Chân dung học giả Nguyễn Văn Vĩnh
Ảnh của nguyenvanvinh.net

NGUYỄN VĂN VĨNH 
(15/6/1882 - 1/5/1936)




Qúy vị đang nghe
Symphony số 8 F Major.Op93
của Beethoven

Bối cảnh lịch sử:

1882 -Pháp đánh chiếm thành Hà Nội (28/04/1882).

1883 -Trận chiến đấu cuối cùng của đảng Văn Thân giết chết đại tá Pháp Henri Rivière ở Cầu Giấy.

-Vua Tự Đức chết, triều đình Huế ký Hòa Ước Qúy Mùi: cả nước trở thành thuộc địa Pháp.

1884 -Hòa Ước Patenôtre (tháng năm Giáp Thân) nhà Thanh bên Tàu công nhận Việt Nam là thuộc địa của Pháp, quân Cờ Đen phải rút về Tàu.

-Vua Hàm Nghi lên ngôi, Tôn Thất Thuyết đánh Pháp ở Huế. Vua Hàm Nghi lập chiến khu đánh Pháp, ban hành hịch Cần Vương, khắp nơi trong nước nổi dậy chống Pháp.

1886 -Paul Bert sang tổ chức Phủ Thống sứ Bắc Kỳ ở Hà Nội, mở học đường và Thương Nghiệp cục.

1888 -Vua Hàm Nghi bị bắt đưa đi đầy sang Algérie.

1889-1903 -Ông Phan Đình Phùng tiếp tục sự nghiệp của vua Hàm Nghi.

Ngày 15/6/1882, giữa Hà-thành mới mất vào tay Pháp, Ông bà Nguyễn Văn Trực sinh con trai đầu lòng đặt tên là Nguyễn Văn Vĩnh ở căn nhà số 46 phố Hàng Giấy, Hà Nội. Nhà này là nhà bà Nghè Đại Gia, bà con bên ngoại của bà Trực. Ông bà Trực là nông dân nghèo, phải bỏ quê ra Hà Thành ở nhờ nơi đây. Hồi đó chưa có công trình thủy nông cống Đồng Quan nên quanh năm ngập nước, cánh đồng chiêm chỉ cấy được mỗi năm một vụ nên nhiều dân làng đã bỏ lên tỉnh sinh sống. Ông Trực quê ở làng Phượng Vũ, Phủ Thường Tín, Tỉnh Hà Nội (bây giờ là Huyện Phú Xuyên, Tỉnh Hà Tây). Bà Trực quê ở làng Đại Gia, Phủ Thường Tín, Tỉnh Hà Nội. Giữa hai làng là con đường mang tên Thiên Lý.

1. THỜI THƠ ẤU 1882-1890:

Suốt thời thơ ấu Nguyễn Văn Vĩnh sống ở phố Hàng Giấy, hồi đó đã trở thành một phố cô đầu, khách làng chơi Tây, Tầu, ta lui tới tấp nập và cũng là nơi mà những người cuối cùng của đảng Văn Thân chọn làm nơi hoạt động chống Pháp. Gia đình ông Trực đông con, từ 1882 tới 1890 hai ông bà sinh được bẩy người con: hai trai (Nguyễn Văn Vĩnh và Nguyễn Văn Thọ) và năm gái. Kinh tế gia đình do một mình bà Trực đảm đang bằng cách về các vùng quê mua hàng gánh ra chợ Đồng Xuân gần nhà bán. Trong bối cảnh đó việc học của Nguyễn Văn Vĩnh không được đến nơi đến chốn, nho học chỉ gọi là học cho có, theo học Pháp văn thì nhà nghèo. Cho nên ông Trực, trưởng phố, đã xin được cho con chân kéo quạt ở trường Thông Ngôn của Pháp mở ở Đình Yên Phụ, Hà Nội. Lúc đó ông Vĩnh mới lên tám tuổi.

2. THỜI NIÊN THIẾU 1890-1896:

Trường Thông Ngôn do một người Pháp tên là D'argence vừa là hiệu trưởng vừa là giáo viên. Phương pháp dạy chủ yếu là truyền khẩu, trường cũng có dạy a, b, c,... để học viên tập đọc, tập viết chữ Pháp, và có dạy cả chữ Quốc ngữ (hồi đó ở ngoài Bắc chữ này mới chỉ được dùng trong phạm vi của các Giáo hội).

Chú bé kéo quạt ngồi ở cuối lớp, kéo hai hàng quạt nối liền nhau, vừa quạt mát cho cả lớp học, vừa tò mò nghe giảng; học sinh nghe gì thì chú cũng nghe nấy. Sự chăm chú theo dõi bài học của chú bé đã lọt vào mắt thầy D'Argence, và khi lớp học mãn khóa (1893) ông này đã cho chú kéo quạt thi... thử! Không ngờ chú lại đậu thứ 12 trong số 40 học sinh! Thầy d'Argence bèn đặc cách xin cho chú học bổng và nhận chú làm học sinh chính thức của khóa học tiếp theo, khóa thông ngôn tòa sứ khóa 1893-1895. (Trong khóa học này ngoài thầy d'Argence, còn có ông Đỗ Đức Toại thủ khoa khóa 1890, cùng dậy). Chú Vĩnh đã đậu... thủ khoa khóa đó, chú được tuyển đi làm thông ngôn tòa sứ Lào Cai và bắt đầu cuộc đời công chức.

Như vậy là cậu Vĩnh bước vào đời với chút vốn chữ nho học được khi còn ở nhờ nhà Bà Nghè Đại Gia, cộng với vốn chữ Pháp và chữ Quốc Ngữ mới học được ở trường Thông Ngôn. Thật ra cậu thông ngôn trẻ tuổi đã học, hiểu rành rọt Pháp Văn trước chữ quốc ngữ - thứ chữ dùng mẫu tự la-tinh để phiên âm tiếng nói của người An-nam, thứ chữ mà cậu sẽ tận lực phát triển và giúp nó trưởng thành dần, mỗi ngày mỗi hoàn mỹ hơn.

3. THỜI THANH NIÊN 1896-1906:

1 - 1896: Thông Ngôn Tòa Sứ Lào Cai.

Cậu thủ khoa được bổ ngay lên làm việc ở Tòa Sứ Lào Cai. Pháp đang cần người thông ngôn cho đoàn chuyên gia nghiên cứu và chuẩn bị xây đường sắt Hải Phòng - Hà Nội - Lào Cai - Vân Nam cho Công Ty Hỏa Xa Vân Nam. Con đường sắt này rất cần thiết cho việc khai thác tài nguyên của thuộc địa mới.

Một chân trời mới hé mở trước mắt cậu Vĩnh. Cậu vừa làm việc vừa say mê học hỏi bất cứ cái gì mới lạ. Thấy cậu tò mò, khát khao học hỏi mà lại cởi mở, lanh lợi, nên các chuyên gia Pháp cũng mến và giúp đỡ cậu rất nhiều. Một năm làm thông ngôn tại Lào Cai cậu Vĩnh đã học thêm được một mớ kiến thức. Khi đoàn chuyên gia được chuyển về Hải Phòng chuẩn bị cơ sở vật chất để xây dựng đường sắt, cậu Vĩnh cũng được chuyển về Tòa Sứ Hải Phòng theo họ.

2 - 1897-1901: Thông Ngôn Tòa Sứ Hải Phòng. 1897,

Paul Doumer được cử sang làm Toàn Quyền Đông Dương thay cho Rousseau (Toàn Quyền từ 1895 đến 1897) và được chính quốc cấp nhiều tiền hơn Rousseau nhiều (280 triệu thay vì 80 triệu).

Ngay từ 1888 triều đình Huế đã phải ký hiệp định nhượng hẳn Hải Phòng, Hà Nội và Đà Nẳng cho Pháp làm thuộc địa (như toàn bộ miền Nam). Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó 16 tuổi được điều về Hải Phòng đúng lúc người Pháp đang mở mang kiến thiết bến cảng (1897). Hải Phòng được mở mang xây dựng trước Hà Nội vì là một cảng lớn của miền Bắc và cũng là đầu đường giao thông thuận lợi nhất để đi sâu vào nội địa và lên tận Vân Nam, Trung Quốc. Người Pháp đang khởi sự các công việc nạo vét sông Cửa Cấm để tàu lớn vào được, xây dựng nhà kho, nhà máy cơ khí Caron, trường kỹ thuật thực hành để đào tạo công nhân cơ khí, nhà máy xi-măng, nhà máy thủy tinh, vv... tóm lại là xây dựng toàn bộ cơ sở vật chất kỹ thuật để mở mang và khai thác miền Bắc.

A) Tự Học Anh, Hoa Văn, Và Hết Chương Trình Trung Học Phổ Thông Pháp: Công việc của cậu Vĩnh rất nhiều. Ngoài việc thông ngôn cho các chuyên gia đón tàu nước ngoài vào cảng, cậu còn phải tiếp nhận những vật tư kỹ thuật, hướng dẫn các công việc bốc rỡ, vận tải và xếp kho. Hàng ngày được giao tiếp với thủy thủ của các tàu Pháp, Anh, Hoa... cậu Vĩnh đã học thêm tiếng Hoa và tiếng Anh để thuận tiện cho công việc hàng ngày. Sau ba tháng cậu dịch được hai thứ tiếng này đủ để đoàn chuyên gia Pháp làm việc. Họ đỡ phải tuyển thông ngôn viên tiếng Anh và tiếng Hoa, và vì vậy họ mến cậu thông ngôn người bản xứ.

Một thủy thủ Pháp gạ bán cho cậu một bộ sách để tự học chương trình Trung Học Phổ Thông với giá bằng nửa tháng lương của cậu (hồi đó là 15 đồng). Món tiền tuy là rất lớn đối với cậu nhưng cậu cũng dốc túi để đổi lấy bộ sách gồm: quyển Petit Larousse Illustré (từ điển Pháp có hình vẽ) và toàn bộ Encyclopedie Autodidactique Quillet (hai quyển sách Tự học Chương trình Trung Học Phổ Thông Pháp). Những sách này được Nguyễn Văn Vĩnh trang trọng lưu niệm trong một tủ kính tại tòa báo Annam Nouveau.

Từ ngày mua được sách quý, ngoài giờ làm việc ra cậu vùi đầu vào tự học. Trong khoảng hai năm cậu đã học hết chương trình phổ thông và làm hết các bài tập ở trong sách. Cậu thích thú nhất các môn triết học, chính trị và văn học, và đã lập danh mục những sách cần phải gửi mua để học thêm. Sau năm năm làm ở Hải Phòng cậu đã dành dụm mua được cả một hòm sách, tài sản quí giá mà đi đâu cậu cũng mang theo.

B) Tập Viết Những Bài Báo Bằng Pháp Văn Và Dịch Những Quyển Sách Đầu Tiên: Sau khi học hết chương trình trung học và đọc những sách chính trị, triết học và tiểu thuyết văn học Pháp, sau khi hàng ngày được đọc sách báo và tạp chí nước ngoài đủ các loại - mượn của các thủy thủ nước ngoài - Nguyễn Văn Vĩnh nhận thấy là dân tộc An-nam không có chữ riêng của mình, phải dùng chữ nôm (loại chữ bắt chước chữ nho, khó học). Ý nghĩ phát triển chữ quốc ngữ, dễ học, để giúp cho nhiều học hỏi mở mang kiến thức (như bản thân mình) đã nhen nhúm trong đầu cậu từ đó.

Với ý nghĩ đó Nguyễn Văn Vĩnh thử dịch những bài văn hay của Pháp ra Quốc ngữ, bắt đầu bằng những bài thơ ngụ ngôn của La Fontaine, rồi đến những chuyện trẻ con của Perrault, vv... Nhưng lúc bấy giờ chưa có báo in bằng Quốc ngữ, chỉ mới có những tờ thông báo của tòa sứ in ra một nửa bằng chữ nho và một nửa bằng chữ Quốc Ngữ rất thô thiển.

Ở Hải Phòng lúc bấy giờ chỉ mới có một tờ báo "Courrier de Hải Phòng", cậu Vĩnh bắt đầu tập viết báo bằng tiếng Pháp. Những bài đầu tay là những tin ngắn nói về tình hình trong cảng, tình hình xây dựng cảng, xây dựng nhà máy và thành phố. Những bài cậu viết đều được báo nhận in; sau những bản tin thường cậu tiến tới viết những bài nói về sinh hoạt và nếp sống của nhân dân thành phố cảng. Cậu trở thành cộng tác viên An-Nam đầu tiên của tờ báo. Nguyễn Văn Vĩnh bước vào nghề báo như vậy, lúc mới được 17 tuổi (1899).

C) Tham Gia Dạy Học Và Nói Chuyện Ở Hội Trí Tri: Mục đích của hội là mở mang dân trí và giúp đỡ mọi người học tập. Hội trưởng là ông Nguyễu Hữu Thu, tức ông Thông Vôi. Cậu Vĩnh đã tích cực giúp hội bằng cách tham gia vào việc dạy học và nói chuyện về khoa học. Cậu cũng dạy chữ Quốc ngữ, dạy tiếng Pháp. Ông Thông Vôi thấy cậu nói được nhiều thứ tiếng, tuy tự học mà am hiểu nhiều môn khoa học, chăm chỉ, nhiều nhiệt tình nên đã thay mặt Hội Trí Tri xin học bổng cho cậu sang Pháp học Trường Đại Học Sư Phạm để sau này về làm việc cho Hội. Nhưng Nguyễn Văn Vĩnh đã từ chối mặc dầu Hội đã đề nghị trả nguyên số lương của cậu cho gia đình trong lúc cậu đi học. Cậu đã từ chối vì nhiều lý do: mẹ đã mất, cậu là con cả trong nhà, phải chuẩn bị lập gia đình để mau có cháu cho bố đã nhiều tuổi. (chúng ta đang ở cuối thế kỷ thứ 19!)

D) Xây Dựng Gia Đình: Vào năm 1900, đúng 18 tuổi, Nguyễn Văn Vĩnh lấy vợ tên là Đinh Thị Tính, 19 tuổi, ở Hà Nội. Bà Đinh Thị Tính sinh năm 1881 ở Hà Nội, nhưng cùng quê với ông Vĩnh (phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội). Gia đình bà bỏ quê ra Hà Nội sinh sống đã hai đời, nhà ở 12 ngõ Phất Lộc, một ngõ cổ nhất Hà Nội cạnh cột đồng hồ trên bờ sông Hồng. Bà Tính là con của cụ Đinh Xuân Tiên và cụ bà Dương thị Nghị. Hai cụ có hai người con, bà Tính là chị và em giai là Đinh xuân Quang. Sau khi cưới ở Hà Nội, gia đình ông Vĩnh dọn xuống Hải Phòng, thuê một căn nhà nhỏ ở phố Cầu Đất, sống đời sống của một công chức trung bình. Ngày ngày ông đi làm, bà lo việc nhà và đi chợ buôn bán thêm, bố ở nhà trông nhà. Tới năm 1901 sinh con trai đặt tên là Nguyễn Hải (Hải-Phòng). Ông Vĩnh đẩy mạnh hoạt động của hội Trí Tri, viết báo, dịch sách và tự học thêm.

3. Thông Ngôn Tòa Sứ Bắc Giang 1902 - 1905:

Trong thập kỷ 1890 đến 1900 Pháp đã dùng Hoàng Cao Khải bình định xong được miền Bắc: ông Nguyễn Tân Thuật phải rút quân sang Trung Quốc, sau mất ở Nam Ninh; ông Đốc Tít ra hàng bị đầy sang Algérie; ông Cai Kinh bị bắt; ông Đốc Ngữ ra thú. Riêng ông Hoàng Hoa Thám vẫn giữ được vùng Yên Thế, Pháp phải chịu hòa hoãn nhượng cho ông Đề Thám sáu tổng gồm 27 xã và thương thuyết chấm dứt chiến tranh. Nhờ vậy đường sắt Phủ Lạng Thương đã được hoàn thành từ năm 1894. Tỉnh Bắc Giang lúc đó bao gồm cả Bắc Ninh.

Đầu năm 1902, ông được điều lên làm thông ngôn tòa sứ Bắc Giang, nơi mà ông có rất nhiều thân nhân: em ruột là thông ngôn tòa sứ Hòa Bình, gia đình ở Bắc Ninh; vợ ông giáo Đoàn Trọng Phan ở Bắc Ninh là em ruột của ông; vợ ông lang Phạm Văn Uẩn nổi tiếng ở Bắc Ninh là cô của ông. Tóm lại, về Bắc Ninh gia đình ông Vĩnh không phải lo chỗ ở và được sống quây quần với bà con thân thuộc. Bốn năm làm việc ở Tòa sứ Bắc Giang ông đã đạt tới tột cùng của nghề công chức: Chánh văn phòng tòa sứ.

A). Công Sứ Hauser Và Phó Sứ Eckert: Công sứ Bắc Giang lúc bấy giờ là Hauser, một trí thức Pháp có đầu óc dân chủ và có ý thức đúng đắn về nhân quyền. Hauser thuộc một gia đình có uy tín ở bên Pháp, là một công chức cao cấp có nhiều uy tín. Phó sứ Eckert chỉ là một nhân viên của sở mật thám Pháp được đề bạt lên để giúp công sứ về vấn đề an ninh.

Ông Hauser sớm nhận ra tài năng của người thông dịch trẻ tuổi, tuy chỉ được đào tạo sơ cấp mà nói và viết tiếng Pháp rất thành thạo, làm được mọi công việc, thảo được mọi công văn và báo cáo, cộng tác với nhiều tờ báo Pháp đương thời. Tin cậy và mến tài năng, ông Hauser đã đề bạt ông Vĩnh lên làm Chánh văn phòng Tòa sứ Bắc Giang, làm hết những công việc mà phó sứ Eckert không (đủ khả năng) làm. Mọi việc lớn nhỏ công sứ Hauser đều giao cả cho ông Vĩnh tới độ mà các nhân viên toà sứ gọi ông Vĩnh là "ông phó sứ"! Sau bốn năm làm việc, Hauser đã coi ông Vĩnh như một cộng tác viên thân cận, một người bạn. Ông được điều đi đâu thì ông Vĩnh cũng được điều đi đó!

B) Tổ Tự Học Ba Người: Trần Tấn Hằng - Phạm Huy Hồ - Nguyễn Văn Vĩnh. Giữa phố chính của thị xã Bắc Ninh có một cửa hàng tên "Tán Nguyên" vừa bán tạp hóa vừa bán sách tân thư Trung Quốc, chủ nhân là một trí thức người Hoa tên Trần Tấn Hằng. Khách hàng quen có ông nghè Phạm Huy Hồ, bạn văn học lâu năm với chủ tiệm, thường đến đọc sách và đàm đạo về thời sự. Tình cờ ông Vình đến mua sách và dần dà kết bạn với hai người trí thức này. Nhờ có dịp thường xuyên đàm đạo với họ mà ông Vĩnh hiểu rõ hơn về cuộc cách mạng Trung Quốc, về gốc rễ của chữ nôm và về văn hóa của dân tộc Việt Nam.

C) Đời Sống Gia Đình: Về Bắc Giang, ông Vĩnh được hưởng lương cao hơn, bà Đinh thị Tính buôn bán thuận lợi hơn. Tới năm 1904 ông bà sinh thêm một cậu con trai đặt tên là Nguyễn Giang (Bắc Giang). Gia đình nay đã có năm người: một bố già, hai vợ chồng và hai con trai. Cuối năm 1905, công sứ Hauser được đề bạt lên làm Đốc lý tại Hà Nội và ông Vĩnh được điều về Tòa đốc lý Hà Nội.

4. 1906, Thông Ngôn Tòa Đốc Lý Hà Nội. Năm 1906 ông Vĩnh tròn 25 tuổi.

A) Về Hà Nội: Sau năm năm tần tảo, dành dụm, từ Hải Phòng tới Bắc Giang rồi về Hà Nội bà Vĩnh đã tậu được một căn nhà nhỏ ở số 34 phố Mã Mây. Nhà hai tầng, gian dưới dành cho sinh hoạt gia đình, tầng trên dành làm nơi làm việc cho ông Vĩnh. Gian gác nhỏ trở thành nơi họp mặt bạn bè và đồng sự. Ông có nhà là có khách: Khách hội Trí Tri, khách trường Đông Kinh Nghĩa Thục, khách tới nhờ viết đơn và thảo điều lệ xin thành lập trường học, hội từ thiện và các hội khác. Bạn bè thân thiết của ông lúc bấy giờ có các ông tân học như Phạm Duy Tốn, Phạm Huy Lục, cựu nho như Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục.

Gia đình ông Vĩnh sống hạnh phúc trong căn nhà nhỏ này từ 1906 tới 1921, 16 năm, tức suốt thời gian ông Vĩnh ra sức tôi luyện chữ Quốc Ngữ. Ông bà đã có thêm tám người con, tổng cộng là mười: Nguyễn Hải 1901 ở Hải Phòng, Nguyễn Giang 1905 ở Bắc Giang, Nguyễn Thị Loan 1907, Nguyễn Thị Nội 1909, Nguyễn Thị Vân 1913, Nguyễn Dương 1914, Nguyễn Văn Phổ 1917, Nguyễn Kỳ 1918, Nguyễn Thị Mười 1919 và Nguyễn Dực 1921. Nguyễn Nhược Pháp sanh ngày 12/12/1914 là con thứ bẩy của ông Vĩnh (có với bà hai, tên Phan Thị Lựu, người thổ Lạng Sơn, con dì con già với ông Vi Văn Định). Ông Vĩnh có với bà ba, Suzanne Giáp Thị Thục, hai con trai là Nguyễn Hiến và Nguyễn Phùng cũng vào khoảng thời gian này.

Hình trên được chụp vào khỏang 1930 -1931: Ông Bà Vĩnh chụp với 3 con trai: Nguyễn Kỳ đứng sau, trong lòng Ông Vĩnh là con trai út Nguyễn Hồ, trong lòng bà Vĩnh là Nguyễn Dực (sinh năm 1921).

B) Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội Trí Tri Và Thư Viện Bình Dân: Ngoài giờ làm việc nếu không về nhà thì ông Vĩnh tới một trong ba nơi dưới đây:

-Trường Đông Kinh Nghĩa Thục nơi mỗi tuần ông dành mấy tối để nói chuyện hoặc dạy tiếng Pháp, dạy chữ Quốc ngữ, nói chung là làm công việc nâng cao dân trí. Do dậy học ở đó mà ông đã thân với các ông Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục, Hoàng Tăng Bí, Dương Phượng Dực, vv... là những người sau này cộng tác với ông làm báo Đăng Cổ Tùng Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Dương Tạp Chí và Trung Bắc Tân Văn.

-Hội Trí Tri mà ông làm trưởng ban diễn thuyết cùng với các ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tăng Bình, mỗi tuần tổ chức một buổi nói chuyện và giảng sách. Ông Vĩnh không chỉ nói chuyện mà còn hướng dẫn các học viên tìm sách tham khảo, giải đáp bằng thư những điều mà bản thân ông cũng phải tham khảo thêm. Đây là một lối tự học của ông.



Từ trái sang phái : Phạm Duy Tốn - Phạm Quỳnh - Nguyễn Văn Vĩnh

-Thư viện Bình Dân (Bibliothèque Populaire) ở Bờ Hồ Hoàn Kiếm gần đền thờ Bà Kiệu là một thư viện dành cho người đọc được tiếng Pháp. Hàng tháng đều có sách báo mới ở Pháp gửi về. Ở đây ông đã làm quen được với những bạn theo Tây học là các ông Phạm Duy Tốn, Phạm Huy Lục, Trần Trọng Kim, vv...

C) Ông Hauser Và Ông F. H Schneider: Ông Hauser đã trở thành một quan chức Pháp có nhiều uy tín, được điều về làm Đốc lý Hà nội, được Phủ Thống sứ Bắc Kỳ tin tưởng giao cho hầu hết các công việc quan trọng về văn hóa của Phủ Thống sứ. Ông Hauser lại giao lại phần lớn công việc này cho ông Vĩnh!

Trước tiên là việc biên soạn và in ấn tờ Công Báo "Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo". Ông Hauser cử ông Vĩnh sang nhà in của F. H. Schneider để soạn thảo và in tờ báo trên. Báo này đã xuất bản từ trên mười năm, đã ra đến số 772... in một nửa bằng chữ Quốc ngữ, một nửa bằng chữ nôm. Từ ngày ông Vĩnh sang, tờ báo từ từ thay đổi và trở thành một tờ báo ngôn luận lấy tên là "Đăng Cổ Tùng Thư" (ông Vĩnh là chủ bút).

Schneider sang Việt Nam từ 1882, ký hợp đồng với Phủ Toàn quyền thực hiện hết các công việc in ấn ở Đông Dương. Ông rất yêu nghề in ấn, nhưng cho đến năm 1906 mới chỉ ra được có tờ "Tribune Indochinoise" bằng tiếng Pháp, còn về chữ Quốc Ngữ thì tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo và các tờ báo khác in ở trong Nam tuy gọi là báo mà thực ra chỉ là những thông cáo hay thông báo của chính quyền. Cho nên khi gặp được ông Vĩnh ông Schneider nhận ra ngay người mình đang cần, và cùng với ông Hauser ông tìm mọi cách giúp ông Vĩnh nghỉ việc để hợp tác làm báo. Là một người rất yêu nghề, Schneider có một ý nguyện là làm được một tờ báo ngôn luận văn học hẳn hoi bằng chữ Quốc ngữ, xuất bản được những sách văn học thuộc địa và nhất là truyền lại nghề in cho người bản xứ. Trong khi đó thì Nguyễn Văn Vĩnh đang nôn nóng truyền bá chữ Quốc ngữ. Một bên có nhà in mà không có người viết, một bên viết báo viết sách mà không có nhà in, hai người hợp nhau như cá với nước vậy. Họ trở thành đôi bạn thân thiết, dựa vào nhau, giúp nhau thực hiện ước mơ chung và riêng: người trẻ thoát khỏi đời công chức mà lại học được kiến thức và kinh nghiệm của nghề in ấn; người già hoàn thành được tốt nhiệm vụ và truyền đạt được nghề in cho người bản xứ.

Việc thứ hai Phủ Thống sứ giao cho Tòa đốc lý Hà Nội là vận động phát triển việc mở mang các trường học và các hội thiện, hội nghĩa. 1902 - 1907, Toàn Quyền Beau sang thay Doumer, chủ trương mở mang học hành và tổ chức y tế và các việc thiện. Đốc lý Hauser được giao nhiệm vụ vận động và giúp đỡ dân thuộc địa làm đơn và thảo điều lệ xin phép lập các trường học và các hội, dịch ra tiếng Pháp và đệ lên Phủ thống sứ duyệt. Hauser lại giao việc này cho người bạn tín cẩn của mình. Vì vậy mà ông Vĩnh đã trở thành sáng lập viên của các hội, các trường thành lập hồi bấy giờ.

* Hội Trí Tri ở phố Hàng Đàn mà ông là sáng lập viên đồng thời là chủ tịch ban diễn thuyết và giảng sách. Các ông Nghiêm Xuân Quảng và Trần Tấn Bình là ủy viên.

* Trường Đông Kinh Nghĩa Thục ở phố Hàng Quạt mà ông thảo điều lệ và viết đơn xin thành lập, ông cũng là giáo viên giảng dậy và diễn thuyết.

* Hội giúp đỡ người Việt sang Pháp học Trung học, Đại học và Kỹ thuật.

* Hội Dịch Sách và nhiều trường, nhiều hội khác nữa.

Việc thứ ba Đốc lý Hauser được phủ Thống sứ giao cho là việc tổ chức và quản lý gian hàng Bắc Kỳ ở Hội chợ thuộc địa Marseille (Exposition coloniale de Marseille). Việc này cũng như những việc kể trên, Hauser giao lại hết cho ông Vĩnh: đề án thu thập sản phẩm hàng hóa để trưng bầy, tuyển mộ thợ thuyền đi Marseille để làm gian hàng. Và từ tháng 3 tới tháng 8/1906 ông Vĩnh đi Pháp dự Đấu xảo thuộc địa Marseille với danh nghĩa là thư ký của ông Hauser, đại lý Bắc Kỳ tại Hội chợ.

D) Bước Ngoặt: Sáu tháng tại Pháp (1906) đã kết thúc cuộc đời công chức của ông Vĩnh. Tháng sau cùng ở Pháp, ông Hauser đã đưa ông Vĩnh lên Paris, giới thiệu với họ hàng và bạn bè, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho ông có nơi ăn nơi ở và tham quan Thủ Đô Ánh Sáng. Nhờ đó mà ông Vĩnh:

° Nhận thấy rằng tại Pháp những người Pháp Dân Chủ chân chính - như các ông Hauser và Schneider - có rất nhiều, như các ông Pierre Vierge và Lhermite mà ông được gặp tại Marseille. Hauser và hai bạn mới này đã giới thiệu ông Vĩnh với Hội Nhân Quyền (Ligue des Droits de l'homme); ông xin gia nhập liền và đã trở thành hội viên An nam đầu tiên của Hội Nhân Quyền Pháp. Ông nhận thấy bọn Tây thuộc địa đang thực hành một chế độ mâu thuẫn với những khẩu hiệu Tự-Do Bình-Đẳng Bác-Ái mà chế độ Dân Chủ luôn nêu cao.

° Được đi thăm nhà in và nhà báo "Revue de Paris", nhà xuất bản "Hachette" và nhà soạn tự điển "Larousse", tận mắt thấy những phương tiện và phương pháp dùng để truyền đạt chữ nghĩa và tư tưởng của người Pháp.

Cuộc công cán sang Pháp năm 1906 đã kết thúc cuộc đời công chức của ông Vĩnh và cũng là tổng kết 17 năm tự học của ông. Sang Pháp ông được thấy tận mắt nền văn minh của một nước tiên tiến phương Tây, thấy những mặt tích cực cũng như tiêu cực của nó, ông được khảo sát tại chỗ nghề làm nhà in và làm báo. Từ Pháp ông viết thư về cho bạn bè đưa ra cái ý kiến phát triển chữ Quốc ngữ, xuất bản nhiều sách báo để truyền bá nó... Theo ông thì "Một dân tộc thất học có đến chín mươi phần trăm thì còn hy vọng ngóc đầu lên sao được, nếu phái trí thức không lo giáo dục cho bình dân là phần cốt yếu của dân tộc ấy. Nhưng thực hành một chương trình giáo dục không phải là việc dễ, nhất là nước mình không có một thứ chữ riêng. Chữ Hán là chữ mượn của nước người...". Ông nhận thức được rằng việc nâng cao dân trí là rất quan trọng; tương lai của đất nước, của dân tộc tùy thuộc cả vào đó. Ông viết: "...rằng tôi sẽ là người đầu tiên để làm cái công việc đó để mà gây lấy một tương lai tốt đẹp đó, tôi sung sướng vô cùng. Cha mẹ, anh em, vợ con, tất cả đều phai nhòa trước tư tưởng đó để nhường chỗ cho một lòng vui thích êm ái nhất..." (thư gửi từ Pháp về cho bạn, 1906). Quyết tâm của ông là:

"Làm sao cho chữ Quốc Ngữ trở thành chữ viết của dân tộc. "Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ".

"Làm sao in được thật nhiều sách báo để truyền bá chữ Quốc Ngữ.

Như vậy là sau mười một năm làm công chức và tự học, 25 tuổi:

* Về mặt cá nhân và gia đình, ông Vĩnh, người con hiếu thảo, đã là chủ một gia đình hạnh phúc với hai con trai (Nguyễn Hải và Nguyễn Giang).

* Về văn hóa ông đã đạt tới một trình độ khá cao, thông hiểu được nhiều môn khoa học.

* Về Pháp văn ông đã tìm hiểu sâu về văn học nghệ thuật, đã viết được sách báo bằng tiếng Pháp, đã dịch được từ Pháp sang chữ Quốc Ngữ và từ chữ Quốc Ngữ sang chữ Pháp.

*Về chữ Quốc Ngữ ông đã dùng được thành thạo chữ viết bằng mẫu tự La-tinh, diễn tả được sâu sắc và bóng bẩy mọi ý nghĩ và tình cảm của mình hơn (là bằng) chữ nho hoặc chữ nôm, mặc dầu về hai loại chữ này ông đã đạt tới trình độ đủ cao để hiểu thấu được những áng văn hay.

* Về tân tiến, ông là người Bắc kỳ đầu tiên cắt búi tó củ hành và ăn mặc theo lối Âu tây (1906, trước khi sang Pháp).

* Về chính trị ông là người Việt Nam đầu tiên gia nhập Hội Nhân Quyền Pháp (1906, khi sang Pháp). Lập trường chính trị của ông là Trực Trị (Administration Directe) đối lập với lập trường "Quân Chủ Lập Hiến" của Phạm Quyền.

5. Từ 1907 Tới 1936: Làm Báo

Ở Pháp về ông Vĩnh xin từ chức và tích cực phát triển báo chí tại Bắc kỳ. Hai ông Hauser và Schneider đã hết lòng giúp đỡ ông trong việc này. Ngày 28-3-1907 tờ Đại Nam Đồng Văn Nhật Báo được đổi tên thành Đăng Cổ Tùng Báo, phần chữ Quốc Ngữ của tờ "La Tribune Indochinoise". Đăng Cổ Tùng Báo là tờ báo ngôn luận viết bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên của nước ta, do ông Vĩnh làm chủ bút. Tờ báo đó đã được dùng là cơ quan ngôn luận của cuộc Cách Mạng Đổi Mới do ông Phan Chu Trinh đề xuất. Ông Vĩnh, chủ bút, viết hầu hết các thể loại, từ xã luận đến nghiên cứu, phóng sự: ông 'lặng lẽ' thực hiện ba phương châm "Khai dân trí, Hưng chí khí, Hậu dân sinh" của ông Phan Chu Trinh. Năm sau, 1907, ông viết đơn bằng tiếng Pháp xin thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục, trường học đầu tiên dạy chữ quốc ngữ, chữ nho, chữ Pháp không lấy tiền, do cụ cử Lương Văn Can làm đại diện. Đông Kinh = Tonkin (miền Bắc) Nghĩa Thục = trường học không lấy tiền. Nhưng chỉ một năm sau chính quyền Bảo hộ nhận thấy tờ báo này theo khuynh hướng Cách Mạng do cụ Phan Chu Trinh đề xướng nên đã giải tán trường, đình bản báo và bắt giam các nhà nho và thanh niên Tây học... Ông Vĩnh cũng bị bắt nhưng ông là hội viên của Hội Nhân Quyền, lại quen biết với hai ông Hauser và Schneider đang có thế lực nên chẳng bao lâu ông đã được thả.

Được trả tự do, ông tiếp tục làm nhà in, xuất bản sách Tam Quốc Chí, Kim Vân Kiều để truyền bá quốc ngữ. Ông xin ra báo tiếng Pháp "Notre Journal" sau đổi thành "Notre Revue" - vì báo tiếng Việt bị cấm. Mục đích của ông là làm cho người Pháp hiểu người Annam và văn hóa Annam.

Tới năm 1911-1912, ông Schneider được ra báo "Lục Tỉnh Tân văn" ở Nam kỳ, mời ông Vĩnh vào làm chủ bút. Mấy năm sau, Schneider được phép ra tuần báo "Đông Dương tạp chí" ở Hà nội, ông Vĩnh được mời trở ra Hà nội làm chủ bút. Tuần báo này sau tách ra thành "Trung Bắc Tân văn" ra ba số mỗi tuần, "Đông Dương tạp chí" trở thành tờ "Học Báo".

1918 ông Schneider về hưu, toàn bộ tài sản của ông ở Bắc kỳ (nhà in và hai tờ báo trên) được nhường lại cho ông Vĩnh. Ông Vĩnh trở thành chủ nhà in và chủ nhiệm hai tờ báo "Trung Bắc tân văn"' và "Học Báo" (hậu thân của tờ "Đông Dương Tạp Chí" - bị Albert Sarraut đóng cửa). Tới thời gian này, các trường thi chữ nho được bãi bỏ (công cuộc truyền bá chữ quốc ngữ kể như đã thành công vậy). Ông viết báo bằng chữ Pháp, bằng chữ Quốc ngữ (dưới ngót mười bút danh khác nhau), tổng cộng có tới vạn bài - mà cho tới nay con, cháu, chắt vẫn chưa thu thập, sao chép lại được hết, ông dịch thơ, dịch sách... Ông làm việc ngày đêm với một nghị lực phi thường, nuôi sống hai tờ báo và nhà in.

1922 ông Vĩnh được cử đi dự đấu xảo thuộc địa (lần thứ hai) cùng với ông Phạm Quỳnh và Phạm Duy Tốn. Nhân dịp này ông đã đi thăm thủ đô Berlin, quê hương của Guttenberg, người sáng chế ra máy in. Ông nảy ra ý đổi mới nhà in của ông Schneider để lại. Thế là khi về nước ông đã thế chấp nhà in và tài sản để vay tiền Ngân Hàng Đông Dương đầu tư cho công việc đó. Tới năm 1927, cùng với một người Pháp (ông Vayrac) ông lập ra bộ tùng-thư gọi là "Âu Tây tư tưởng" (La Pensée de l'Occident) để xuất bản các tác phẩm dịch chữ Pháp của ông.

1930, năm kinh tế khủng hoảng tại nhiều nước, kinh tế Đông Dương lâm vào tình trạng đình đốn nguy kịch, sách báo không bán được. Ông Vĩnh "nhà báo có tài nhưng lại là nhà chính trị vụng về..." (như Albert Sarraut đã nhận xét) đã vừa đương đầu với "giới tài phiệt thuộc địa", vừa đả kích giới quan lại tham nhũng, vừa hô hào "trực trị". Ông có nhiều kẻ thù và kinh tế khủng hoảng là dịp để họ "hạ" ông. Ngân Hàng Đông Dương đòi ông trả nợ ngay, ông không trả được, nhà in và nhà cửa bị tịch thu bán đấu giá. Ông lâm vào tình trạng phá sản trắng tay. Ông tổ chức lập hội buôn, gom cổ phần ra báo tiếng Pháp "L'Annam Nouveau" (1931). Và trong suốt năm năm, ông đã viết hàng ngàn bài xã luận, phóng sự... Khi Bảo Đại về nước, ông được mời vào Huế làm quan (như ông Phạm Quỳnh) nhưng ông đã từ chối. Ông có viết bài phóng sự "Từ Triều Đình Huế trở về" thẳng thắn nêu ra sự vô ích của một bộ máy cai trị tự nó chẳng có quyền hành gì (nay ta gọi là bù nhìn)... Toàn bộ bài báo này sẽ được giới thiệu ở phần dưới.

Không chịu làm quan cho triều đình Huế, ông Vĩnh còn hai con đường để lựa chọn: vào ngồi Hỏa Lò (nhà tù lớn ở Hà nội) hay đi tìm vàng ở nước láng giềng (Lào). Hồi đó chắc hẳn "tù" bị coi là một cái nhục ghê gớm lắm, dầu chỉ là tù kinh tế, nên ông đã tránh cho gia đình cái tiếng xấu (có người nhà là "một thằng tù") và chọn con đường phiêu lưu đi tìm vàng. Nhiều người thân đã hết lời can ngăn ông, nhưng ông không nghe. Lần đi thứ nhất ông đã lâm bệnh, về Hà nội điều trị mới đỡ ông lại ra đi nữa; lần này ông ngã bệnh nặng và chết đột ngột trên đường về, trên một con thuyền độc mộc thả trên sông Sê-băng-ghi, bản Ban-san-khup (Tchépone, Lào) ngày 01/05/1936. Cùng đi với ông có một người bạn Pháp tên Amédée Clementi, chủ nhiệm báo L'Argus Indochinois và một người lái thuyền. Lúc ông trút hơi thở cuối cùng hai người này không có mặt: họ lên bờ trú mưa... Gia đình đang trong tình trạng cùng quẫn, nên bác sĩ Trần văn Lai đã thu xếp với Hội Tam Điểm (Franc-Maconnerie, một hội kín có từ thời Cách Mạng Pháp, 1789) đưa về Hà-nội và tổ chức đám táng rất trọng thể theo nghi thức của hội này.



Hình đám táng học giả Nguyễn Văn Vĩnh ngày 8 Tháng 5 năm 1936
Ảnh của nguyenvanvinh.net

Điều đáng ghi nhận, điều nổi bật nhât nơi ông Vĩnh là cái trách nhiệm mà ông tự gắn cho mình, và cái quyết tâm sắt đá của ông: Nâng Cao Dân Trí. Theo ông thì việc mà người trí thức phải làm trước tiên là giúp dân tộc mình thoát khỏi "cái dốt". Ông tin rằng khi dân trí đủ cao thì khắc sẽ "trỗi đầu lên được". Và trong suốt 30 năm, từ 1907 tới ngày ông từ giã cõi trần (01-05-1936), ông đã nhẫn nhục theo Pháp - nhưng bất khuất - để thực hiện cuộc Cách Mạng Chữ Quốc Ngữ. Ít người chịu hiểu như vậy, và không ít người đã nghi ngờ ông - gán cho ông là "nghịch lý", thậm chí đã kết tội ông là việt gian, phản quốc!

Để hiểu ông hơn người đọc nên 'tắm mình' trong cái bối cảnh bi đát thời đó, để hiểu được phần nào nỗi khổ tâm của những nhà yêu nước đã phải chịu khuất phục ngoại bang mạnh hơn về mọi mặt, sau khi hiểu rằng dân trí mình lúc đó từ trên chí dưới còn quá thấp!


______________________________________________
© Tác giả giữ bản quyền.
. Đăng ngày 06.10.2010 theo nguyên bản của tác giả từ Sài Gòn.
. TRÍCH ĐĂNG LẠI VUI LÒNG GHI RÕ NGUỒN NEWVIETART.COM .