Kỷ niệm lần thứ năm
ngày Cụ Giản Chi qua đời

(22-10-2005 – 22-10-2010)

CỤ GIẢN CHI
Học giả, Thi nhân, Hiền giả

Cụ Giản Chi tên thật là Nguyễn Hữu Văn, quê làng Hạ Yên Quyết (làng Cót), phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội), sinh ngày 28-9-1904, mất ngày 22-10-2005, thọ 102 tuổi.


Cụ Giản Chi Nguyễn Hữu Văn là nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng với tác phẩm Đại cương triết học Trung Quốc (viết chung với Nguyễn Hiến Lê), ngoài ra cụ còn là một nhà thơ với thi phẩm duy nhất là cuốn Tấc lòng gồm có thơ sáng tác và thơ dịch từ năm 1936 đến năm 1992 do Nhà xuất bản Văn Hóa ấn hành năm 1993.

Thơ cụ Giản Chi phần lớn là thơ thất ngôn bát cú, một thể thơ sở trường của cụ, thỉnh thoảng cũng có những bài ngũ ngôn hay lục bát. Nội dung thơ cụ gồm có thơ tả cảnh, tả tình (nhất là tình bạn) và những cuộc chia ly như đã nhiều lần xảy ra trong đời cụ.

Thơ tả cảnh của cụ rất đặc sắc, đượm vẻ tiêu sái của một nhà hiền triết :

Ở đây bóng dịu vang êm,
Nước đâu khe núi, trăng bên liễu hồ.
Mong manh dáng đẹp trong mơ,
Ở đây tiếng địch sông thu chập chờn.


(Cõi thơ – 1936)

Trong thơ cụ, sương và trăng là những hình ảnh thật đẹp, lại điểm thêm tiếng địch lúc nửa đêm thì tuyệt diệu biết chừng nào :

Xanh tạnh sương nương ngàn liễu bến,
Vàng rơi trăng đọng đóa hoa thềm.
Lá thư bạn cũ hương ngàn dặm,
Tiếng địch song hồ… mộng nửa đêm.


(Mai trời lại đẹp – 1942)

Cảnh chiều thu trong thơ cụ mang những sắc màu ảm đạm : màu đỏ của lửa bến khêu mờ, màu nhạt của nắng chiều, màu mây trắng giăng đầu núi và màu vàng của cánh buồm ở sông xa :

Lửa bến khêu mờ đêm thái cổ,
Gió khe thổi nhạt bóng tà dương.
Mây giăng non thẳm bâng khuâng trắng,
Buồm ruổi sông xa lặng lẽ vàng.


(Chiều thu – 1936)

Bạn của cụ hầu hết là bạn văn chương như Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, Đông Hồ Lâm Tấn Phác, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Giới Chi Vi Huyền Đắc, Sao Trên Rừng (Nguyễn Đức Sơn), Bùi Khánh Đản, Đông Xuyên, Triều Sơn…

Nguyễn Hiến Lê là bạn văn thân thiết nhất của cụ vì đã cùng cụ viết chung các tác phẩm nổi tiếng : Đại cương triết học Trung Quốc, Tuân tử, Hàn Phi tử… (1) nên thơ cụ viết gửi Lộc Đình rất thắm thiết, thân tình :

Trăm năm kiếp gửi thêm ngờ mộng,
Ba trống canh buông dễ bạc đầu !
Ánh đuốc dạ du buồn thấp thoáng,
Nỗi lòng độc tỉnh lụy xưa sau…


(Lại cùng mất ngủ – 1960)

Thơ gửi Lãng Nhân Phùng Tất Đắc chứa chan niềm hoài cảm vì nỗi cách xa, rồi đây chẳng biết “đông tàn có nở mai?” hay mãi mãi vẫn một màu ảm đạm :

Năm ngoái thu về vui có ai,
Thu nay biển rộng nhớ sông dài.
Quê xưa heo hút chân trời thẳm,
Cuộc lớn tơi bời mái tóc phai.


(Thu xa – 1955)

Trong bài thơ “Nhớ nhau hoa bưởi mưa chiều” gửi Đông Xuyên, cụ tỏ lòng thương nhớ bạn ở xa, còn mình thì cô đơn bên án sách và nửa mái hiên tre với nỗi lòng xuân vắng, nhìn cánh hoa bưởi rơi trong ngõ sâu dưới trận mưa chiều mà lòng buồn tê tái :

Án sách dăm pho ngày trắng lệch,
Hiên tre nửa mái mộng xanh nhầu.
Hoang mang hương nhớ lòng xuân vắng,
Hoa bưởi mưa chiều rơi ngõ sâu.

(Mỹ Đức 19-3-1947)

Với Triều Sơn thì thơ cụ gợi lên nhiều kỷ niệm khi sum họp : “rượu nâng chén nhỏ” “vui giữa đêm lành” để rồi phải chia tay :

Mai đây nam bắc xa vời,
Vần thơ này thả mây trời đưa nhau.


(Với Triều Sơn – 1950)

Còn nỗi buồn nào hơn trong đêm trừ tịch, một mình một bóng chốn quê người, ngồi suốt đêm độc ẩm nghe tiếng pháo xa, mơ một lần mai trắng nở hoa mà tủi cho thân làm khách:

Xuân đã về ư? Tiếng pháo xa…
Bâng khuâng chén nhỏ vợi canh gà.
Vẫn muôn dặm tủi thân làm khách,
Lại một lần mơ mai trắng hoa.


(Trừ tịch – 1958)

Có cuộc chia tay nào mà không bịn rịn. Kẻ đi lòng trống lạnh, người về một bóng cô đơn, dòng sông thêm một nhịp cầu chia cách và cuộc đời thêm một lần tang khiến ta nhớ tới câu “Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần” trong thơ Trịnh Cốc đời Đường :

Dòng đời đôi ngả từ đây,
Chảy trôi ngày tháng, nước mây lỡ làng.
Đoạn tràng thêm nhịp cầu sang,
Trăm năm thêm một lần tang ân tình.


(Dặm về)

Thơ cụ Giản Chi có nhiều bài viết về tình bạn và cuộc chia ly như vậy. Chẳng hạn khi nhớ nhà thơ Sao Trên Rừng (tức Nguyễn Đức Sơn) cụ viết :

Chia tay chốc mấy thu rồi,
Lênh đênh bèo giạt sóng nhồi, thương nhau.


(Thanh khí – 1978)

hay trong bài thơ “Chén rượu tống biệt” gưỉ Đ.M.H. :

Tiếng gà vỡ nát trời mơ,
Đêm tàn đã rũ trong tơ liễu hồ.
Sao mai gió đã thổi mờ,
Con đường đôi ngả bây giờ đôi ta.


(Bên hồ Hoàn Kiếm -1939)

Về thơ dịch, cụ Giản Chi dịch thơ chữ Hán của các thi hào Trung Hoa và Việt Nam. Thơ dịch của cụ trôi chảy lưu loát, ý tứ thâm trầm sâu sắc, niêm luật chặt chẽ mà phóng khoáng tự nhiên. Cụ dịch bài “Tĩnh dạ tứ” của Lý Bạch như sau :

Trước giường lênh láng bóng trăng,
Trắng phau mặt đất ngỡ rằng hơi sương,
Ngẩng trông bóng nguyệt tròn gương,
Ngổn ngang nỗi nhớ quê hương, cúi đầu.


(Đêm tĩnh bồi hồi)

Vì thường hay làm thơ tả cảnh chia ly nên cụ rất thích bài “Hoài thượng biệt cố nhân” của Trịnh Cốc đời Đường:

Dương Tử giang đầu dương liễu xuân,
Dương hoa sầu sát độ giang nhân.
Sổ thanh phong địch ly đình vãn,
Quân hướng Tiêu Tương, ngã hướng Tần.

Và đã dịch:

Bến Dương xuân mượt cành dương,
Hoa dương buồn chết người sang bến chiều.
Quán không tiếng sáo đìu hiu,
Anh về đất Sở, tôi theo hướng Tần.

Một trong những bài thơ dịch mà cụ Giản Chi đắc ý nhất là bản dịch bài Yến tử lâu” của Phán Phán (Bạch Cư Dị có họa bài này) :

Gác xưa đèn lụn sương mai,
Giường đôi lứa, dậy mình ai bây giờ.
Một đêm biển đợi non chờ,
Bao nhiêu cao rộng cho vừa nhớ thương (2).


(Lầu chim én)

Về thơ chữ Hán của Việt Nam, cụ Giản Chi dịch thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Trần Bích San, Phan Khôi…. Cụ dịch bài “Dương Phi cố lý” (3) của Nguyễn Du như sau :

Quạnh quẽ Tây Giao gò bãi phẳng,
Um tùm Nam Nội lác lau đầy.
Phấn son dấu cũ tìm đâu thấy,
Xào xạc thành xuân trận gió lay.


(Quê cũ Dương Phi)

Cụ dịch bài thơ “Trà giang thu nguyệt ca” của Cao Bá Quát bằng một giọng thơ vô cùng hào sảng, thích thú như được cùng tác giả ngồi đối ẩm dưới ánh trăngsông Trà (4):

Trăng sông Trà
Vì ai trăng trong vắt đêm ni?
Muôn dặm trăng một màu quan tái đó.
Tình nơi đâu không thắt buộc mối phân ly?
Nâng chén mời trăng với ta cùng uống,
Rượu long lanh vào đáy chén. Trăng đi.
Toan nhắp chén, trăng bay đâu rồi nhỉ?
Ngoài bóng người nghiêng ngửa, chén còn chi !...

Cụ Giản Chi cũng có làm thơ chữ Hán. Cuối năm 1946 quân Pháp nổ súng xâm lăng Việt Nam lần thứ hai, cụ chạy loạn về Sồ Sơn (Mỹ Đức) và một đêm ngủ tại đây, cụ xúc cảnh sinh tình làm bài thơ cảm tác :

LOẠN TRUNG ĐỘC TÚC SỒ SƠN

Trục trần cường bán tải,
Hà nhật bốc qui kỳ?
Sang náo nan vi mộng,
Đăng hàn lãn phú thi.
Lữ hoài vân mạc mạc,
Cựu ước nguyệt trì trì.
Sầu tuyệt cô miên dạ,
Không sơn thính tử qui.

(Mỹ Đức – 1946)

Tác giả tự dịch :

ĐÊM LOẠN MỘT MÌNH NGỦ Ở SỒ SƠN

Ra đi quá nửa năm rồi,
Chuyện về, biết hẹn với người hôm nao.
Súng rền, đã khó chiêm bao,
Đèn lu lây cả biếng vào hứng thơ.
Tiền trình dõi đám mây thưa,
Lời ai còn đó trăng xưa hẹn hò.
Gối đơn buồn rộng không bờ,
Hơi quyên khắc khoải, ngọn Sồ chơi vơi….

Ngoài thơ, cụ Giản Chi còn làm câu đối chữ Hán và chữ quốc ngữ, thật đa tài. Có đôi câu đối đề gác Tùng Âm của tác giả ở Đà Lạt, câu đối đề tặng Thanh Vân Nguyễn Duy Nhường, hỉ tặng Nguyễn quân Đông Xuyên, hỉ tặng nữ sĩ Nguyễn Thị Khánh Minh và câu đối đề mộ thi sĩ Đông Hồ :

1. Trần ai chớp mắt năm canh mộng,
Châu ngọc nghiêng lòng một ý thơ (5).
2. Hồ bạc vẫn mơ gần dấu cũ,
Non xanh đâu dám phụ lòng thơm.

Cụ Giản Chi là một học giả, một hiền giả, một nhà nghiên cứu, một thi nhân, có cuộc sống thanh đạm, trong sạch với phong thái của một nhà nho khả kính. Cụ mất đi nhưng đã để lại cho đời những tác phẩm văn học, triết học và thi ca có giá trị rất cao, đáng để cho lớp hậu sinh chúng ta nghiên cứu và học hỏi, nhất là tấm gương trong sáng, không một vết nhơ của đời cụ.



__________________________________________

(1) Cụ Giản Chi và học giả Nguyễn Hiến Lê từng được trao giải thưởng văn học nghệ thuật toàn quốc của chính quyền Sài Gòn (trị giá 25 lượng vàng) nhưng cả hai vị đều từ chối.

(2) Nguyên tác bài thơ “Yến tử lâu” của Phán Phán :

Lâu thượng tàn đăng bạn hiểu sương,
Độc miên nhân khởi hợp hoan sàng.
Tương tư nhất dạ tình đa thiểu,
Hải giác thiên nhai vị thị trường.

Phán Phán là một danh kỹ đời Đường, người yêu của Thượng thư Trương Kiên Phong. Phán Phán giỏi ca vũ lại có thi tài. Bài này là một trong ba bài vịnh “Lầu chim én” của nàng, thấy chép trong Trường Khánh tập của Bạch Lạc Thiên (tức Bạch Cư Dị).

(3) Dương Phi : tức Dương Quí Phi (Dương Ngọc Hoàn), ái phi của vua Đường Minh Hoàng, vì loạn An Lộc Sơn phải thắt cổ ở gò Mã Ngôi (tỉnh Thiểm Tây).

(4) Sông Trà Khúc ở Quảng Ngãi.

(5) Tháng 9 năm 2002 chúng tôi đi Hà Tiên chúc thọ nữ sĩ Mộng Tuyết 90 tuổi vẫn còn thấy đôi câu đối này trên bia mộ Đông Hồ.

__________________________________________

(Bài này đã đăng trên tạp chí KIẾN THỨC NGÀY NAY số 727 ngày 20-10-2010)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 11.11.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .