐUA TRANH TINH XẢO . HÌNH THÀNH CÁC PHỐ NGHỀ , BÁN BUÔN SẢN PHẨM RA CẢ NƯỚC SAU KHI CHUYÊN CHỞ HÀNG HOÁ , CHUYỂN VẬT LIỆU VỀ ĐÂY . Trụ lại ở Thủ đô là những nhân tài : Văn tài - tài võ - tài nghệ ( bách ngệ ) . Cũng theo Trần Quốc Vượng thì xã hội phong kiến , lấy trọng nông rồi và trọng sĩ làm chiến lược xã hội , lấy " trọng nông ức thương làm chiến lược kinh tế , bắt chước Trung quốc như nhà Lê đã bắt chước - chia dân thành tứ dân với trật tư Sĩ- Nông - Công - Thương . Theo Trần Quốc Vượng thì trong lịch sử Việt nam nhà Mạc cũng không cứng nhắc trọng nông ức thương . Từ dân chài chài miền biển mà đi lên ,nhà Mạc có cái " phóng khoáng trong cách nhìn kinh tế - xã hội . Dân chài quen thuộc với trao đổi với chợ búa , vì dường như ngày nào họ cũng phải bán cá mua gạo và các đồ vật dụng khác . Cho nên thương nghiệp đời Mạc rõ ràng phát triển hơn trước . Tiền đúc nhiều , chợ mở nhiều , nhất là các thị trấn vùng giáp ranh ( giáp ranh " đồng bằng - biển " , giáp ranh thung lũng - đồng bằng ) . Có những luồng thương nghiệp đường dài nội địa .

Thời đó thưong nhân Trung hoa và phương Tây đã qua lại vùng biển Đông .

Theo Trần Quốc Vượng thì văn hoá dân gian Hà nội với cái nhìn khái quát thì : Văn hoá dân gian kẻ quê ( ngoại thành Hà nội ); văn hoá dân gian nửa quê- nửa tỉnh ( vùng ven đô ). Vùng Hà nội vốn một nhóm làng ven sông Tô, thế kỷ IV thành Huyện , thế kỷ VI thành Thị Xã , thế kỷ VII-X là Đô Hộ Phủ An Nam và văn hoá dân gian đô thị Theo Trần Quốc Vượng thì trước khi nhà Mạc xây dựng Dương Kinh ven biển Hải Phòng thì chỉ có một thành thị : Kẻ Chợ- Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh - Hà Nội ( từ 1831 ). Cái tên Hà Nội có từ thời Minh Mạng ( 1831 ). Tôi thấy Trần Quốc Vương có lý khi cho rằng đô thị Hà Nội hình thành từ thế kỷ IV , đến nay mà theo lý thuyết đô thị học , đô thị bao giờ cũng là nơi tụ hội và kết tinh cư dân tứ chiếng .Hội tụ- Giao lưu - kết tinh - lan toả là quy luật lớn của đời sống Thăng Long - Hà Nội,theo lập luận của Trân quốc Vượng thì đã vượt qua hơn một nghìn năm đô hộ Tầu ,trăm năm đô hộ Tây để tồn tại , Đại Việt và thành phồ Rồng Bay chẳng những không mất đi bản sắc riêng. Nhận định này cũng có thể làm cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu lời ăn tiếng nói của thương nhân Hà Nội. hình trụ ), đậu Hà Lan , rượu Vang ....cùng một số từ mới như dầu thay cho trốc , như hoa thay cho bông, bát thay cho đọi ,thuyền thay cho ghe, thìa cùi dìa ,hoa dơn , violet, păng xê , rau xà lách , xu hào, xu xu , xúp lơ ... Theo Nguyễn Công Hoan ( trong cuốn Nhớ và Ghi nhà xuất bản Tác phẩm Mới năm 1978 ) đã ghi chép nhiều tư liệu quý liên quan đến thương nhân Hà nội ; Ngày trước chỉ vợ Tây mới đội nón đàn ông ( nón chóp nhưng lợp vải trúc bâu , xung quanh viền đăng ten . Nón phụ nữ to như cái nia . đàn ông sau dùng ô.( tr. 119 ); Từ tháng 11 , 12 âm lịch các hiệu khăn ở Hà nội đã bắt đầu làm khăn để bán Tết . ông Hai Chinh mở hiệu bán mũ ở đầu phố Cầu Gỗ . Mũ ông Hai Chinh rất đẹp ( 117 ); Đèn Hoa kỳ là đèn của bọn Mỹ sang ta buôn bán dầu hoả . Muốn bán được dầu hoả lái buôn Hoa kỳ chế ra đèn để bán dầu hoả . Ecke ( Eckert ) là đốc lý Hà nội .Nó chọi nhau với Tây buôn. Nhà khách sạn Con Gà Vàng , không những bắt chước các khách sạn khác đến chiều , bày bàn ghế ra ngoài vỉa hè cho khách hóng gió, mà còn xây cả mái nói trên. Thế là đốc lý đánh thuế rất nặng . Từ đó, không một khách sạn nào dám bày bàn ghế ra vỉa hè , làm vướng lối đia nữa . Theo Nguyễn Công Hoa thì không biết ai nịnh nó mà khắc hình nó ở động Tam Thanh ( tôi đã đến nhưng không thấy hình này - NVH ) ; Cái mái hè của nhà : Con gà vàng nay vẫn còn ( không biết ở phố nào ? NVH ). Ngày trwocs , người đi đổi thùng phân ở Hà nội , cứ từ 3 giờ sáng trở đi thì làm việc , đến nhà nào họ cũng đập cửa rầm rầm : " đổi thùng ! Đổi thùng ".( tr. 63 ). Công ty dầu của Mỹ , viết tắt là Socony ( Standar Oil Company of New york ( có biển vàng ) , cạnh tranh với công ty dầu của Anh , viết tắt là Shell ( có biển xanh ) . Ở Hà nội , xe dầu bán ở phố , trên treo cái chuông , xe đi thì chuông lắc . Giá một lít 0,145 đồng .Nhà của hãng dầu Shell của Anh ở 39 Trần Hưng Đạo . Nhà in xưa nhất ở Hà nội là nhà in Sê-nê-đe ( Scheneider ) in báo chữ Hán , nửa Hán , nửa quốc ngữ để tuyên truyền cho chính sách thuộc địa . Nhà in đặt tại trường Chu Văn An bây giờ (1912 vẫn còn ).Sau nó nhượng cho người Việt Nam và dọn về ngã tư Hàng Bông - Phủ Doãn . ( Tr.65 ) . Theo Nguyễn Công Hoa thương nhân bán sách có nhiều mánh lới xấu xa : Nhà đại lý bán sách mình , không rõ bán được bao nhiêu nhưng do lười , cứ bảo là chưa bán được , để khỏi mất công tính . Có khi sách bán hết , họ dùng tiền để buôn cái khác, tác giả đến tính tiền , họ bảo chưa bán hết , thì nhà văn cũng chịu . ( tr. 69 ). Nhà hát lớn xây năm 1911 . , trong nhà hát không dùng quạt.( Tr.73 ).Mỗi đồng bạc trắng nặng 27 gam. So với Franc( Phật lăng ) của Pháp thì một đồng bạc ăn 2 phật lăng rưỡi . Nhà Gôđa , nhà sách Viễn Đông vấn đề giá hàng theo Phật lăng , chứ không tính ra bạc ta. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất , có lần một đồng bạc ta ăn 27 phật lăng . Mua hàng bên Tây , hoặc ở nhà hàng Gôđa , mua sách của nhà Viễn Đông được rất rẻ.( tr.74); ở cuối phố hàng Gai và đầu hàng Hài có người làm vàng quỳ (Tr.77); ở Hà nội , những nhà cổ còn lại , có thể nhận ra , là gác không trông ra đường , mà trông vào sân trong nhà ( tr.78 ). Những hiệu Phan Hoà Thành , Phan Cự Trành , Phan Thái Thành, Phan Phúc Thành , Phan Hưng Thành ở Phố hàng Ngang bán chè Tàu và Phúc đen làm bánh ngọt ở phố hàng Đường nhưng đến cách mạng tháng 8 không còn nữa.


( ĐÓN ĐỌC TIẾP THEO : PHẦN THỨ 2 )



T.S. NGUYỄN VĂN HOA

TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC