TIN TỨC TỪ CỐ ĐÔ HUẾ

 

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT


Như  tin các phương tiện truyền thông đã đưa về cuộc  hội thảo với chủ đề "Thân thế và sự nghiệp của Linh mục Léopold Cadière", được tổ chức tại Trung tâm Mục vụ Tổng Giáo phận Huế - số 6 Nguyễn Trường tộ, cố đô Huế - từ ngày 7 đến ngày 9/9/2010. Internet có rất nhiều bài viết về chủ đề này, nhất là mạng Vietcatholic. Ở đây người viết chỉ xin tóm lược như một thông tin nội bộ mà thôi.

  • Cơ quan tổ chức : đó là Ủy ban Văn hóa của Hội đồng Giám Mục VN, và Tòa Tổng Giám Mục Giáo phận Huế đứng ra tổ chức.
  • Địa điểm : Trung tâm Mục vụ Giáo phận Huế - số 6 Nguyễn Trường Tộ, Huế.
  • Thành phần tham dự : 13 Giám Mục, khoảng 60 Linh mục, hơn 100 tu sĩ nam nữ, đại diện Chính quyền các cấp, đại diện các tôn giáo bạn, các giáo sư, những nhà nghiên cứu và khách mời từ Lạng Sơn cho tới Cà Mau, tất cả khoảng 500 người, có những giáo sư từ nước ngoài về như Cha cựu Bề trên Hội Thừa Sai Paris (MEP), giáo sư Trần Văn Toàn từ Paris về. Như vậy cuộc hội thảo này không chỉ nội bộ Công giáo mà có tính toàn quốc và quốc tế nữa.
  • Nội dung hội thảo : 14 bài tham luận của các học giả, các giáo sư, các nhà nghiên cứu từ Paris, Hà Nội, Huế, T/p Hồ Chí Minh và các tỉnh thành khác. Các bài tham luận xoay quanh 2 cột trụ : thân thế và sự nghiệp của Linh mục Léopold Cadière :
  • A. Thân thế :

    Linh mục Leopold Cadière (Cố Cả) sinh ngày 14/2/1869 tại ngôi làng nhỏ "Les Pinchinats" miền Provence (Pháp), nội ngoại đều làm nghề nông, không có gì gọi là giàu có. Đến tuổi đi học, Leopold Cadière được gửi học ở trường làng, cậu ngoan ngoãn, học giỏi, được thầy yêu bạn quý. Tới lớp 7 thì mồ côi cha, cậu được học bổng nội trú để tiếp tục học. Hết bậc trung học cậu đi tu, được gia nhập Hội Thừa Sai Paris. Năm 23 tuổi cậu được thụ phong Linh mục và được sai sang truyền giáo tại Việt Nam, cập bến Đà Nẵng ngày 03/12/1892, việc đầu tiên của một Linh mục Thừa sai khi đến nhiệm sở truyền giáo là học tiếng địa phương. Linh mục Leopold Cadière học tiếng Việt rất nhanh, ngài học ngày học đêm, học với rất nhiều "thầy", kể cả các thầy cô "bình dân" quê mùa : một bà bán hàng xén ngoài chợ, một ông thợ cắt tóc, và đặc biệt với một "ông thầy chăn trâu" 11-12 tuổi, Lm. Cadière đã học được rất nhiều từ vựng, có lần ngài đã nói : "Học tiếng Việt không phải để nói tiếng Việt giỏi giống như họ, mà còn phải tâm tư nghĩ suy như họ".

    Vị  Giám Mục điều hành Giáo phận Huế thời đó là Đức Cha Caspar, đã sớm nhận ra khả năng của Lm. Cadière, nên đã hướng dẫn người về các nghiên cứu ngôn ngữ, lịch sử, dân tộc học, tôn giáo, tín ngưỡng dân gian, nghệ thuật … kể từ đó sự nghiệp của Lm. Cadière được vạch ra và ngài đã rất nhiệt tình, đồng thời cũng rất vất vả làm 2 công tác một lúc : giảng dạy, mục vụ và nghiên cứu.

    1893-1895, giáo sư Tiểu Chủng viện An Ninh, rồi Đại Chủng viện Huế.

    Tháng 10/1895, quản nhiệm xứ Tam Tòa (Quảng Bình) kiêm vùng Cù Lạc ở hữu ngạn sông Nguồn Sơn, một nhánh của sông Gianh, 6 năm ở vùng hẻo lánh này Lm. Cadière đã hoàn thành nhiều nghiên cứu về truyền thống địa phương, cũng thời gian này, ngài đã vào động Phong Nha đọc các dòng chữ Chăm ở Bi Động (có dư luận cho rằng ngài là một trong những người đầu tiên phát hiện động Phong Nha, lúc đó còn hoang vắng, rừng rậm, suối sâu, chưa có đường vào).

    Năm 1901, vì kiệt sức được đưa về Pháp dưỡng bệnh, Lm. Cadière đã tận dụng thời gian này tới thuyết trình tại Đại học Louvain hai đề tài về "tôn giáo ở An Nam và chỉ dẫn thực hành cho các nhận định về tôn giáo" (ở VN). Hai tham luận này được giới thức giả đặc biệt lưu ý. Cũng thời gian này, Lm. Cadière được trường Viễn Đông Bác Cổ giao nhiệm vụ tới các văn khố quốc gia truy tìm các tài liệu liên quan tới mối bang giao giữa châu Âu và Việt Nam. Lm. Cadière đã sang Rôma tìm được trong thư viện Vatican thủ bản chép tay cuốn tự điển của cha Alexandre de Rhodes, nhiều tài liệu ghi mốc lịch sử hình thành chữ quốc ngữ. Tại thư viện Victor Emmanuel và thư viện Thánh bộ Truyền giáo ở Paris, ngài đã lục lọi tìm kiếm các thư từ trao đổi giữa vua Gia Long và các sỹ quan Pháp tháp tùng Giám Mục Bá Đa Lộc vào thế kỷ 18-19, ngoài ra còn tìm được tập hồi ký của Bénigne Vachet viết về Đàng Trong.

    Trở  lại Việt Nam, Lm. Cadière được đặt làm tuyên  úy trường Pellerin ở Huế từ 1913-1918, trong thời gian này, ngài lập Hội Những Người Bạn Huế  Xưa (L'Association des Amis du vieux Hue – AVH), với tập san Bulletin des Amis du vieux Hue (B.A.V.H), ngài làm chủ bút. Tờ báo này được người đương thời đánh giá là hay nhất ở Đông dương. Tập san kéo dài từ 1914-1944 mới đình bản do chiến tranh. Hội còn lập một thư viện. năm 1923 Hội bảo trợ để thành lập Musée Khải Định.

    1918, Lm. Cadière được chuyển về Di Loan ở Cửa Tùng.

    1928, vì đau tim, ngài phải trở lại Âu châu trị  bịnh. Ngài đã tới Luxembourg đọc tham luận về  "Gia đình và Tôn giáo ở Việt Nam", bài tham luận được đánh giá là rất sâu sắc.

    Từ  tháng 3/1945 đến tháng 12/1946, thời chiến tranh Nhật-Pháp-Việt Minh, ngài bị quản thúc ở Huế rồi ở Vinh 15 tháng.

    Từ  1947-1953, với tuổi cao sức yếu, ngài được nghỉ  hưu và được đề nghị về Pháp để an dưỡng, nhưng ngài từ chối với câu nói hết sức cảm động : "Cả đời tôi, tôi đã dâng cho xứ sở này rồi, cho tôi được ở lại và chết ở đây".

    Ngày 6/7/1955, Lm. Leopold Cadière qua đời và được an táng tại nghĩa trang Đại Chủng viện Kim Long (Huế), hưởng thọ 84 tuổi. Mộ phần của ngài vẫn còn tới nay.

    Sáng ngày thứ hai của cuộc hội thảo (8/9/2010), tại nghĩa trang trong khuôn viên Đại Chủng viện Huế, các vị Tổng Giám Mục, các Giám Mục, Linh mục, tu sĩ và những nhân sĩ trí thức, những tham dự viên cuộc hội thảo, tổng số gần 1000 người đã cung kính niệm hương, bùi ngùi tưởng nhớ đến một vị Thừa sai đã cống hiến cả cuộc đời mình cho nền văn hóa dân tộc Việt Nam, với công trình nghiên cứu đồ sộ lưu lại cho hậu thế như một kho tàng sử liệu vô giá. Trong số những người viếng mộ có cả những cụ già trên 80 tuổi không thuộc thành phần tham dự hội thảo, nhưng khi nghe tin có lễ tưởng niệm, cũng đã đến viếng ngài với tấm lòng quý trọng tri ân, họ là những người học trò năm xưa của ngài. Sau khi viếng mộ, mọi người quy tụ trước Nguyện đường cử hành nghi thức truy điệu, cũng tại đây Đức Tổng Giám Mục Huế đã khánh thành tượng đài cha Cadière bằng đá cẩm thạch Non Nước do nghệ nhân Phan Chi Lăng ở Đà Nẵng kính tặng.

    B. Sự nghiệp :

    Hơn 63 năm sống tại Việt Nam, Lm. Cadière đã để lại 250 tác phẩm lớn nhỏ, đó là những công trình nghiên cứu khoa học về nhiều mặt trong lãnh vực văn hóa, lịch sử, địa lý, phong tục, ngôn ngữ, tôn giáo, nghệ thuật, kiến trúc … qua các công trình nghiên cứu trên, các nhà chuyên môn đã công nhận Lm. Cadière là một nhà Huế học chuyên khảo thực tế, một nhà Việt Nam học và Địa Danh học.

    Ngài  đã có công sáng lập hội Đô Thành Hiếu Cổ - làm chủ bút tạp chí Đô Thành Hiếu Cổ (B.A.V.H) từ 1914-1944. Cộng tác viên của tạp chí trường Viễn Đông Bác Cổ (Bulletin de l'E1cole Française d'Extreme Orient, BEFEO). Sáng lập viên Bảo tàng Khải Định, nhiều công trình nghiên cứu đăng trên tạp chí Indochine, đặc biệt nhất là tác phẩm "L'Art à Huế và Văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt", đã được dịch và xuất bản 1997, do nhà Xuất bản Văn Hóa Thông Tin. Nhà dịch thuật Đỗ Trinh Huệ đã dịch và xuất bản gần 10 đầu sách của Lm. Cadière và về Lm. Cadière.

  • Thời biểu hội thảo :
  • Thứ ba (7/9/2010) : buổi sáng 3 bài tham luận, buổi chiều 3 bài tham luận, sau các bài tham luận có tới 12 bài phát biểu ngắn bổ sung hoặc nhận định, mở rộng chiều kích của bài tham luận. Các bài phát biểu cũng rất sôi nổi.
  • Thứ tư (8/9/2010) : buổi sáng lên Đại Chủng viện Huế viếng mộ và truy điệu Cố Cả Cadière, khánh thành tượng đài và được giới thiệu bức tranh sơn mài rất quý hiếm đề tài Giáng sinh của 2 họa sĩ Đông Dương : Nguyễn Tiến Chung và Hoàng Tích Chù, thực hiện 1942, kích thước 1m4 x 2m – Buổi chiều có 3 bài tham luận và những bài phát biểu góp ý. Sau đó là buổi văn nghệ hoành tráng do các nữ tu, các ca đoàn và thiếu nhi giáo xứ Chính Tòa thực hiện, hướng về Hà Nội ngàn năm. Buổi tối có phiên chợ đêm văn hóa ẩm thực Huế rất tuyệt.
  • Thứ năm (9/9/2010) : cử tọa tiếp tục nghe các bài tham luận, các bài phát biểu sôi nổi và cuốn hút, dù đã sang ngày thứ 3 như giáo sư Chu Hảo, Giám đốc kiêm Tổng biên tập nhà xuất bản Trí Thức nhận xét : "Những đề tài tham luận phong phú đã làm cho người nghe đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác …".
  • Sẽ  còn nhiều vấn đề và lãnh vực phải được tiếp tục nghiên cứu vì không thể nêu hết trong vỏn vẹn 3 ngày hội thảo. Trong buổi tổng kết, ban Thư  ký đã tóm gọn 3 đề mục chính :

  • Lm. Léopold Cadière, một Linh mục Thừa sai, một con người của đức tin và đức bác ái. Nhiệm vụ hàng đầu của ngài là truyền giáo, ngài là vị Thừa sai nhiệt tình và đức hạnh, học tiếng Việt, tìm hiểu để hội nhập, để phục vụ đắc lực hơn, ngài xây dựng Nhà thờ, trường học, nhà thương, xưởng thợ … tất cả bộc lộ một trái tim nhân ái.
  • Lm. Léopold Cadière, một nhà nghiên cứu khoa học với nhận thức tinh tế, phương pháp nghiên cứu nghiêm túc, khách quan. Ngài thành công nhờ 3 yếu tố : tài năng, phương pháp và tâm huyết. Công trình của ngài là "những trang vàng" như đánh giá của giáo sư Chu Hảo, có giá trị cho đến ngày nay và mai sau, hoặc như đánh giá của nhà nghiên cứu Bửu Ý : "Cadière xuất chiêu trông bề ngoài có vẻ hời hợt mà nội lực thì thâm hậu khôn lường" ; Giám Mục Võ Đức Minh thì thốt lên : "Những tham luận có giá trị đến nức lòng".
  • Đề xuất : các thuyết trình viên, những nhà trí thức tiếng tăm lỗi lạc đã đồng thanh đề xuất : "Đã đến lúc Huế phải tôn vinh Lm. Cadière, … cụ thể hơn cần một con đường, một thư viện, một trường học hay một quỹ văn hóa mang tên Cadière".
  • Trong phát biểu bế mạc, Đức Tổng Giám Mục Huế thay mặt Ban Tổ chức cám ơn các thuyết trình viên, các Giám Mục, Linh mục, tu sĩ, chính quyền các cấp, các đại diện tôn giáo bạn, các khách quý đã đến tham dự và đóng góp cho cuộc Hội thảo này.

  • Nhận định :
  • Về Lm. Leopold Cadière : tất cả tài liệu nghiên cứu đều viết bằng tiếng Pháp dù ngài rất thông thạo tiếng Việt, lý do là ngài muốn giới thiệu hình ảnh đất nước, con người, văn hóa Việt Nam cho toàn thế giới, vì thời đó ảnh hưởng của nền văn minh Pháp rất lớn, tiếng Pháp hầu hết các nước trên thế giới đều biết. Điều này nói lên tấm lòng yêu nước VN của Cha Cadière thật sâu sắc.
  • Về phía thuyết trình viên và những nhân sĩ lên tiếng phát biểu sau mỗi tham luận, mọi người đều nhận thấy một sự đồng thuận tích cực, trân trọng con người và những công trình nghiên cứu của Lm. Cadière, không một ý phản bác hoặc nghi ngờ về những giá trị văn hóa đã nêu. Dường như mọi người đều chấp nhận luận điểm : "Sau Cố Cả Cadière, không một ai mang danh hiệu nhà Huế học mà không tra cứu, tham khảo các công trình của cha Cadière".
  • Về phía các tham dự viên : một sự chăm chú và kiên trì theo dõi từ đầu đến cuối, buổi thuyết trình nào hội trường cũng đầy người, ai tới trễ là phải ngồi ghế "súp". Nguyên thái độ này đủ nói lên giá trị và sự thành công của cuộc hội thảo. Kẻ viết tường thuật này cũng từng được dự nhiều buổi thuyết trình và hội thảo nơi này nơi kia, bài đầu thì còn đông thính giả, bài 2 bài 3 thưa dần, nhất là sau khi đã nhận được cái "phong thơ" thì ghế bắt đầu trống.
  • Những màn "phụ họa" được tham dự viên đánh giá rất cao và chiếu cố triệt để, đó là chương trình văn nghệ hoành tráng, buổi chợ đêm văn hóa ẩm thực tuyệt vời, và nhất là phòng triển lãm ngay cạnh hội trường được đánh giá là một hoạt động văn hóa cao, hiếm thấy nơi các buổi hội thảo. Phòng triển lãm là một gian phòng khá rộng, thoáng mát, ngay tầng trệt, vách, trần ghép ván gỗ, chạm trổ theo phong cách Huế đặc sệt. Nội dung trưng bày gồm 4 mảng :
  • Mảng 1 : các tác phẩm, thủ bản, thủ bút của cha Cadière.
  • Mảng 2 : bộ sưu tập Kiều gồm 24 bản Hán Nôm, 170 bản Kiều tiếng Việt và các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Rumani, Hàn từ đầu thế kỷ 20 tới nay, hơn 700 đầu sách nghiên cứu về Kiều và đại văn hào Nguyễn Du, hơn 700 tạp chí, báo ngày, tài liệu có những bài viết về truyện Kiều và Nguyễn du, 30 bức tranh sơn mài, sơn dầu, mầu nước, ký họa về Kiều, có những bức của những họa sĩ có tiếng như Nguyễn Tư Nghiêm, Tú Duyên, Kiều Trí, Nguyễn Thành Long … gần 20 bức thư pháp viết các câu Kiều trên giấy dó, do nhà thư pháp Giang Phong thực hiện, nhiều tượng Kiều, Kim bằng gốm sứ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 rất giá trị, bộ ấm chén trà và gần 1 chục cái chén (bát) bằng sứ Limoges (Pháp) đầu thế kỷ 20 có viết các câu Kiều – có tô, đĩa mai hạc với 2 câu thơ Nôm :

  • "Nghêu ngao vui thú yên hà,
    Mai là  bạn cũ, hạc là người quen
    "

    Tương truyền là của Nguyễn Du đặt khi đi sứ Trung Quốc, đặc bệt có tấm thẻ bài bằng ngà đã ngả  màu vàng ố, trên khắc 5 chữ Hán : "Phù Dực huyện Tri huyện" – Chúng ta biết rằng cụ Nguyễn Du đã từng làm tri huyện Phù Dực năm 1802, đứng về phương diện khảo cổ học mà xét thì tấm thẻ thuộc về thời đó. Ngoài ra còn rất nhiều vật dụng khác liên quan tới Kiều, như những chiếc đờn tỳ bà phím ngà, những băng đĩa ngâm Kiều, ca Kiều, đọc Kiều, một đĩa Cung Đàn Bạc Mệnh của nhạc sĩ Vũ Đình Ân, đã trình diễn ở nhà hát Hòa Bình cách nay mấy năm.

    Nhà  sử học Chương Thâu và những nhà nghiên cứu văn hóa rất tâm đắc với nhận định của nhà nghiên cứu Hồ Tấn Phan : "Đây là một bộ sưu tập Kiều lớn và có giá trị".

  • Mảng 3 : một thoáng Chăm Pa – Chúng ta biết vùng Thuận Hóa ra tới Quảng Bình, nơi cha Cadière sống và hoạt động vốn xưa là đất Chămpa. Một thoáng Chămpa trưng bày hơn 30 đèn dầu lạc bằng đất nung và đồng từ thế kỷ 5 trước Công nguyên tới thế kỷ 18. Mảng này chưa từng được trưng bày ở Huế.
  • Mảng 4 : dấu ấn đức tin tại Hoàng cung –Triều Nguyễn lấy Thuận Hóa (Huế) làm kinh đô. Huế ngày nay được khách du lịch khắp năm châu biết đến vì đây là kinh đô triều Nguyễn với những công trình kiến trúc : cung, điện, lăng tẩm, không quá đồ sộ nguy nga nhưng có những nét độc đáo. Lịch sử cũng cho chúng ta biết các vua Nguyễn thời xưa có sự hiểu lầm về đạo Công giáo, có khi cũng do quần thần tấu sai và cũng có phần do những biến cố lịch sử thời đại đưa đẩy nên đã ra lệnh cấm đạo rất gắt, đã có cả 100.000 người tín hữu phải chết vì những sắc chỉ cấm đạo, từ sự hiểu lầm này cũng nảy sinh nhiều hệ lụy cho cả đất nước. Nhưng cuối cùng như một phép lạ của bàn tay Chúa, bà Nam Phương - một tín hữu Công giáo chính tông lại trở thành hoàng hậu An Nam, tay hòm chìa khóa trong cung cấm và lạ lùng hơn nữa, chính vua Bảo Đại – vị hoàng đế cuối cùng của triều Nguyễn lại cũng trở thành con chiên của Chúa, đây quả là một phép mầu và là một lời đính chính cho các tiên đế. Mảng trưng bày này gồm có một tủ kính của Đức Bà Từ Cung (quà tặng làm 1912) ; một hào quang khắc rồng 5 móng bà Nam Phương tặng dòng Thiên An Huế ; một bức tượng trái tim Chúa được kể là của bà Nam Phương cho một người cháu ở Gò công trước khi đi Pháp, người cháu này để lại cho Cha Lục (Xuân Lộc), Lm. Nguyễn Hữu Triết xin Cha Lục nhượng lại và tặng cho Huế ; một bộ trà "Tự Đức niên chế" ; một chậu hoa và đĩa để chậu hiệu đề "Khải Định niên tạo" ; một cây đèn thủy tinh do vua Khải Định đặt lò Sèvre (Pháp) làm và treo rất nhiều ở các cung, điện và lăng tẩm ; một số đồ pháp lam Huế và một số đồ sứ thời vua Minh Mệnh và Tự Đức.
  • Với 4 mảng trưng bày kể trên, phòng triển lãm đã trở thành một dấu nhấn đặc biệt cho cuộc hội thảo, trong 3 ngày mở cửa, những giờ giải lao không lúc nào vắng khách tham quan. 

    ____________________________________________________

    Các tài liệu tham khảo :

    - Bài tường thuật của Hồ Vĩnh – tạp chí Sông Hương số 259, trang 54
    - Bài tường thuật của Minh Phương – báo CG&DT số 1775, trang 18
    © Tác giả giữ bản quyền.
    . Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 12.10.2010.
    . Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.