ĐÔI ĐIỀU VỀ BÀI THƠ 
PHONG KIỀU DẠ BẠC



"Phong kiều dạ bạc" là bài thơ bất hủ của Trương Kế đời Đường (Trung Quốc), được nhiều người đời sau biết đến và bàn luận rất nhiều. Riêng ở nước ta, từ thời tiền chiến đã có nhiều nhà thơ, nhà văn nổi tiếng dịch ra tiếng Việt , kể từ Tản Đà, Trần Trọng Kim… Theo tạp chí Thơ Đường của cơ quan UNESCO Việt Nam - TP HCM số ra tháng 6/2008 đã đưa ra tới 13 bản dịch, trong đó có của hai nhà thơ nhà sử học vừa nói. Nhưng như chúng ta biết, không bản dịch nào được cho là hoàn mỹ. Thậm chí có nhiều bản dịch diễm tả khá xa với nguyên tác. Một phần do chưa nắm hết nguyên tác, trong đó có câu từ, ý tưởng chưa thấu đáo, một phần những người dịch muốn diễn dịch tự do theo bút pháp, văn phong, ngôn từ của mình, đặc biệt chỉ mượn ý tưởng hoặc đề tài rồi tự sáng tác thêm cho thoát ý, thoát từ, cho nên đôi khi đi quá xa với nguyên tác. Mặt khác, có nhiều chữ đã bị "tam sao thất bản".

Gần đây, theo sưu tầm của Lê Phương Chi (Bản tin số 26 tháng 7/2008 của CLB Sách Xưa & Nay, trang 61-64) đưa ra 2 bản dịch của Thiền sư Hàn Sơn Tử do Nguyễn Đức Hiền sưu tầm đầu tiên, trong đó nêu lên hai điểm chính mà tác giả cho là nghiên cứu mới để chỉnh lại về "đối" và chữ nghĩa, cụ thể muốn xác định thêm "sầu miên" là ngọn đồi tên Sầu Miên và "giang phong" là bến Giang và bến Phong, tức có hai cây cầu mang tên này. Hầu hết chúng ta ở đây chưa có ai tới nơi xuất xứ bài thơ tức tham quan thành Cô Tô hay đất Giang Tô nên không biết thực hư cảnh quan ở bên vùng đất ấy.

Nhưng theo thiển ý, Thiền sư Hàn Sơn Tử đi quá xa nguyên tác để cố gắng chứng minh "giang phong" là Phong kiều và Giang kiều với lại ngọn đồi Sầu Miên ở đâu đó. Thực ra, theo nguyên tác chữ Hán, ông Trương Kế đã quan tâm tới từ chung và từ riêng rồi, chúng ta không nên đổi gượng ép đổ từ chung "giang phong" ra từ riêng chỉ vật thể (kiều) là nơi chốn Giang và Phong. Bài thơ này chỉ có hai danh từ riêng là Cô Tô thành và Hàn Sơn tự. Nếu cần chỉnh thì nên chỉnh từ "bạc" ở tựa đề bài thơ: "Phong kiều dạ bạc". Tác giả đặt tựa đề bài thơ có tên "Phong kiều" là đúng vì nó chỉ nơi chốn mà bài thơ này ra đời. Chỉ có điều không ai để ý tới từ "bạc" nên không ai dịch ra nghĩa tiếng Việt. Nếu chỉ viết như vậy (chữ thường, không viết hoa) thì nghĩa là gì? Phong kiều là chiếc cầu phong, dạ là đêm. Còn "bạc" nghĩa là gì? Không lẽ "bạc" là trắng thành ra: Đêm trắng ở cầu Phong! Chúng ta đã lầm lẫn về chữ "bạc". Bạc ở đây phải viết hoa "Bạc" mới đúng. Vì như vậy mới rõ nghĩa của tựa đề bài thơ. Viết đúng phải là: "Phong kiều dạ Bạc". Bởi vì "Bạc" là một địa danh thuộc tỉnh An Huy (nay) hay Giang Tô (xưa). 

Bây giờ xin trở lại nguyên tác bài thơ "Phong kiều dạ Bạc" của Trương Kế để từ đó, chúng ta xem lại câu từ, ý tứ trong bản dịch, xin lấy bản dịch của Tản Đà làm thí dụ:

Nguyên tác đã phổ biến:

     Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên 
          Giang phong ngư hỏa đối sầu miên 
          Cô Tô thành Ngoại Hàn San tự 
          Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền.

Bản dịch của Tản Đà:

     Trăng tà tiếng quạ kêu sương 
          Lửa chày cây bến sầu vương đất hồ 
          Thuyền ai đậu bến Cô Tô 
          Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn Sơn

Nếu ta không đọc nguyên tác chữ Hán thì chúng ta cho rằng bản dịch tiếng Việt rất hay vì nó rất thơ và thoát. Nhưng nếu xem kỹ lại, thì chẳng riêng gì Tản Đà mà còn nhiều tác giả khác nữa có các bản dịch ngày càng xa dần bản gốc do hiểu chưa hết ý trong thơ hay muốn dịch thoát? Còn như đưa thêm từ riêng nữa thì càng xa nghĩa hơn. Hơn nữa, nội dung bài thơ không thấy nhân vật nào, trong khi nguyên tác có "khách đáo thuyền".

Bây giờ xin được dịch theo từng câu chữ, chưa nói tới âm điệu và vần:

- Nguyệt lạc = trăng tàn, trăng mờ, trăng rụng đều đúng nghĩa. 
- Ô đề = Ô là quạ nhưng cũng là vầng ô (mặt trời). Ở đây phải hiểu là mặt trời, kim ô. Ô đề: Mặt trời lên. Nguyên chữ: Trăng tàn dần, mặt trời đang ló dạng. 
- Sương mãn thiên = Sương phủ đầy bầu trời. Toàn cảnh là một bức tranh thủy mặc thật đẹp! 
- Giang phong = Nghĩa đơn giản là "gió sông" hay "dòng sông Phong". 
- Ngư hỏa = Ngư là cá, hỏa là lửa. Không rõ nghĩa nên được dịch rất nhiều kiểu như Tản Đà dịch Lửa chài. Kỳ thực đúng chữ là "Cô hỏa", có nghĩa: ngọn lửa cô đơn. 
- Đối = nghĩa là đối chiếu, đối với, đối mặt… 
- Sầu miên = chỉ là buồn (sầu), ngủ (miên), cả danh từ hay động từ chung: buồn ngủ hay sự buồn ngủ. 
- Cô Tô thành ngoại Hàn San tự chỉ là "Ở ngoại thành cô Tô có chùa Hàn Sơn". 
- Bán dạ = nửa đêm 
- Chung thanh = Tiếng chuông 
- Đáo khách thuyền = khách (người) trở về thuyền.

Dịch xuôi cả bài 4 câu như sau:

     Trăng tàn đông rạng sương nơi nơi 
          Gió sông buồn thổi lửa đơn côi 
          Ngoài thành Cô có Hàn Sơn tự 
          Qua đêm chuông đổ khách về thuyền
.

Còn một điều cần nói thêm, bài thơ nguyên tác chỉ có 4 câu 7 chữ nên chưa phải là bài thơ Đường "Thất ngôn bát cú" hoàn chỉnh nên không cần theo niêm luật, đối vận ở 4 câu giữa (cặp trạng, cặp luận). Đây là bài thơ Đường thuộc loại "Thất ngôn tứ tuyệt" nên có thể dễ dãi trong luật thơ cổ.


(12-7-2008)



--------------------------------------------------

Xin giới thiệu một số bài dịch "Phong Kiều Dạ Bạc":

Bài 1:

Trăng tàn, sương phủ, quạ kêu  
Lửa chài, làn gió sông khêu giấc buồn  
Cô Tô khuất bóng Hàn Sơn  
Nửa đêm, chuông đổ, thuyền đơn khách về

Bài 2:

Trằng xế, quạ kêu, bát ngát sương  
Gió sông, ánh lửa giấc sầu thương  
Cô Tô khuất nẻo Hàn Sơn tự  
Chuông nửa đêm thuyền khách vấn vương

Bài 3:

Quạ kêu, trăng xế sương mờ  
Gió sông đèn cá đang mơ giấc sầu  
Hàn Sơn, Tô trấn đêm thâu  
Tiếng chuông khuya giục khách mau xuống thuyền

NGÀN PHƯƠNG


ĐÊM ĐỖ THUYỀN Ở PHONG KIỀU

Quạ kêu, trăng xế sương đầy trời  
Gối nỗi buồn thương, ngắm lửa chài  
Khuya khoắt Hàn Sơn chuông vẳng lại  
Cô Tô càng lạnh nỗi lòng ai.

Dịch thơ Nguyễn Vũ Tiềm


PHONG KIỀU DẠ BẠC

Trăng tàn, sương phủ, mặt trời lên.  
Gió sông khơi ngọn lửa sầu riêng.  
Nửa đêm, chuông sớm Hàn Sơn dóng .  
Vang vọng Cô Tô khách lại thuyền.

Tâm Nguyện
(13/7/2008)


© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 30.10.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .