TÀI HOA MỆNH BẠC:

ALEXANDER PÚSHKIN

(1799-1837)



    (Kiến Thức Văn Học Nga)


 

Bài 1 .

 

M ột phần tư thế kỷ, sau khi Púshkin đã chết, một nhà phê  bình Nga viết rằng: “Púshkin là tất cả của dân tộc Nga.” Ông được đồng bào vô cùng ngưỡng mộ và đặt lên ngang hàng với các vĩ nhân Tây Phương: Shakespeare, Michelangelo, Beethoven. Điều này tưởng không có gì quá đáng bởi vì chính từ Púshkin mà nền văn chương dồi dào phong phú của nước Nga đã được chào đời. Púshkin đem đến cho xứ sở ông một vầng hào quang ngời chói. Ông sáng tạo nên nguồn ngôn ngữ mới, làm rạng danh thi ca và chứng minh được, thi ca –trên tất cả—là sáng tác của trái tim, biểu tượng cho sự điên cuồng nhất, sôi nổi nhất, vô tình nhất, tàn nhẫn nhất; nhưng cũng ở đó, người ta tìm ra được rõ ràng đặc chất của lòng nhân ái cao thượng nhất.

Sự  ảnh hưởng của Púshkin trên các văn nghệ  sĩ lớn của Nga cũng không phải là  ít. Từ ông mà tài năng của Gogol, Lermontov nẩy nở. Với Glinka, nền âm nhạc Nga trở  nên dồi dào thêm qua những tác phẩm của Púshkin. Léon Tolstoi cũng đã lấy nguồn cảm hứng từ trong vùng đất văn chương phong phú ấy. Và Moussorgski, Rimski-Korsakof... Và Dargomiski; Tchaikovski… Lúc Púshkin tử thương, Dostoievski mới 16 tuổi; nhà văn đã mong muốn được để tang thi sĩ. Luôn cả Maiakovski trong thời tiền xã hội chủ nghĩa từng phản đối tác phẩm Evgény Onégin, về sau cũng đã nghiêng mình cảm phục tác giả của Viên Kỵ Mã Bằng Đồng.

Giới thiệu chân dung Púshkin có  nghĩa là trình bày sức dụ  hoặc không những chỉ trên tác phẩm, mà còn chính trên con người thi sĩ. Púshkin đã yêu cuộc đời một cách cuồng nhiệt. Yêu cả hai mặt tốt và xấu của nó. Đôi cánh tay mở rộng, mười ngón thẳng dài ra, dù là trên thành công hay thất bại: đó là cách mà Púshkin đã đón nhận cuộc đời. Nhiệt tình ấy luôn luôn gắn bó giữa cuộc đời và thi sĩ, giữa thi sĩ với tác phẩm và giữa tác phẩm với dân tộc và dân chúng Nga. Đam mê ấy đã đeo đuổi Púshkin suốt 38 năm ngắn ngủi sống trên trần thế. Không những vậy, ngay cả trước thềm cái chết, nỗi say đắm này vẫn không hề từ bỏ thi nhân. 

I
(1799–1811)
(Moscow)

Alexander Sergéyevich PÚSHKIN sinh ngày 26 tháng 5 năm 1799 ở Moscow. Bên nội là một trong vài dòng họ lâu đời nhất nước Nga. Phía bên ngoại mang giòng giõi của Ibrahim Hannibal, con trai một vị vương hầu xứ Ethiopie, Phi Châu. Hannibal cưới một bà quí tộc gốc Balto-German và có được 11 người con với bà. Một trong những người con ấy là ông ngoại của Púshkin.

Thi sĩ luôn luôn tỏ ra kiêu hãnh vì “600 tuổi quí tộc” của bên nội và “giòng máu Phi Châu” của bên ngoại chảy trong huyết quản. Trong một dịp nói về số phận những người Phi Châu, ông đã gọi họ là “những người anh em của tôi.”

Thời thơ ấu và niên thiếu, Púshkin trải qua trong một gia đình đầy dẫy không khí phù phiếm của nền văn hóa Pháp thế kỷ 18. Giữa cha mẹ và con cái không có mấy tình thân. Hai ông bà Púshkin là những người theo thời trang Âu Châu, lơ đãng, nhẹ dạ và không quan tâm gì đến bốn người con mà họ đã sinh ra, nhất là với Púshkin. Đổi lại, từ thuở bé, Púshkin cũng tỏ ra không có chút liên hệ sâu đậm nào với cả cha lẫn mẹ. Trước gia đình, trong Púshkin chỉ lưu lại một tinh thần tự do, độc lập. Nếu như sự tự do ấy đôi lần có bị cản trở thì chỉ hoàn toàn bởi cái thể chất yếu đuối hơn là do lòng hiếu thuận, đạo làm con hay bất cứ điều gì.

Giống như nhiều gia đình quý tộc Nga thời ấy, gia đình Púshkin có tính cách thiên về văn hóa Tây Âu hơn là văn hóa Nga. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính được sử dụng trong nhà. Những vị thầy dạy riêng cho trẻ con phải chính gốc người Pháp. Những quyển sách trên kệ cũng chỉ được viết bằng tiếng Pháp.

Từ  thuở bé, Púshkin đã sớm tỏ ra là một  đứa trẻ xung động, thông minh, ham chuộng văn chương và có một trí nhớ đặc biệt. Không khí  gia đình lại rất tiện lợi cho sự ham mê này nẩy nở. Những người khách đến chơi thường là  trong giới nhà văn. Cha của Púshkin cũng hay sáng tác những bài thơ bằng tiếng Pháp. Một trong các người chú –Basile Púshkin—là thi sĩ khá nổi tiếng, lúc ấy mới trở về Nga sau một thời gian dài sống ở Paris. Ngay đến các người hầu cũng tỏ ra ưa thích thi ca. Sự hiểu biết của Púshkin về tiếng mẹ đẻ cũng như phong tục quê hương chủ yếu là nhờ bà vú nuôi tên Arina Rodionovna và các người hầu ấy. Những khi có dịp gần gũi họ, Púshkin thường xin họ kể cho nghe những câu chuyện dân gian, và những câu chuyện này ngày càng thấm sâu trong ký ức nhà thơ.  

II
(1811 – 1817)
(Tsárskoye Sélo)

Vào năm 12 tuổi (1811), nhờ ông chú Basile dễ mến mà Púshkin được gửi vào trường Trung học Tsárskoye Sélo, trong thành phố Saint-Pétersbourg.(1) Ngôi trường có ký túc xá chọn lọc này được cất lên dưới sự bảo trợ đặc biệt của Hoàng đế Alexander I, chủ ý đào tạo những quan lại tương lai.
Ban giảng huấn đều là những người tên tuổi tiếng tăm. Chương trình giáo dục gồm, bên cạnh những môn học cổ điển, còn có vài lớp về chính trị, kinh tế và luật học. Tuy nhiên, mục đích của sự giáo dục là biến các học sinh trở thành những người lịch sự quý phái hơn là những học giả thông thái.

Púshkin trải qua 6 năm liên tiếp trong ngôi trường đặc biệt này và nó trở nên thân thiết với thi sĩ nhiều hơn là gia đình. Các bạn học, bằng một thứ tình cảm nồng nhiệt và bền bỉ, đã đem lại được cho Púshkin nỗi ấm áp của tình thương mà ông thiếu thốn từ bé. Nhà thơ vẫn ưa thích đọc cho các bạn nghe những tác phẩm của Voltaire, Parny và của những thi nhân nổi tiếng người Pháp. Đôi khi Púshkin lại đọc các bài Latin cổ điển; cũng thường tuyên bố rằng trong số các nhân vật thời Trung Cổ, nhà thơ ưa thích Apuleius(2) hơn Cicero(3)

Lúc bấy giờ, văn chương trở nên là một luồng sóng trong trường Trung học Tsárskoye Sélo. Púshkin bắt đầu làm thơ. Những vần thơ đầu tiên được viết bằng tiếng Pháp khi tác giả của chúng vẫn còn mặc bộ đồng phục màu xanh với khăn quàng màu đỏ. Một cách tự nhiên, Púshkin cộng tác với những tờ báo trình bày bằng tay, điều khiển bởi một số học sinh trong trường. Một loạt sáng tác gồm các bài thơ tình, các bản bi ca đầy ước muốn, những mục thi, hoặc những vần thơ thanh nhã… được thi sĩ cho chào đời bằng giọng điệu bất thường, lưu loát và quyến rũ. Hơn hết, các bài thơ trào phúng mới là điều mau chóng tạo nên cho Púshkin cái tiếng vang về một trí tuệ xuất chúng thông minh. Trong các bài phổ biến từ trường Trung học Sélo, thỉnh thoảng có những bài công kích thẳng vào vị đương kim Hoàng Đế Alexander I. Trong giai đoạn này của thi ca Púshkin, trạng thái căng thẳng của tình cảm được chú trọng nhiều hơn là khía cạnh văn chương.

Pushkin đọc thơ trước thi sĩ Derzhavin năm 16 tuổi

Ngay khi còn ở bậc trung học nhà trường, Púshkin đã được một nhóm các nhà văn trẻ cấp tiến xem là nguồn hy vọng lớn của nền văn chương Nga. Ông kết làm bạn thân với Joukovski và Karamzine.

Ngày 8/1/1815, Derjavine, một thi sĩ rất trọng tuổi, khi nghe Púskin đọc xong bài thơ Souvernir de Tsárskoye Sélo vừa mới làm xong, đã quay về phía cử tọa tham dự mà nói: “Hãy ghi nhớ tên cậu ấy –Púshkin. Đó là người sẽ kế nghiệp tôi.”

Trước khi rời trường trung học, người ta đã đánh giá Púshkin như một đối thủ ngang hàng với Joukovski và Batyushkov, hai thi sĩ nổi tiếng thời ấy. Trong nền văn học dồi dào của nước Nga, chưa hề có tác giả nào được công nhận một cách sớm sủa và mau lẹ như Púshkin lúc bấy giờ. 

III
(1817 – Cuối năm 1820)

Tháng 6/1817, khi vừa 18 tuổi, Púshkin rời trường Trung học Tsárskoye-Sélo. Một tương lai rực rỡ trong cách thức được mọi người công nhận là thiên tài thi ca mở ra trước mặt nhà thơ. Nhưng Púshkin lại không có tiền và cũng chẳng trông mong gì được vào di sản của gia đình. Vì vậy, tuy ưa thích gia nhập vào đội Khinh Kỵ Binh hoàng gia, nhà thơ đành chấp nhận trở nên một nhân viên Bộ Ngoại Giao ở Saint-Pétersbourg với chức vụ bổ nhiệm chỉ thuần trên danh xưng mà chẳng phải làm việc thực thụ. Số lương hằng năm được trả là 700 rúp.

Bầu máu nóng tuổi trẻ bắt đầu xúi giục Púshkin hành động sai lạc trên những điên cuồng thích thú. Thi sĩ uống rượu, đánh bạc, khiêu vũ, đi nhà  thổ, gây chiến, dự các cuộc đấu súng, đeo đuổi các vũ nữ, và trên hết, mang tiếng là “một kẻ bị hành hạ bởi tình dục” với những tác hại kinh khủng trên sức khỏe và cái hầu bao nhỏ bé. Karamzine đã viết về Púshkin thời gian này: “Anh ta bị thách đấu gươm từng mỗi ngày!”

Rõ  ràng là kẻ hậu duệ “mang giòng máu Phi Châu” đã hưởng thụ tận tình tuổi trẻ tươi đẹp bởi những sôi nổi không giấu diếm của lòng ham muốn. Nhà thơ tự khám phá ra trong chính con người mình cái thiên chức yêu cuộc đời một cách say mê.

Nhưng tất cả các cuộc chơi dù cuồng loạn bao nhiêu cũng đều không làm ngăn trở việc sáng tác của thi sĩ. Về người bạn trẻ, Joukovski không ngừng tuyên bố: “Ngòi bút mới tuyệt diệu làm sao! Tài năng Púshkin giống như một thứ yêu ma khiến tôi như luôn luôn bị đeo đuổi, ám ảnh.”

Púshkin bắt đầu viết bằng những kinh nghiệm sống. Văn phong trở nên sắc bén hơn. Thi sĩ được quần chúng biết đến nhiều bởi những bài thơ trào phúng công kích thẳng vào những người quyền cao chức trọng trong hội đoàn tôn giáo và chính phủ, ngay cả Hoàng đế Alexander I; đồng thời được ca tụng bởi các bài thơ ngụ ý phàn nàn thương xót cho sự đau đớn của giai cấp nông nô; hay các bài tán dương sự tự do như một thứ tuyên cáo chống lại sự áp bức của bạo quyền.

Lúc  ấy, văn giới Nga trong thành phố Pétersbourg phân chia thành hai phía đối lập:

1/ Phía bảo thủ, dẫn đầu bởi một nhà mô phạm (khi ấy đang nắm chức Phó Đề Đốc và về sau trở nên là Tổng trưởng Giáo dục). Ông này luôn tìm cách tảo trừ nền văn chương ngoại quốc và giữ gìn mối quan hệ cổ truyền dân tộc, điển hình qua các loại sách thuộc về tôn giáo. Phe này cũng chủ trương bênh vực trường phái văn chương trang nghiêm của thế kỷ trước.

2/ Phe cấp tiến, gồm các nhà văn trẻ nhiều tài năng, chủ trương đổi mới và thế tục hóa ngôn ngữ Nga, đồng thời đào tạo va trau giồi một trường phái văn chương lãng mạn, dễ dãi.

Tháng 3/1820, tập trường thi Ruslán & Lyudmíla (viết từ 1817) được Púshkin hoàn tất, nhưng phải đợi cho đến 1822 mới được xuất bản. Một tác phẩm lãng mạn, khoái hoạt, được viết bằng giọng điệu vừa nghiêm trang vừa hài hước khinh bạc mà ngay từ khi xuất hiện của nó, đã là một biến cố, tạo nên rất nhiều ảnh hưởng trên cả một thời đại thanh niên Nga và trở thành mục tiêu chỉ trích nặng nề của đám người già. Dẫu mang dáng dấp của Bylines, loạt anh hùng ca được lưu truyền rộng rãi trong nước Nga, nhưng thực chất của bản sử thi thì lại được rút từ Chàng Roland Cuồng Nộ của Aristoste.

Câu chuyện kể:

Ngay đêm tân hôn, vị hoàng tử  Rúslan dũng cảm nhìn thấy vị  hôn thê Lyudmíla bị  một tên phù thủy gù  lưng cướp đi mất. Gã phù  thủy cố gắng chiếm cho được trái tim Lyudmíla nhưng vô hiệu. Được trợ lực bởi một vị phù thủy khác, Rúslan, sau vô số các cuộc phiêu lưu, đã tìm ra nơi lưu trú của kẻ bắt cóc trong vùng rừng núi phía Bắc. Sau ba ngày chiến đấu dữ dội cùng gã phù thủy gù lưng, chàng đã chiến thắng, gặp lại nàng Lyudmíla trong khu vườn nhiều hoa thơm cỏ đẹp, và đem nàng trở về.

Tuy tác giả của bản anh hùng ca là một người trẻ  tuổi, nhưng người ta cũng nhận thấy ngay rằng đó là  một tác phẩm bậc thầy trong ngôn ngữ Nga, nói lên sự tìm kiếm triệt để ý nghĩa đích thật của cuộc đời trong tâm hồn thi sĩ. Tác phẩm và tác giả kết hợp nhau một cách chặt chẽ. Tính chất tài hoa tăng trưởng dữ dội theo với cuộc sống cuồng loạn của thi nhân. Ruslán & Lyudmíla không những chỉ là những gì thuộc riêng Púshkin đã sống và đối diện, mà còn là nỗi suy nghĩ chung của mọi giới tuổi trẻ. Một nền ngôn ngữ mới vừa xuất hiện ở Nga qua tác phẩm ấy. Những diễn tả thi vị là điều về sau này tạo được cho Púshkin cái vị trí thiên tài hàng đầu trong nền thi ca Nga.

Khi đó, Púshkin chỉ mới 21 tuổi.

Tuy nhiên, trước khi Ruslán & Lyudmíla xuất hiện, những bài thơ cách mạng trào phúng của Púshkin đã thấu đến tai Hoàng Đế Alexander I. Do đó, cuối năm 1820, dù rằng có sự can thiệp của Joukovski và Karamzine, nhà thi sĩ trẻ tuổi vẫn được lệnh phải rời Pétersbourg để đi về vùng Ekaterinoslás, thuộc miền Nam, phục vụ như một hình thức bị lưu đày dưới quyền Đại tướng Inzov Rayévski, một quân nhân nổi tiếng của cuộc chiến cùng Napoléon vào năm 1812

IV.
(Cuối năm 1820—1822)
(Kichinev)

Púshkin rời Pétersbourg với tâm trạng pha trộn giữa sự bồng bột giận dữ và nỗi lắng dịu trong ý nghĩ  được giải thoát khỏi những thú vui ăn chơi phóng đãng cũ. Nhà thơ mang theo đến vị xếp mới lá thư giới thiệu của vị Tổng trưởng Ngoại giao, có những lời như sau:

“Thiếu thốn mọi liên hệ ấm áp từ gia đình, chàng tuổi trẻ chỉ lưu lại trong tâm tư một thứ tình cảm duy nhất: Lòng ham mê  độc lập. Không sự quá quắt nào mà chàng không từng trải qua, cũng như không điều hoàn hảo nào mà chàng không thể đạt đến do từ tài năng xuất chúng…”

Lá  thư còn phát biểu xa hơn rằng Púshkin (kẻ có  tội) đã hứa “một cách trang trọng” “sẽ từ bỏ mãi mãi mọi lầm lỗi”, và rằng “tương lai chàng bây giờ thành công hay không đều tùy thuộc vào sự khuyên nhủ của Đại tướng.”

Đại tướng Inzov không làm cho “cậu bé kinh khủng” phải e dè nặng nề hơn bởi những lời khuyên hoặc bởi nhiệm vụ của một sĩ quan. Thay vào đó, ông tiếp đãi Púshkin đàng hoàng, cho mượn tiền, cho nghỉ phép thường xuyên. Mỗi khi phải đặt Púshkin vào tình trạng cấm túc trong phạm vi kiểm soát của ông, Đại tướng đưa Púshkin đi thăm các người tù và cùng thi sĩ trò chuyện về cuộc cách mạng Tây Ban Nha một cách hứng thú. Cậu con trai –Alexander Rayévski—và cô con gái của Đại tướng rất được Púshkin ngưỡng mộ, tôn trọng. Thi sĩ và Alexander Rayévski chia xẻ nhiều nỗi say mê theo các tác phẩm của Byron và cùng nhau nghiên cứu về vẻ đẹp vùng Crimée rộng lớn. Họ du lịch tới vùng Bắc Caucase, ngụ lại trong lãnh địa của gia đình Rayévski tọa lạc trên một vùng bờ biển quyến rũ; rồi lại di chuyển đến lãnh địa khác (cũng của gia đình Rayévski) ở Kamena, trong tỉnh Kichnev. Tại đây, người bạn cùng say mê thi ca Byron đã hướng dẫn Púshkin đến tận chỗ ở của những người cầm đầu cuộc phản loạn tháng 12/1825 sẽ xảy ra về sau này.

Ngoài ra, không một nơi chốn hoang dã nào trong vùng Caucase rộng lớn mà nhà thơ không từng đặt chân  đến. Có chuyện kể rằng Púshkin đã gia nhập vào một nhóm gypsy để đi lang thang suốt các nơi của miền Nam Bessarabie. Tâm tư thi sĩ thắt lại vì cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ. Các cảm xúc mạnh mẽ đã được ghi lại rất rõ ràng trong các vần thơ thời kỳ này.

Rốt lại, những tháng năm lưu đày hóa ra lại là một trong vài khoảng thời gian hạnh phúc hiếm hoi của cuộc  đời thi sĩ.

Khi bị buộc phải trở lại nhiệm vụ dưới quyền Đại tướng Inzov ở Kichinev, Púshkin tỏ ra rất buồn chán. Giai đoạn này, thời giờ của thi sĩ được chia ra giữa những cuộc “gặp gỡ nhóm người tháng 12” (Décembristes) và những buổi tối có rượu champagne chảy như suối cùng các người đàn bà đẹp. Nhà thơ lại tiếp tục phải lòng tất cả những phụ nữ mỹ miều mà ông giao thiệp. Tuy nhiên, nỗi đam mê lớn nhất trong tâm hồn Púshkin vẫn chỉ là thi ca.

Khoảng đời hai năm từ 1820 đến 1822 ở Kichinev lại rất bổ ích cho Púshkin. Tại đây, ông sáng tác hăng say hơn khi còn ở Pétersbourg.  

Năm 1822, Púshkin viết Người Tù Ở Caucase, một bài thơ ngắn rất nổi tiếng, tác phẩm đầu tiên được viết ra trong cuộc lưu đày miền Nam. Câu chuyện như sau:

Trong cuộc chiến tranh diễn ra đầu thế  kỷ 19 giữa người Nga và người miền núi vùng Caucase, một sĩ quan Nga trẻ tuổi bị bắt và bị đưa đến cầm tù trong bộ lạc xứ Circassie. Bị canh giữ cẩn mật, nhưng chàng tuổi trẻ mơ mộng vẫn như lãnh đạm với số phận của mình và cũng không màng gì đến chiến tranh đang hiện hữu. Đầu óc bị chiếm hữu bởi một mối tình cũ trước đó, chàng gần như không lưu tâm chút nào đến tình cảm kín đáo mà say đắm của một cô gái Circassie dành riêng cho chàng. Cô cố gắng làm khuây giải chàng sau khi đã săn sóc các vết thương của chàng. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Một ngày kia, tất cả những người dân Circassie phải lên đường chinh chiến; nàng con gái Circassie bèn âm thầm phóng thích cho người tù. Không do dự, chàng sĩ quan Nga bèn bỏ trốn ngay. Mới đi được vài bước, chàng bỗng nghe một tiếng động lớn nên quay trở lại: Cô gái Circassie đã ném mình xuống biển tự tử. 

Chủ  đề đơn sơ; bài thơ rất ngắn, nhưng lại  được xếp là một trong những tác phẩm lớn của Púshkin. Chính thi sĩ cũng từng xác nhận mình trong vai trò người tù: “Những câu thơ đã xuất phát thẳng từ trái tim tôi”.

Trên thực tế, Púshkin bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Byron, không những chỉ trên hình thức văn chương, mà  còn trên khía cạnh lãng mạn của tâm hồn. Giống như  Byron, Púshkin đã phải cưu mang sự mệt mỏi nặng nề  trong tâm tư và sự chán nản theo một cuộc sống không sinh thú. Đó cũng là tâm trạng chung của lớp thanh niên thế kỷ 19. Nhưng, giống như Byron, Púshkin đã khiến nẩy bật từ trái tim riêng những giòng xúc cảm nói lên được cái tâm trạng buồn chán ấy. Trong bài thơ vừa kể, một cách cố ý, Púshkin không đưa ra rõ ràng nhân dáng bằng xương bằng thịt của cô con gái xứ Circassie, mà như một ám chỉ cho những cánh hoa mỏng manh mọc lên giữa thiên nhiên rất tàn khốc. Nàng hiện diện như một tiên nữ, một biểu hiệu của tình yêu vô tận, xoa dịu những đau đớn thể xác cho chàng lúc khởi đầu, sau đó trao tặng chàng trái tim thanh khiết, đơn sơ.  

Bối cảnh câu chuyện đầy màu sắc địa phương, sự  rực rỡ và hùng vĩ của vùng Caucase chan hòa nắng ấm, tính tình hoang dã của những cư dân miền núi… tất cả chỉ là những điều phụ thuộc tự nhiên: Ðó là tính chất bên ngoài của Púshkin. Mà thật thì ông đã đóng một vai trò rất xác định trong bài thơ: trước mặt hai người trẻ tuổi, nhà thơ như biểu tượng cho một khuôn dáng khác tàn bạo hơn: Mặt trái của Thiên Nhiên.

Người Tù Ở Caucase đã đem lại cho Púshkin sự thành công còn lớn hơn cả Ruslán & Lyumíla nữa.

Thời gian mới đến Kichinev, Púshkin tỏ ra khá vui thích khi tự cho mình giống như một kẻ lạc loài giữa đám người chưa được khai hóa. Nhưng chẳng bao lâu, nhà thơ đâm ra buồn chán vì tình trạng thiếu thốn tiền bạc, thiếu thốn các cuộc chơi, các nhà hát, thiếu những người bạn trí thức, những lạc thú, cũng như sự săn sóc an ủi của các người hầu. Chàng thi sĩ trẻ bắt đầu quay lại với các thói quen phóng đãng cũ, tham dự các trò chơi trơ trẽn, tiêu sắm tiền bạc cách hoang phí, sử dụng toàn những câu nói gay gắt thô tục. Bấy giờ, tất cả mọi điều hành xử đều nói lên tâm trạng đang lịm chết của nhà thơ trong vùng Kichinev buồn thảm; đồng thời cũng chính là nỗi phản kháng lại đoàn thể quyền thế mà ông, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng, đang bị buộc là một nạn nhân. 
 

V
(Tháng 7/1823)
(Odessa)

Mùa hè 1823, Púshkin được lệnh đổi tới Odessa, phục vụ dưới quyền Bá tước Đại tướng chính phủ Vorontsov. Tại đây, thi sĩ được thở nhẹ nhàng không khí tự do có vẻ Âu Châu của hải cảng lớn đẹp như tranh vẽ, trái ngược hẳn với vùng Bessarabie đầy bụi bặm. Ông thụ hưởng mặt trời, biển cả, các nhà hát kịch Ý Đại Lợi và những con sò ở Otton.

Đời sống nhà thơ lại bắt đầu vô trật tự và thác loạn như khi còn ở Pétersbourg, đánh dấu bởi tình cảm cho cả hai người đàn bà trong cùng thời gian: nàng Dalmatian Rinznich và nữ Bá tước Elizabeth Vorontsov, vợ của vị Tổng trấn vùng Odessa. Damatian Rinznich đem lại được cho Púshkin cái dục tính mãnh liệt và chính là cảm hứng cho những bài thơ tình hay nhất của thi sĩ thời gian này. Còn tình cảm với bà Bá tước lại đưa đẩy Púshkin vướng mắc vào cái vòng cư xử giả dối giữa ông với Alexander Rayévski (người bạn cùng yêu thơ Byron) lúc bấy giờ cũng đang là tình nhân của bà.

Mặt khác, những mối liên hệ giữa chàng thi sĩ trẻ  với vị Bá tước Tổng trấn lại trở nên không thể chịu nổi. Bá tước Vorontsov không quan tâm đến tài năng của viên thuộc hạ tầm thường. Ông làm cho Púshkin cảm thấy như bị sỉ nhục bởi những che chở bảo trợ của ông. Thêm vào đó, do bởi lòng ghen mà Bá tước thúc đẩy Púshkin xin phục hồi chức vụ cũ ở Pétersbourg. Điều này càng làm nhà thơ nổi giận khi tự nghĩ rằng mình không phải là một viên chức nhà nước, mà là một thi sĩ chuyên nghiệp. Vì vậy Púshkin từ chối.

Tất cả chân dung Púshkin thời gian này được diễn tả như sau: Một tay, thi sĩ viết những áng thơ tình ca tụng sắc đẹp bà Bá tước, tay kia là những bài thơ trào phúng giễu cợt, công kích người chồng Đại tướng chính phủ và cũng là vị chỉ huy cao cấp của mình. Dù vậy, kinh nghiệm và sự lớn dậy trong vị thế một thiên tài thi ca đã được hình thành rõ rệt trong Púshkin. Tuy sáng tác không đều, lúc chơi lúc làm việc không liên tục, Púshkin cũng đã xếp đặt để đưa ra một công trình thi ca vĩ đại. Văn chương bắt đầu được kể như nguồn suối lợi tức cho một con người hầu như lúc nào cũng ở trong vị thế cần tiền. Một vài bài thơ mang ảnh hưởng André Chenier(4) Nhiều bài khác lại có dáng dấp Byron. Dấu ấn Byron được nhận định rõ ràng trong kỹ thuật cấu kết những bài tự sự mà Púshkin đã viết. Giống như Người Tù Ở Caucase, Suối Nước Bakhchisaráy (hoàn thành 1822, xuất bản 1824); Những Kẻ Cướp Huynh Đệ… đều là những tác phẩm tuyệt diệu trong sự nghiệp thi ca Púshkin.

Được viết ra thời gian ngắn sau khi bị lưu đày, Suối Nước Bakhtchisarai (Bahcisarajskij fontan) là một bài thơ làm gợi nhớ đến nhân vật Ossian (vị anh hùng thi sĩ Tô Cách Lan chuyên đi rong và chép chuyện thần tiên ở thế kỷ thứ III) và cũng gợi nhớ thi sĩ Pháp, Hiệp sĩ De Parny (1753-1814). Ảnh hưởng của Byron được tìm thấy rất rõ ràng trong bài thơ. Cảnh trí trong một khuê phòng được miêu tả với một thể thức lãng mạn và màu sắc phong phú hoàn toàn Đông Phương, làm liên tưởng đến cung điện trong phần hai tác phẩm Don Juan của Byron.

Câu chuyện kể về nàng Maria, một công chúa người Ba Lan bị Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ bắt đưa vào hậu cung. Vì yêu thương nàng mà hoàng đế đã truất bỏ Zaméra, nàng cung phi được sủng ái trước đó. Giữa bối cảnh của những khoái lạc kiểu Hồi giáo, Maria đã bày ra trong phòng riêng những hình ảnh tượng trưng cho một hải cảng thuần khiết Cơ Đốc giáo, để tại đây, nàng có thể trải qua những ngày giờ cầu nguyện hầu xoa dịu nỗi thương nhớ quê hương xa xôi nung nấu tâm can nàng. Vị Hoàng đế không dám mạo phạm sự ngây thơ vô tội, hay làm tiêu tán nỗi sầu cùng sự hy vọng của người bị bắt. Nhưng Zaméra thì không thể khoan thứ; bị khích động bởi lòng ghen, bà dùng dao găm đâm chết kẻ tình địch.

Theo lệnh hoàng đế, những tên lính canh khuê  phòng bắt giữ Zaréma. Và  để tưởng niệm cái chết nàng con gái trẻ, vị chủ tể đau khổ đã cho đào một suối nước, đặt tên là “Những giọt lệ”, và cho khắc ghi trên một phiến đá những giòng chữ kể về cuộc đời buồn khổ của Maria. 

Riêng Những Kẻ Cướp Huynh Đệ, đoản văn trong câu chuyện dài về những kẻ sống ngoài vùng pháp luật, cũng mang số phận bị bỏ dở dang như nhiều sáng tác khác không được kết thúc của thời kỳ này. Qua tác phẩm này, sự thật trần truồng của cuộc sống đã được Púshkin đem vào thi ca một cách đầy rung cảm. Tuy nhiên, tư tưởng lãng mạn của nhà thơ lại không đi quá xa. Púshkin không phải là con người nổi loạn từ trong bản chất tự nhiên, mà sự nổi loạn chỉ do bởi sự thúc đẩy của hoàn cảnh. Luôn luôn nhà thơ chỉ muốn xếp đặt để ráp nối sự bình yên vào với cuộc sống. Và càng lúc theo với thời gian, ngòi bút Púshkin càng để lộ một cá chất thực tế hơn.

Tiếng tăm Púshkin nổi như cồn. Những bạn hữu ở  Moscow đứng ra xuất bản các tác phẩm của thi sĩ. Dĩ  nhiên, các bài thơ trào phúng công kích Bá tước Vorontsov và sự dan díu giữa nhà thơ với bà Bá tước đã thấu tới tai Hoàng đế Alexander I. 

... CÒN TIẾP ...


_________________________________________________

(1) Vào khoảng 1717-1723, một cung điện bằng đá được dựng lên tại Saint-Pétersbourg, lãnh thổ mà Đại Đế Pierre I đã ban cho Nữ hoàng Catherine I.

Cung điện được trùng tu nhiều lần kể từ đó. Trường Trung học Tsarskoye Sélo được thành lập trong khuôn viên cung điện vào hậu bán thế kỷ 18.

(2) Lucius Apuleius, nhà văn Latin (Madaure, Numidie 125–Carthage 170 trước công nguyên).

(3) Marcus Tullius Cicero, triết gia và chính trị gia người La Mã (Arpinum 106 – Formies 43 trước công nguyên.)

(4) André de Chenier, thi sĩ Pháp (Constantinople 1762 – Paris 1794).










© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 13.11.2010.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .