TRÍCH MỘT SỐ CÂU HỎI  
TRONG KINH VIÊN GIÁC




Qúy vị đang nghe
Concerto số 5/2&3
của W.A. Mozart .

Nhiều người vẫn nghe nói rằng Kinh "cao" lắm, chỉ để dành cho các bậc tu hành đọc, người thường không thể đọc nổi. Có người thì cho là Kinh viết bằng ngôn ngữ của người cách đây đã hơn 2.550 năm, người thời này đọc không thể hiểu được, nên chẳng trách vì sao người thời nay không thể nương Kinh mà tự tu, chỉ trông cậy vào các bậc tu hành hướng dẫn cho. Nhưng xem ra. Tu sĩ thì đông mà người chứng đắc quá hiếm hoi, như thế biết nương vào đâu? Hay là thôi thì cứ sống tốt, ăn chay, làm phước để tích chút phước đức, dù có kiếp sau hẳn cũng không đến nỗi. Như vậy có lẽ cũng đủ rồi. cần gì phải đọc Kinh sách? Tất cả những suy nghĩ trên đúng hay sai? Chúng ta có nên theo họ hay không? Tốt hơn hết là chúng ta thử đọc một vài đoạn Kinh xem ngày xưa các vị tu hành đã thắc mắc và chất vấn Phật như thế nào? Ngôn ngữ có giống chúng ta hay khác.

Kinh VIÊN GIÁC được Phật gọi là "Tròng con mắt của 12 Bộ Kinh, Các Đức Phật trong 10 phương đều nói Kinh này. Các Đức Phật trong 3 đời đều bảo hộ Kinh này". Chúng ta xem Phật dạy gì trong đây.

Trước hết, ngay phần Tự, ta thấy được thái độ của người chuẩn bị giảng pháp và người nghe giảng: Phật nhập Chánh Định và các Bồ Tát hội họp tại đó cũng đều nhập Chánh Định. Và Chánh Định được giải thích là: "Nơi an trụ của chư Phật cũng là chỗ thanh tịnh sáng suốt của chúng sinh". Như vậy ta học được thái độ trước khi nghe Kinh, đọc Kinh là phải lắng cái Tâm, phải an tịnh. Một điều cần lưu ý thêm là nếu chúng ta đọc mà không tập trung, đầu óc còn bận bịu tính toán làm ăn, hay đọc vì mục đích cao, thấp, hơn, thua... thì chắc chắn sẽ không hiểu được gì.

Mở đầu, ta thấy Đức Phật không tự mình bắt đầu giảng nói, mà đợi cho đại chúng thắc mắc rồi Phật nương đó mà trả lời.

Nếu chúng ta không quá dễ dãi đặt trọn niềm tin nơi Đạo Phật, không cần biết điều gì khác thì hẳn cũng thắc mắc không khác các Bồ Tát đang hỏi Phật: Tu Phật là để được Thành Phật. Nhưng làm thế nào để Thành Phật? Nên tu như thế nào? Ngài VĂN THÙ xin Phật giải thích:

1/- Nhơn địa tu hành thanh tịnh của Như Lai

2/- Các vị Bồ Tát đã phát tâm Bồ Đề rồi, làm sao xa lìa được các vọng, để các chúng sinh không đọa tà kiến?

Qua hai câu hỏi, chúng ta thấy rõ ràng họ đi thẳng vào vấn đề, không úp mở, không hỏi những vấn đề mơ hồ như thần thông, phép mầu, mà hỏi cách thức tu hành của Như Lai cũng như cách nào để lìa vọng, để không đọa tà kiến.

Sau khi Đức Phật giải thích là: "Do chúng sinh mê lầm, điên đảo hiện ra Thân và Tâm rồi chấp nhận cái Thân tứ đại giả hợp là Mình. Chấp nhận các vọng niệm sanh diệt duyên theo bóng dáng của Sáu trần là Tâm của mình, do đó mà phải chịu Sinh tử Luân Hồi. Tất cả là do VÔ MINH, nên Nhơn địa tu hành của Như Lai là tu theo VIÊN GIÁC, nghĩa là BIẾT CÁC PHÁP ĐỀU HƯ HUYỂN NHƯ HOA ĐỐM GIỮA HƯ KHÔNG thì không còn Luân Hồi và cũng không có người chịu sanh tử luân hồi"

Qua CHƯƠNG 2, ta thấy các Bồ Tát hỏi:

1/- Nếu biết các pháp đều Như Huyển, Thân Tâm này cũng là Huyển thì cần gì phải tu? Tại sao còn phải dùng cái "huyển" trở lại "tu pháp huyển" làm gì?

2/- Nếu các pháp hư huyển đều diệt hết thì Thân Tâm này cũng diệt. Nếu Thân tâm này đều diệt thì lấy ai tu hành mà gọi là "tu pháp Như Huyển"?

3/- Nếu các chúng sanh không tu hành, vẫn ở mãi trong cảnh sanh tử huyển hóa mà chẳng tự biết thì làm sao dẹp trừ các tâm vọng tưởng để được giải thoát Sinh Tử Luân Hồi?

Votre navigateur ne gère peut-être pas l'affichage de cette image.

Nếu là chúng ta, có lẽ thắc mắc cũng không thể khác hơn. May mắn thay, các Ngài vửa hỏi, vừa đặt vấn đề để chúng ta hiểu thêm là: Dù biết các pháp đều là hư huyển, nhưng "Nếu các chúng sanh không tu hành, vẫn ở mãi trong cảnh sanh tử huyển hóa mà chẳng tự biết thì làm sao dẹp trừ càc tâm vọng tưởng để được giải thoát Sinh tử Luân Hồi". Bởi phải đâu nghe nói Huyển rồi bỏ hết mọi việc là xong?

Phật giải thích là "Tất cả những cảnh vật huyển hóa của chúng sanh đều sanh trong Tâm VIÊN GIÁC mầu nhiệm của Như Lai. Các pháp hư huyển có sanh diệt mà tánh Viên Giác không diệt. Cũng như hoa đốm hư huyển có hoại diệt mà tánh hư không chẳng hề hoại diệt. Khi các huyển cảnh diệt rồi thì cái Huyển Tâm của hành giả cũng theo đó mà diệt luôn. Khi các huyển đều diệt hết thì cái tâm Viên Giác không vọng động tự hiện. Các vọng huyển bị diệt hết rồi mới gọi là Viên Giác"

Phật chỉ luôn 5 giai đoạn phải xa lìa cho đến rốt ráo, gọi là "Dùng Huyển để diệt Huyển như người kéo cây lấy lửa. Dùng hai miếng củi tre cọ xát nhau cho đến khi sinh ra lửa, lửa trở lại cháy hai miếng tre cho đến củi tàn, tro bay, chỉ còn đất trống. Không cần tuần tự, chẳng cần phương tiện gì"

Các Bồ Tát lại hỏi: Khi nghe pháp "Ly Huyển tam muội" tâm sinh mê muội, không biết làm sao để hạ thủ công phu, vì không có phương tiện chân chánh và suy nghĩ chân chánh thì không thể ngộ nhập được Viên Giác. Các Ngài xin Phật chỉ: Phải tu hành thế nào? Phải tư duy làm sao? Phải an trụ và giữ gìn như thế nào?

Phật bày cho các phương tiện:

     1/- Trước hết phải Y theo pháp "Chỉ của Như Lai.  
          2/- Giữ gìn Giới cấm kiên cố
          3/- Sắp xếp đồ chúng cho yên ổn  
          4/- Ở chỗ thanh vắng  
          5/- Phải suy nghĩ như sau:

Tức là muốn tu hành thì phải theo trình tự: Trước hết phải dừng cái Tâm. Phải giữ GIỚI. Phải sắp xếp hoàn cảnh cho yên ổn, không bị quấy rầy để có thể dồn hết thời gian mà tư duy. Hai đề tài chính để Tư Duy là QUÁN THÂN NHƯ HUYỂN và QUÁN TÂM NHƯ HUYỂN, bởi vì đây là hai pháp chính yếu mà bất cứ người tu nào cũng phải Soi, Quán thật kỹ.

Sau khi phân tích về Thân và Tâm, để chỉ cho người Quán biết đó chỉ là những pháp hư huyển, Đức Phật định nghĩa về Phàm phu, Bồ Tát và Phật như sau: Người chấp Thân, Tâm huyển cấu gọi là phàm phu và người lìa được thân tâm cấu huyễn gọi là Bồ Tát. Khi các huyển cấu hết, pháp đối trị, trừ đối trị cũng không còn, các vọng hoàn toàn diệt thì gọi là Viên Giác hay Phật. Khi Tánh Viên Giác hiện ra thì Tâm thanh tịnh nên Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức đều thanh tịnh. Phật tóm tắt và dạy các Bồ Tát nên theo thứ lớp như thế mà tu hành.

Các Bồ Tát lại hỏi:

1/- Nếu tất cả chúng sanh đã thành Phật từ xưa đến nay sao lại có tất cả Vô Minh để trở lại làm chúng sanh?  
 
     2/- Nếu chúng sinh sẵn Vô Minh thì duyên gì Đức Phật lại nói chúng sinh đã thành Phật từ vô thỉ?  
 
     3/- Nếu chúng sinh đã thành Phật về sau lại sinh ra Vô Minh vậy các đức Như Lai đã thành Phật chừng nào trở lại phiền não nữa?

Cứ mỗi lần Phật giải thích xong, các Bố Tát lại nêu thắc mắc cho tới khi thông suốt thì mới xin Phật chỉ dạy cách thức tu hành.

Phạm vi bài này không nhằm đi sâu vào Kinh VIÊN GIÁC, chỉ muốn nêu ra một số câu hỏi, đáp trong kinh để chúng ta thấy:

1/-Mỗi quyển Kinh đều là những lời hỏi đáp về con đường tu Phật, như vậy, thay vì đọc rồi suy nghĩ cho kỹ để tìm hiểu, chúng ta lại mang ra tụng ê a theo chuông, mõ, có nơi còn gia thêm chập chõa, phèn la, trống… liệu có ích lợi gì không?  
 
     2/- Các vị thời xa xưa, muốn tu hành phải tìm hiểu thật kỹ mới phát tâm, còn thời nay chúng ta phát tâm đi tu khi chưa hiểu gì về Đạo Phật, liệu cái phát tâm như thế có chân chính không?  
 
     3/- Qua những câu hỏi, chúng ta có dịp so sánh trí huệ của những người tu hành cách đây trên 2.550 năm so với con người văn minh của thời đại khoa học chúng ta, xem chúng ta có sáng suốt hơn họ hay không, hay là đôi khi còn ngược lại?  
 
     4/- Nội dung Kinh như thế có "cao" như lời đồn đại, và có thay đổi cái nhìn của ta về Kinh không?

Tất nhiên, không thể chỉ cần đọc qua mà có thể hiểu những gì Kinh viết, hoặc cho Kinh là chân lý, không thể sai, chúng ta chỉ cần chấp nhận những lời giải thích sẵn là đủ. Thật ra, những câu hỏi được ghi lại trong Kinh là của những người đã có quá trình nghe Phật giảng. Nếu không muốn nói đó là của những vị đã chứng đắc phương tiện viết lại để hướng dẫn người sau... Do đó khi đọc Kinh không nên cứ thế mà tin, vì không sinh ra sự hiểu biết của chính mình, mà buộc ta phải tư duy để tìm xem theo ý ta thì những lời Phật dạy có đúng lý hay không? Có chấp nhận được hay không? Cho đến khi thấy chấp nhận được, thì phần tiếp theo là hướng dẫn cách thực hành, phải Ngồi Thiền như thế nào? Quán soi những gì? Nếu ta muốn tu theo quyển Kinh nào thì cố gắng thực hành theo những lời dạy trong đó, một mặt đọc thêm nhiều kinh khác để bổ sung sự hiểu biết, vì mỗi cuốn Kinh dù đồng nói về con đường tu hành, nhưng giảng giải bằng nhiều cách và do muốn thu nhiếp nhiều căn cơ không giống nhau, nên Kinh nào cũng nói "đây là Kinh cao nhất", để người nào thấy Kinh nào hợp với mình thì dùng đó để tu tập. Kinh cũng đồng thời nêu ra những chướng ngại hành giả sẽ gặp, để người tu có thể tự kiểm tra lại hành trì của mình xem đã đúng hay chưa?

Tóm lại, thời này Phật không còn tại thế. Các vị Giác Ngộ có xuất thế thì cũng không có rầm rộ khua chuông gióng trống hay làm PR ầm ỹ, vì họ không có mục đích mưu cầu danh, lợi. Ngược lại, những kẻ giả danh thì tìm đủ thứ cách để "mượn đạo tạo đời". Do đó, cứ nhìn cuộc sống của một số vị đang lớn tiếng rao giảng Đạo, ta sẽ thấy tài sản họ ngày càng tăng lên theo cấp số nhân đến báo chí còn phải xem họ như bậc thầy trong kinh doanh, vì thấy họ khéo léo lồng kinh doanh vào đạo một cách siêu lợi nhuận, tận dụng lòng tin Phật của những người thiếu sáng suốt! Trong khi đối chiếu với các Tổ và các vị tu hành chân chính, kể cả Đức Thích Ca, ta thấy các Ngài một đời chỉ "một Y, một Bát"! Vì thế, cách hay nhất là chúng ta nên nương theo Kinh để mà hiểu, mà hành mới không sợ bị lừa! Nếu chúng ta còn hoang mang trước những người không ngại Vọng Ngữ, tự xưng là "Phật, là Bồ Tát tái thế", e rằng nhỡ đúng là các Ngài mà tỏ vẻ bất kính thì mang tội… xin đọc đoạn Kinh Lăng Nghiêm nói về điều đó như sau:

"Anan, ta có dạy các vị Bồ Tát và A La Hán: sau khi ta diệt độ rồi, các ông phải thị hiện thân hình trong đời mạt pháp để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân. Hoặc hiện làm Thầy Sa Môn, cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn bà góa, kẻ dâm nữ, người gian giảo, kẻ trộm cướp, người thợ thịt, kẻ buôn bán... để lẫn lộn trong từng lớp người, chung làm một nghề nghiệp đặng giáo hóa chúng sanh trở về chánh đạo.

Nhưng các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói: "Ta đây thật là Bồ Tát hoặc a La Hán vv... hay tỏ ra một vài cử chỉ gì làm tiết lộ sự bí mật để cho nguời ta biết mình là Thánh nhơn thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi mới âm thầm để lại một vài di tích cho người biết thôi" .

Đó là cơ sở chắc chắn để ta có thể phân biệt đâu là chân sư, đâu là tà sư giữa rừng người giảng pháp hiện nay.

Tóm lại, Kinh không phải để đọc, mà là những bài tập thực hành từ thấp lên cao và những lời dặn dò để người tu không bị nhầm lẫn khi gặp các hiện tượng khác thường do cái Tâm bị dồn nén làm ra. Kinh cũng không phải là tài liệu để nghiên cứu, nên trong Đạo Phật không có "học giả" mà chỉ có "hành giả" tức là người vừa đọc, vừa thực hành. Có như thế thì từng bước mới hiểu thêm. Chỉ có mỗi việc Xả những dính mắc ở Tâm mà Phật bày ra bao nhiêu phương tiện. Nào là Độ Sinh, nào là Quả vị, rồi Đông Phương, Tây Phương, Phật Quốc, Niết Bàn… để cho người nào ham thích cảnh giới nào thì cố gắng hành trì để đạt được, vô hình chung sẽ bớt được cái Khổ vùi dập cho cuộc sống ngắn ngủi được an vui. Nếu có qua kiếp khác càng tốt đẹp hơn. Đó là mục đích của Đạo Phật. Không phải là quả vị, cũng không phải là để thành ông thánh, ông Phật, ngồi trên tòa sen cứu nhân độ thế… để người hiểu sai sống ở cõi trần mà cứ mơ mộng về cõi nào ở đâu xa vời, bỏ quên cuộc sống thực tế với trách nhiệm của một con người với gia đình, với xã hội, với cuộc đời! Một cuộc sống an vui giữa dòng đời xáo trộn, phiền não, đau khổ, sinh tử... Đó là những gì mà lời Phật qua Kinh muốn đưa người tu học đạt tới vậy.

______________________________________________

(5/2010)
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 30.10.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .