Kỳ Đồng và một viên chức Pháp tại Marquises Tahiti.

KỲ ĐỒNG NGUYỄN CẨM

Một chiến hữu của vị anh hùng Hoàng Hoa Thám


 

ĐỖ THIÊN THƯ st.


phía Bắc châu thành Sài Gòn hiện nay có con đường Kỳ Đồng. Vậy Kỳ Đồng là ai? Để đáp câu hỏi này, thường thường người ta chỉ cho biết một cách tóm tắt rằng đó là một tên danh nhân của đất nước, hay hơn nữa là một nhà cách mạng đã bị thực dân Pháp bắt đày đi Châu Phi và bặt vô âm tín. 

Kể cũng không sai, nhưng cuộc đời Kỳ Đồng không phải chỉ thu gọn trong mấy hàng chữ đơn giản ấy mà phải nói cả một trang dài sự kiện đáng ghi. 

Tại sao? 

Vì Kỳ Đồng ngoài con người cách mạng còn là một thi sĩ đã vang bóng một thời, và là một người Việt Nam đầu tiên đã đỗ tú tài Pháp. 

. Tại sao lại gọi là Kỳ Đồng? 

Có người bảo Kỳ Đồng họ Kỳ tên Đồng, nhưng ở Việt Nam hẳn không có ai họ Kỳ cả. Và thế là ngộ nhận. 

Thực ra Kỳ Đổng chỉ là tên hiệu do nhà vua đặt cho. Còn chính tên là Nguyễn Cẩm. 

Ông người thôn Ngọc Đình, làng Trung Lập, phủ Tiên Hưng, tỉnh Hưng Yên (nay thuộc tỉnh Thái Bình), sinh ngày 8 tháng 10 năm 1875 tức năm Ất Hợi, niên hiệu Tự Đức thứ 28. Thân phụ là một nhà nho, thưở nhỏ, ông được vỡ lòng bằng sách Tam tự Kinh. 

Ông học chỉ mấy hôm thuộc hết, và qua sách khác ngay. Bản chất ông thông minh lạ thường, mỗi ngày đọc cả hàng trăm trang sách. Chỉ trông thoáng qua là nhớ. Vì thế, năm lên 7 tuổi, ông đã lầu thông kinh sử cùng các thể văn chương thi phú, tiếng tăm lừng lẫy một vùng, ai ai cũng lấy làm kinh lạ. Do đó, có người đã cho ông là Trạng, là đã ứng vào hai câu sấm truyền: 

"Bao giờ Nhân lý có đình Trạm Chay, có chợ Ngọc đình là có Trạng sinh" 

Người ta nô nức rủ nhau đi xem, kẻ muốn thấy mặt Trạng, người thử tài bằng cách ra những câu đố hóc búa. Câu nào, bài nào, Nguyễn Cẩm cũng xem như trò đùa và đôi khi lại tỏ ra là một người có chí khí phi thường. 

Quan huấn đạo phủ Tiên Hưng lúc ấy là cụ cử Bùi Tam Đồng, một hôm mời cha con ông lại chơi. Gặp trời mưa, thân phụ ông phải cõng con vào dinh, quan Huấn mỉm cười nói: 

- Trạng gì mà bắt cha cõng thế? 

Nguyễn Cẩm đáp: 

- Đó không phải cõng mà là chữ "cửu" là lâu vậy, tức nghĩa quan lớn chờ lâu đó. 

Quan Huấn hỏi: 

- Sao gọi là chữ "cửu"? 

Nguyễn Cẩm đáp: 

- Chữ "cửu" không phải do chữ "nhân" con (tức nhân nhỏ) ở trên chữ "nhân" bố (tức nhân lớn) là gì? 

Quan Huấn lấy làm lạ, ra một câu: 

- Đứng giữa làng Trung Lập (trung lập có nghĩa là đứng giữa) 

Cẩm đối ngay: 

- Dấy trước phủ Tiên Hưng (Tiên Hưng có nghĩa là dấy trước) 

Quan Huấn ra nữa: 

- Tam tài thiên địa nhân (Tam tài là trời, đất và người) 

Cẩm lại đối: 

- Tứ nhi: Phong, Nhã, Tụng (Tứ nhi là bốn thể thơ: thể phong, thể nhã (gồm 2 tiểu nhã và đại nhã, nhưng chỉ kể là một) và thể tụng) 

Trong lúc quan Huấn cùng cha con Nguyễn Cẩm đang đàm đạo, có cụ Thủ khoa Nguyễn Đình Khanh tới, gặp Cẩm, cụ Thủ Khanh cũng ra một câu đối rất khó: 

- Tùng mộc do lai thập bát công (Thập bát là chữ mộc, ghép với chữ công thành chữ tùng) 

Cẩm ứng khẩu đối lại: 

- Quý hòa tự hữu bát thiên tử (Bát thiên là chữ Hòa để lên chữ tử là chữ quý) 

Năm ấy, năm Tự Đức thứ 35, dương lịch 1882, tỉnh Hưng Yên có kỳ thi chọn các sĩ tử sang năm dự trường thi hương Nam Định, cha con ông đều lên tỉnh dự. Các quan trong Hội đồng khảo hạch thấy Cẩm còn nhỏ quá, lấy làm lạ, cho gọi đến thử tài. Một vị quan ra đối: 

- Bát thế nhân xưng kỳ, kỳ phùng hữu nhật (Tám tuổi người đều cho là lạ, có ngày gặp lạ). 

Cẩm đối ngay: 

- Thất niên nhân dĩ sĩ, sĩ chính cập thời (Bẩy tuổi mà mình đã làm quan, làm quan đúng lúc). 

Một vị quan khác ra: 

- Mã xa theo tướng, tốt làm sao? 

Cẩm đối lại: 

- Nam Bắc sang Tây. Đông biết mấy! 

Một vị quan nữa ra: 

- Thần đồng thất thế thần đồng tử (Thần đồng 7 tuổi thần đồng chết). 

Cẩm đối ngay: 

- Nguyễn Cẩm thập tuế Nguyễn Cẩm đăng (Nguyễn Cẩm 10 tuổi, Nguyễn Cẩm sẽ vượt lên tất cả). 

Các quan muốn biết thêm tài Cẩm, lại ra một câu lắt léo: 

- Khổng môn truyền đạo chư hiền, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử (Đạo Khổng truyền cho các thầy giỏi là Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử). 

Cẩm không ngần ngại, đối lại như đã học thuộc lòng: 

- Chu thất khai cơ liệt thánh Thái Vương, Vương Quý, Văn Vương (nhà Chu mở nghiệp cho các thánh Thái Vương, Vương Quý và Văn Vương). 

Các quan đều phục tài, làm sớ tâu về kinh, kèm cả những câu đố. Vua Tự Đức xem thấy sắc cho hai chữ "Kỳ Đồng", có nghĩa là "cậu bé lạ lùng" và châu phê vào sớ "Thử hệ niên khinh, vị khả lục dụng, trước giao Hưng Yên tỉnh thần giáo dục, trừ vi quốc gia nhật chi" (tên này còn ít tuổi quá, chưa lục dụng đuợc, vậy giao các quan tỉnh Hưng Yên dạy dỗ để dùng vào việc nước sau này). 

Thiên hạ từ đấy không gọi chính tên ông nữa mà chỉ gọi "Kỳ Đồng". 

Cũng vì chỗ chưa được lục dụng ấy, Kỳ Đồng mới có bài thơ "tức sự" bằng chữ Hán: 

Thiên hạ phân phân nại nhược hà

Đương kim thời sự chính phiền đa

Kinh niên dân bị phong nhị lạo;

Kỷ độ tặc xâm chiến dữ hòa

Hữu loại vị nhiên tân hỏa tá

Hội kỳ nan kiến thủy ngư gia

Thiên tâm như đục khai bình trị,

Xả ngã kỳ thùy tá quốc gia. 

Xin tạm dịch: 

Bời bời thiên hạ biết sao đây!

Thời sự ngày nay rắc rối thay

Bão lụt hàng năm dân vướng mãi

Chiến hòa mấy lớp, giặc còn gây

Lẫn chừng củi lửa chưa tay đốt

Gặp gỡ vua tôi mỏi mắt chầy

Bình trị trời kia như muốn mở

Bỏ ta ai giúp nước non này? 

Bởi Cẩm có kỳ tài và khẩu khí như vậy nên mọi người đều kính phục, kính phục đến mức cho Cẩm tương lai sẽ là một cứu tinh dân tộc, khiến không biết bao nhiêu danh nhân, sĩ tử đến kết thân với Cẩm, mặc dù tuổi Cẩm chỉ đáng con cháu. 

. Một nhà thơ đã vang bóng một thời 

Thuở ấu thơ, Nguyễn Cẩm chẳng những đã làm thiên hạ phải giựt mình về những câu chuyện văn nghệ trên, mà sau này còn những tác phẩm khác đến nay, trong giới sĩ phu vẫn còn người thuộc lòng, chẳng hạn như bài "Lời non nước" dưới đây: 

Nước xanh biếc lững lờ một giải

Kế trên bề một trái non cao

Nhân khi ngẫu nhĩ gặp nhau

Nước non bày tỏ nông sâu sự đời

Non bảo nước: "bác người lịch duyệt

Khắp xa gần đi khắp mọi nơi

Đục trong đã trải mùi đời

Gốc nguồn xin kể cho tôi biết cùng

Nước nghe nói, nỗi lòng tỏ giải

Rằng: tôi nay tứ hải vi gia

Thênh thênh đâu cũng là nhà

Khi vào lục địa khi ra hải tần

Khắp thiên hạ nhân dân mong mỏi

Mong gặp tôi cho khỏi khô khan

Khắp loài sinh vật thế gian

Công tôi vun tưới dư vàn năm nay

Thở hơi ra thành mây ngũ sắc

Phun ra mưa nhuần khắp mọi nơi

Đục trong đã trải mùi đời

Đầu non xin kể cho tôi biết cùng!

Non nghe nói trong lòng chán ngắt

Bảo nước rằng: chắc thực rỗi hơi,

Công đâu chìm nổi với đời

Mà trong mà đục mà vơi mà đầy?

Cứ như tôi thế này cũng đủ

Riêng một bầu một thú làm vui

Trơ vơ đứng ở giữa trời

Còn trời còn đất vui chơi còn nhiều

Nước nghe nói mấy điều trái ý

Mắng non rằng: nghĩa lý phải đâu

Thử xem một quả địa cầu

Cổ kim từng mấy bể dâu đổi vời

Kìa cứ lấy mặt trời mà nói

Sáng phương Đông, chiều tối phương Tây

Trăng còn khi khuyết khi đầy

Bốn mùa khí hậu đêm ngày khác nhau

Máy tạo hóa ngẫm âu vô định

Phải tìm đường mưu tính mới xong

Chí tôi đã quyết gia thông

Dẫu rằng trong, đặc, đục, đâu quản gì

Ai lại cứ ngồi ỳ như bác

Coi sự đời chẳng khác chiêm bao

Đêm ngày mượn thú tiêu dao

Dù ai muốn khoét muốn đào cũng thôi

Thế còn mọc ra đời chi nữa

Chật đất thêm mà có ích gì

Mau mau phải tính phải suy

Đá kia nước chảy có khi cũng mòn. 

Và bài "Thu dạ lữ hoài" viết theo thể song thất lục bát và cũng toàn bằng Hán văn như của Đinh Nhật Thuận, nhưng nội dung như sau: 

Thiên khí nhập Trung thu chí dạ

Tiêu điều kinh tứ tọa sương hàn

Tiêu gia biệt chiếm thanh nhàn

Đã tàn kỳ trận, ẩm tàn cúc bôi

Cửu thiên ngoại lâu đài ca quản

Bích khê liên mãn gián đào hoa

Phương tôn nhất cảm tuế hoa

Du nhiên bất giác nhị hà càn khôn

Hào đỗ vũ thiên thôn tịch mịch

Tức trùng thanh tứ bích thê lương

Khả lân tự cổ chiến trường

Đài phong kim thốc, điểu nhương cô hồn

Quần hùng trục hoành bôn chủ lộc

Tứ hải chiêm chi ốc chi ô.

Thiên tâm vị yếm Hồ xô

Thủy thâm hỏa nhiệt lai tô giả thùy?

Quỳ hoắc hữu tâm nhi hướng nhật

Thu oanh hà vật khước tri thu

Tây thiên đường bệ giao phu

Hoa cừu cạnh sắc, chiên hồ đồng chương

Thiên tầm bách kinh sương bất biến

Xong nan kim bách luyện di cương

Cẩu năng thiết thạch can trường

Di danh trúc giản, lưu phương báo bì

Y thị nhật nghĩa kỳ xướng xuất

Tương trung tam thủ nhật Ngu uyên

Tẩy thanh cựu quốc sơn xuyên

A đồng khí khái, nhất thiên cao hoành

Cái trung nghĩa thiên thanh nhật bạch

Nhi vinh hoa vân bạch cẩu thương

Lập thân sở quý cương thường

Hiu tương nhất mộng hoàng lương tráng hoài

Thế nhân hãn phùng khai khẩu tiếu

Xi nhi diệc vị liễu công gia

Khả lân lục đại hào hoa

Du mi Lương quán, đề nha Tổng đài

Nhân thế bất tri giai kiểu ngã

Dung tài vô chủ khả lân quân

Bồi hồi nhân sự thiên thần

Hoa kinh nhỡn tữu nhập thần na kham

Dục vấn thiền đàm nhi phụng Phật

Thiền đàm phi thạch thất lan đài

Kim liên tòa hạ Như Lai

Nan tương cự chúc đại khai hôn cờ

Dục vấn bồng hồ chư tiên tử

Bồng hồ không lưu thủy đào hoa

Thương sơn tịch mịch chi ca

Vũ lăng vãn tích yên hà thâm thâm

Âm ảm nguyệt nhi trầm trầm dạ

Chỉ thu giang dục hạ cô châu

Giang phong ngư hỏa đối sầu

Phong giao quế chạo, nguyệt phần kim tôn

Nhân khuyến ngã hầu môn nhất kiến

Tức thanh niên khả tiện phong hầu

Ngã trì kỳ khúc như câu

Nhân khuyến ngã cao phi viễn tẩu

Khủng tây trần dục cấu nhân trần

Ngã tri ngã trực như huyền

Vì luân vì đạn tùy thiên phú hình.

Ngã tất vị nhân sinh tự cổ

Vị phùng thời hà khổ lao tâm

Bàn khê nhất xích truy tầm

Khả năng thùy điếu mộng ngâm bi hùng

Ngã tất vị anh hùng vô tận

Đãi minh quân phương dẫn cấp thăng

Sằn nguyên bảo đạo kỷ tằng

Sính xa tam chí khả năng đỉnh điều

Tư thế vị phùng Nghiêu Thuấn thiện

Bất như cao ngoại tiện gia xan

Đổng tri cố quốc giang san

Nhân dân thành quách triều ban thuộc Hồ

Thức thời vụ tại hồ tuấn kiệt

Tinh cạnh quang nhì nguyệt vị minh

Phong trần hà nhật tảo thanh

Long nhương thủ khởi, cốc thành vũ phi

Nhân cảm hứng ngâm thi tuyệt dạ

Nhất tiên trung tự khả châu ky

Thế nhân nhận tác thi quy

Tỵ hung xu cát lưỡng kỳ phân minh. 

Bản dịch của cụ giải nguyên Hy Tô: 

Khí trời bước sang hiu hắt

Đêm sương rơi lạnh ngắt quanh ngồi

Xuất trần một cõi thảnh thơi

Cờ vây mấy cuộc, rượu mời mấy chung

Ngoài trời đất riêng vòng đài các

Bên ngòi khe lác đác hoa rơi

Chén say nghĩ đến sự đời

Lờ mờ nào biết đất trời là nao

Tiếng khắc khoải nơi nào cũng cuốc

Giọng véo von vách suốt là sâu

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

Hồn siêu mả mốc là khâu chiến trường

Một hươu chạy, mấy phường đua đuổi

Đàn quạ bay bốn cõi trông theo

Giặc kia trời hãy còn chiều

Vớt chìm cứu cháy biết kêu người nào?

Có hướng nhật cớ sao còn biết

Oanh tri thu có việc gì quên

Giao hoan chủ khách một đền

Cân đai lộn vẻ, áo xiêm lẫn hàng

Cây nghìn thước gió sương vẫn đứng

Vàng trăm rèn thân cứng chẳng mềm

Sắt là ruột, đá là tim

Hy sinh để tiếng thơm nghìn muôn thâu

Cờ khởi nghĩa bắt đầu phấp phới

Lặn vực sâu gắng với lòng trung

Non sông quyết rửa cho xong

Trời Nam cao ngất, A đồng tiếng vang

Lòng trung nghĩa trời quang đất rạng

Cái vinh hoa là áng phù vân

Nặng vì hai chữ quân thân

Kê vàng một giấc cõi trần kể chi

Đời người được mấy khi cười rống

Trẻ thơ còn lúng túng việc đời

Hào hoa thuở trước than ôi,

Quán Lương đài Tống khắp nơi hoang tàn

Đã không hiểu lại càng làm khác

Cảm thương ta lưu lạc giữa đời

Trông trời lại ngẫm đến người

Hoa lác mắt rượu mềm môi sao đành

Có lúc muốn tu hành cho rảnh

Biết kiếp tu là tránh sự đời

Tòa sen Phật pháp Như Lai

Khôn đem đuốc tuệ sáng soi cõi hèn

Có lúc muốn theo tiên vào núi

Biết đời tiên là cõi nhàn du

Non Thương tiếng hát xa vù

Vũ Lăng dấu cũ mịt mù khói sương

Đêm vắng lặng chập chờn bóng nguyệt

Trỏ giòng thu xuống chiếc thuyền con

Bóng cây bóng lữa bồn chồn

Khỏa buông trèo gió, giốc dồn chén trăng

Cũng có kẻ bảo rằng ta hố

Phỏng cúi lòn ắt khá phong hầu

Nghĩ rằng câu có thắng đâu

Dù xe dù ngựa nọ cầu mà chi

Cũng có kẻ bảo đi cho rãnh

Bụi hôi tanh ngăn ngạnh đường đi

Nghĩ rằng dây có vậy gì

Ừ luân ừ đạn cũng thì thời cho

Ta tự nghĩ từ xưa đã thế

Chưa gặp thời nọ hệ lụy đâu

Khe Bàn thủng thẳng ngồi câu

Mộng hùng ứng xá Văn cầu thoát rong

Ta tự nghĩ anh hùng nào hết

Hội minh lương sẽ kết duyên lành

Nội Sằn vừa đọc vừa canh

Ba lần xe rước vạc sanh khá điều

Đời chưa gặp Đường Nghiêu thịnh trị

Chi cho bằng nằm nghĩ ăn no

Thương ơi, nước đã ra hồ

Nhân dân thành quách khác mô cả rồi

Người tuấn kiệt nên soi thời vụ

Sao sáng kìa, trăng nọ còn lu

Bao giờ quét sạch bụi mù

Cất đầu vỗ cánh mặc dù phong lưu

Nhân cảm hứng đêm thâu ngâm khúc

Toàn thiên đều ngọc đúc châu soi

Ai ơi nhận lấy kẻo hoài!

Này hung này cát đôi lời phân minh. 

Cả hai bài Nôm chữ Hán đều là những tiếng ca bi hùng cảm khái vì thời cuộc, đau buồn vì thế sự. Giá trị ở đó và ở chỗ đọc nó ta thấy tác giả quả là một con người chí khí, ham hoạt động, lúc nào cũng sẵn một hoài bão ngang tàng, muốn nối gót các nhà cách mạng Cần vương, toan tính những công việc lấp biển vá trời. Không rõ ông viết năm nào nhưng xuyên qua nội dung, chúng ta cũng có thể đoán được rằng đó là những tác phẩm ra đời vào những năm đã bước chân lên con đường quốc sự, tức khi đã trưởng thành, chớ không phải ở thời gian còn là 1 cậu bé để chỏm. 

. Một cuộc nổi dậy chống Pháp bằng gươm gỗ và âm binh thần tướng 

Bởi có chí khí và thấy được mọi người tin phục, kẻ cho là Trạng, người cho là Thần, kẻ thì cho là "người trời" sai xuống để cứu nước dân trong lúc lãnh thổ đang bị gót giày xâm lược của lũ thực dân Pháp xéo lên, nên Kỳ Đồng không bỏ lỡ cơ hội, ông lợi dụng ngay những người ấy để đưa họ vào cuộc khởi nghĩa chống Tây. 

Để tác động tinh thần, tay chân tín của ông là Mạc Thiên Đình, một thày pháp trứ danh đã bày ra kế tuyên truyền để đánh vào óc dị đoan mê tín của đồng bào bằng cách phao tin lên rằng Kỳ Đồng Nguyễn Cẩm ngoài tài văn chương quán chúng, còn có phép tàng hình biến tướng, biết đủ các phép bùa bèn cùng nhâm, cẩm, độn, giáp làm cho những người đi theo không thể nào chết được, và ủ đậu thành binh… 

Ấy thế là thiên hạ nô nức đi theo. Kể ra cũng khéo đánh vào tâm lý quần chúng lúc ấy, nhưng xét ra, thật không căn bản thành số người theo đông mà thật tâm thật tài rất hiếm, nên khi đụng vào thực tế đấu tranh thì hóa rã tan ngay. 

Trở lại câu chuyện, khi thấy công cuộc vận động tuyên truyền có kết quả sâu rộng. Nguyễn Cẩm mới bắt đầu khởi sự. Ông họp đồ đảng hàng mấy trăm lại, gồm những thanh niên cùng lứa tuổi với mình, phát cho mỗi người một lá bùa đeo ở trước ngực để trừ súng đạn và gươm đao của giặc. Trong số này ông tuyển ra 28 người làm tướng, gọi là "Nhị thập bát tú" để kéo đạo binh trên võ trang bằng gươm gỗ đánh tòa sứ (Résidence) tỉnh Nam Định. 

Hôm ấy Nguyễn Cẩm dẫn đầu, và cho đi trước bằng hai lá cờ lệnh một lá cờ "nhị thập bát tú" một lá đề năm chữ nho: "khai thiên thần tướng Nguyễn" 

Đạo quân này xuất phát từ Thái Bình, qua đò Tân Đệ, đổ lên thị xã Nam Định, đi đến đâu đồng bào ra xem như kiến cỏ đến đấy. Người Pháp tưởng cuộc chơi đùa của một đoàn thiếu nhi, nên mặc. Nhưng sau biết đi tấn công tòa sứ, họ cho lính khố xanh vây bắt. 

Trước sự đàn áp, bọn Kỳ Đồng chạy tan. Nguyễn Cẩm trốn vào Quý Kỳ, nhưng sau đó ít phút cũng bị lính bắt với một số đồng đảng, dẫn đến trước mặt viên công sứ Nam Định. Viên này cho là một đám trẻ ngông cuồng nên khuyên giải ít lời rồi tha, chỉ giữ Nguyễn Cẩm là người Cẩm đầu lại. 

Chỉ học chữ Pháp mấy năm đã đỗ Tú tài khoa học kiêm văn chương… và đây là người Việt đầu tiên. 

Trong khi xét hỏi, viên công sứ thấy Nguyễn Cẩm quả là người thông minh kỳ lạ nên mến tài, muốn tạo thành một tay đắc lực sau này cho chánh phủ bảo hộ. Y khuyên Cẩm sang Pháp học. Ông nhận lời. Thế rồi chỉ vài tuần sau có giấy viên toàn quyền Đông Dương chấp thuận: bao nhiêu phí tổn đều do chánh quyền Pháp đài thọ. 

Nguyễn Cẩm vượt trùng dương sang học trường trung học Alger. Tất cả những người ngoại quốc ai cũng phải lấy làm lạ về cái óc thông minh tuyệt vời của ông. Ông học chỉ mấy năm đã độ cả Tú tài khoa học, Tú tài văn chương. 

Có lẽ đây là một người Việt đầu tiên đã đỗ tú tài Pháp. 

. Lại làm cách mạng và chuyển hướng cách mạng 

Sau khi tốt nghiệp, Nguyễn Cẩm sang Pháp học và nghiên cứu thêm nữa. Người Pháp tưởng đã cải hóa được tư tưởng, nên sau mấy năm, họ cho ông về nước, thực không dè trong những ngày du học và ở trên đất Pháp, nhà cách mạng tí hon Việt Nam, vì tiêm nhiểm được nhiều tư tưởng mới về tự do dân chủ, lại tiềm tàng trong óc một ý chí chống mạnh hơn với những âm mưu khác. 

Năm Bính thân, niên hiệu Thành Thái thứ 8, Dương lịch 1898, Kỳ Đồng Nguyễn Cẩm về Việt Nam lúc ấy 21 tuổi. Nhà Cẩm quyền Pháp muốn bổ làm quan, ông cố ý từ nói: 

- Tôi làm quan không ích lợi gì cho dân tôi, nay xin mở mang việc làm ruộng có lẽ hơn, vậy xin nhà nước dành cho một khu đất và cấp cho ngưu canh điền khí để khẩn. 

Nhà Cẩm quyền Pháp chiều ý, tư lên phủ Thống sứ Bắc kỳ để ông tùy ý lựa chọn đất. 

Năm sau tức năm 1897. Kỳ Đồng Nguyễn Cẩm được nhà Cẩm quyền Pháp chấp thuận cho mở đồn điền ở Yên Thế, và giúp cho tiền bạc, phương tiện. Họ nghĩ công việc ấy của ông không ngoài mục đích kinh doanh sau khi đã du học Pháp về, chớ có ngờ đâu chính nó là một kế để gây lại cơ sở hoạt động. 

Một điều cũng nên biết là trong những ngày Kỳ Đồng xuất dương, các đồ đảng cũng như người cảm tình vẫn rằng "một ngày kia ông sẽ trở lại để dẹp loạn yên dân, vì người như thế không thể chết, còn cuộc thất bại trước chẳng qua là không đúng vào ngày giờ đấy thôi". 

Bởi thế, khi ông mộ phu mở đồn điền, người ta lại theo ông nườm nượp thành cả một phong trào. 

Ấy thế là Kỳ Đồng lại tụ được phe đảng khá đông. Ông lại quả quyết phải làm cuộc cách mạng chống Pháp. Nhưng lần này nhờ tiếp xúc với văn minh Tây phương, ông đã thay đổi kế hoạch và phương châm hoạt động. Ông tích trữ lương thảo, tiền bạc, mua lậu khí giới và bí mật với ông Đề Thám ở Phồn Xương để chuẩn bị họp thành một lực lượng hùng hậu. 

Muốn đồng bào tin tưởng mạnh hơn, ông đặt ra câu sấm: 

"Phá đền thiên tử xuất, bất chiến tự nhiên thành" cho đồ đảng đi tuyên truyền khắp nơi, nói đó của Trạng Trình, nay ứng vào vì ông hai chữ "phá điền" là vỡ ruộng (lúc khai khẩn đồn điền)… 

Ông tính như thế để sửa soạn cho sau này một cuộc nổi dậy lớn lao, trường kỳ. Song có lẽ vì phương châm chưa đủ, nhân tài không có, kế hoạch phòng gian bảo mật không cẩn thận, nên mưu toan lại bị lọt vào con mắt theo dời của nhà Cẩm quyền Pháp và bè lũ Việt gian lúc ấy đang nhung nhúc như đỉa đói mùa mưa. 

Rồi khi quân Đề Thám bị thua ở mấy tình Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên; bao nhiêu chủ trương bí mật của Kỳ Đồng cũng hoàn toàn bại lộ. Kết quả, ông cùng một số đồng đảng bị bắt giải về Hải Phòng. Vì là chính phạm, nhà Cẩm quyền Pháp bắt ông đi đày sang đảo Marquises. Thời gian ấy vào khoảng đầu năm 1898. 

. Thành một chuyên viên thí nghiệm dược khoa và thôi không trở về nước được nữa 

Kỳ Đồng đi rồi, chuyến này không phải như chuyến trước, tuy nhiên số người còn lại vẫn tin một ngày kia ông sẽ trở về để tiếp tục sứ mạng. 

Song càng ngày càng biệt vô âm tín. 

Té ra trong lúc người ta hy vọng thì ông ở Marquises đã cưới một cô gái thổ dân làm vợ, sinh hạ được con trai tên là Pierre Văn Cẩm, một gái là Bernadette Văn Cẩm, cô sau này lấy chồng Pháp, còn cậu kia thì làm nghề ấn loát. 

Theo một tài liệu của Pháp, thì năm 1911, vì sinh kế, ông theo thống đốc Bonhoure đến đảo Tahiti, vào làm tại một bệnh viện với chức vụ chuyên viên thí nghiệm dược khoa. Ở đây chỉ có mình ông người Việt Nam, nên ông đã sinh hoạt hoàn toàn theo lối Âu tây, và cũng vì thế ông không nghĩ gì đến nước non nhà nữa. 

Ông cũng thường làm thơ nhưng toàn bằng chữ Pháp. 

Ông chơi thân với họa sĩ Paul Gauguin, và có soạn một vở kịch bằng thơ Pháp để đùa lại lấy tên là "Les amours d'un vieux peintre aux Marquises" tức "Những mối tình của một họa sĩ già ở đảo Marquises". 

Ông mất ở Tahiti năm 1929 sau 31 năm lưu đày, thọ 55 tuổi. 

Than ôi! Cứ như cuộc đời của Kỳ Đồng Nguyễn Cẩm thì cái thuyết "con người kỳ lạ tất có những thành công kỳ lạ" của các Thánh Hiền xưa, hẳn đã không còn linh ứng gì nữa vậy!... 



_________________________________________

(Phụ trang Nhật báo TIN LỬA)
 
© Cập nhật theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn ngày 06.11.2010.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com