DARWIN và THUYẾT TIẾN HÓA



Lm. Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT


Lời Đầu 

Loài người được Tạo Hóa tác thành hơn và khác loài vật ở chỗ có lý trí và tự do.
"Tự do là khả năng biểu lộ ý chí, hành động theo ý muốn của mình" (Đại Tự điển tiếng Việt – Hà Nội 1999, trang 1762), đây là quyền căn bản của mỗi người. Có tự do thì cũng có trách nhiệm, nghĩa là sẽ được thưởng hay chịu phạt trước tòa án lương tâm và Đấng Tối Cao, tùy theo lựa chọn đúng hay sai của mình.
Người viết chỉ muốn trình bày sự thật mà mình đã cảm nghiệm, còn quý độc giả đồng tình hay không, hoặc đồng tình một phần nào thì hoàn toàn thuộc quyền tự do của quý vị.

Linh Mục Giuse NGUYỄN HỮU TRIẾT.


Qúy vị đang nghe
6th Symphony 4B.12.3.5
của Beethoven .

NHỮNG SUY NGHĨ VẨN VƠ - Tập 2

 

Năm 2009 đã được UNESCO chọn làm năm Charles Darwin với 2 kỷ niệm : 200 năm sinh (12/02/1809 – 12/02/2009) và 150 năm phát hành cuốn On The Origin of Species (Về nguồn gốc các chủng loại – 24/11/1859), cuốn sách đã gây tranh cãi rất lớn và dai dẳng suốt 150 năm chưa ngã ngũ và trên thực tế đã có ảnh hưởng lớn về nhiều mặt trên toàn thế giới.

Một cuộc hội thảo khoa học về đề tài này do Tòa thánh Vatican bảo trợ đã được tổ chức từ 3 – 07/03/2009 tại Viện Đại học Giáo Hoàng Gregôriô quy tụ nhiều nhà khoa học, thần học và triết học.

Charles Darwin sinh ngày 12/2/1809 tại tỉnh nhỏ Shrewbury phía Tây nước Anh trong một căn nhà có tên là Mount (núi), là đứa con thứ 5 trong 6 anh chị em. Ông nội Eramus Darwin là một bác sỹ đồng thời cũng là một nhà tư tưởng tự do tiếng tăm, bố Darwin là Robert Waring - bác sỹ tâm lý, giàu có đầy quyền lực. Darwin có lối sống khép kín, trầm tĩnh và hướng nội, niềm đam mê duy nhất của ông là thiên nhiên.

Ngày 22/01/1836, ở tuổi 22, với tư cách một nhà tự nhiên học, ông đi chu du 5 năm trên con tầu Beagle, chuyến đi này làm đảo lộn cuộc đời ông. Ông được dịp quan sát, thâu thập, khám phá nhiều điều kỳ diệu về địa chất (núi lửa vùng Nam Mỹ), các hóa thạch nhiều sinh vật đã tuyệt chủng – thực và động vật ở nhiều nơi … Lúc lên tầu Beagle ông vẫn còn tin câu chuyện Sáng Thế trong Thánh Kinh, nhưng khi về đến Luân Đôn, cái nhìn của ông đã hoàn toàn đổi khác. Ông bắt đầu hình thành lý thuyết riêng : Thuyết Tiến Hóa. Ông nhận ra rằng những chủng loại kế cận quan sát được đặc biệt ở đảo Galopagos (vùng Nam Mỹ) giống nhau vì cùng một họ, ông xây dựng một nguyên tắc để giải thích : các chủng loại hoàn toàn không bất biến như người ta thường nghĩ trước đây, mà biến đổi một cách ngẫu nhiên, liên tục, loài nào giỏi thích ứng sẽ tồn tại, loài nào kém thích nghi sẽ tuyệt chủng. Quy luật này gọi là quy luật Chọn lọc Tự nhiên … Darwin đã ghi chép rất tỷ mỷ, thu thập dữ liệu chứng cứ cho bộ sách đồ sộ gồm 4 cuốn : The Voyage of the Beagle ; On the Origin of Species ; The Descent of Men và The Evolution of Emotion in Man and Animal.

Trong 4 cuốn để lại, nổi bật nhất là cuốn On the Origin of Species, trong đó ông trình bày cặn kẽ Thuyết Tiến Hóa qua các dữ kiện quan sát được. Trong cuốn Tự Truyện ông cho biết 4 loài chim Filink của cùng 1 họ chim sẻ ở Nam Mỹ nhưng trải qua những điều kiện sống khác nhau trên đảo Galopagos mà chúng phải thích nghi, chúng đã phát triển các hình dạng khác nhau - "Đây là nguồn gốc của tất cả các ý tưởng của tôi". Các chủng loài kể cả loài người không được tạo ra một lần hoàn chỉnh bất biến như Kinh Thánh đã dạy, mà luôn tiến hóa do nhu cầu sinh tồn đặt ra.

Tóm lại, 2 vấn đề lớn mà Darwin đã đặt ra trong cuốn On the Origin of Species là sự chọn lọc tự nhiên và địa vị con người bằng vai phải lứa với bất cứ loài động vật nào. Vị trí thượng đẳng của con người phải gạt bỏ đi (phần lược tóm bài của Vũ Lưu Xuân trong nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 171, trang 85-88).

Thế nhưng người đi tiên phong, nghiên cứu thảm thực vật và xây dựng Thuyết Tiến Hóa là ông Jean Baptiste de Monet Lamarck, nhà tự nhiên học Pháp (1744-1829). Sau nhiều năm nghiên cứu ông đã xuất bản những sách sau :

. Hệ động vật không xương sống (1801).

. Nghiên cứu tổ chức các loài (1802).

. Triết học động vật học (1809).

. Lịch sử tự nhiên động vật không xương sống (1815-1822).

Ông xây dựng "Học thuyết thực chứng đầu tiên về quá trình tiến hóa sinh học" từ lớp trùng cỏ, sinh vật nguyên thủy xuất hiện, theo ông, qua các thế hệ trực tiếp hoặc tự sinh dần dần hình thành các cơ thể ngày càng phức tạp hơn. hai nguyên nhân chính của quá trình biến hóa này là khuynh hướng tự phát của sinh vật tới sự hoàn thiện và mặt khác là ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài. Sự thích nghi với môi trường, với lối sống, kéo theo sự thay đổi về nhu cầu tạo nên ở con vật những thói quen mới và đến lượt mình những thói quen này lại tạo nên những sự thay đổi trong cơ thể, Lamarck tán thành tính di truyền các tính cách đã có được mặc dù chứng minh không được (Từ điển Tên Riêng Thế Giới, trang 1127).

Trong cuốn "Triết học động vật học" (La Philosophie Zoologique – 1809), Lamarck đã hệ thống hóa các định luật của Thuyết Tiến Hóa như sau :

1. Sự hình thành loài vật : các dạng sống trên mặt đất bắt nguồn từ vật chất thô sơ bằng con đường tự sinh.

2. Động lực phát sinh tiến hóa :

a). Động lực hiếu sinh (le dynamisme de la vie) khuynh hướng mãnh liệt, sâu xa phát triển các bộ phận.

b). Áp lực của hoàn cảnh ngoại lai : đặc tính chủng loại chỉ tương đối, có thể thay đổi để thích nghi với môi trường.

3. Các định luật tiến hóa :

a). Luật thích nghi : Bộ phận nào làm việc nhiều thì tiến hóa, bộ phận nào ít làm việc thì thoái hóa.

b). Luật di truyền các biến dị : Những biến dị chung cả cha lẫn mẹ thì có sự di truyền.

4. Nguồn gốc loài người : Loài người phát xuất từ nguồn gốc sinh vật.

Thuyết Tiến Hóa của Lamarck có ảnh hưởng rất lớn trên nhà tự nhiên học người Anh sau này là ông Charles Darwin (1809 – 1882). Darwin đã tổng hợp và hoàn chỉnh Thuyết Tiến Hóa của mình như sau qua tác phẩm "nổi đình đám" của ông là cuốn On the Origin of Species :

1. Lý thuyết về chủng loại : các sinh vật cùng loại có chung một tổ tiên ban đầu.

2. Có sự biến dị nơi các sinh vật :

a). Biến dị xác định : biến đổi đồng thời cho mọi cá thể cùng một nòi. Ví dụ cây vải ở miền Bắc sai quả, trái lại ở miền Nam không ra quả (do khí hậu và thổ nhưỡng không hợp).

b). Biến dị không xác định : biến đổi không ngừng nơi mỗi sinh vật nhưng không có tính cách đồng loạt.

c). Các biến dị được chia ra : Biến dị di truyền và biến dị không di truyền. Nguyên nhân gây ra sự biến dị là sự thay đổi điều kiện sống và sự lai giống.

3. Sự cạnh tranh sinh tồn :

a). Cạnh tranh với các chủng loại khác.

b). Cạnh tranh trong cùng chủng loại.

c). Cạnh tranh với thế giới vô cơ bất lợi.

Muôn loài muôn vật ngày nay kể cả loài người đều do quá trình tiến hóa và biến hóa hàng triệu triệu năm mà hình thành chứ không do một cuộc Sáng Thế nào cả. Đó là kết luận chung.

Sau khi lược tóm Thuyết Tiến Hóa của hai ông tổ Lamarck và Darwin, tới phần suy nghĩ vẩn vơ của người viết. Nói là vẩn vơ vì người viết không phải là nhà khoa học, không phải là nhà chuyên môn mà chỉ là một con người có trí khôn như những người khác và phần chắc kém cỏi hơn những người khác cho nên những gì gây thắc mắc ở đây chỉ là những suy tư chủ quan mời gọi người đọc cùng suy nghĩ và tự tìm ra giải đáp cho chính mình, cái gì "có lý", "hợp lý" thì chấp nhận, cái gì "vô lý", "không hợp lý", "phi lý" thì loại bỏ tùy theo tự do của mỗi người.

Vấn đề 1 : Về nguồn gốc – "On the Origin of Species".

Giải thích nguồn gốc vũ trụ và muôn loài trong đó là 1 vấn đề lớn, phải giải quyết tận gốc. "Cây có cội, nước có nguồn", tiếng bình dân nói phải "tìm đến tổ chấy" mới thôi – vật này vật kia biến đổi tiến thoái … chỉ mới là cái ngọn, cái gốc của vấn đề là khởi thủy của muôn loài muôn vật trong vũ trụ này, đó là vật chất : chất liệu cơ bản của mọi loài hữu hình, không có vật chất thì cũng chẳng có vật nào tồn tại, lấy đâu ra cơ sở mà biến hóa hay tiến hóa ?

Vật chất theo tôi không dễ định nghĩa một chút nào, ngay cả đối với các nhà khoa học.

Đại Từ Điển tiếng Việt – do nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin - 1999, trang 1804 định nghĩa : "Vật chất là hiện thực khách quan, tồn tại ngoài ý thức và độc lập với ý thức của con người". Từ điển cho một ví dụ : "Vật chất quyết định tinh thần", thú thực với bạn đọc, người viết chưa hiểu rõ câu định nghĩa này.

Còn câu ví dụ : Vật chất quyết định tinh thần – thì người viết cho rằng vật chất ảnh hưởng tới tinh thần dễ chấp nhận hơn là "quyết định". Cây viết "bằng vàng" không thể tạo ra một tác phẩm hay. Trong câu chuyện dân gian Lưu Bình và Dương Lễ, thì Lưu Bình được ăn sung mặc sướng, điều kiện vật chất dư thừa, trong khi Dương Lễ là con ăn người ở, được chủ thương cho học hành chắc là trăm bề thiếu thốn. Thế mà kết quả Dương Lễ đậu, Lưu Bình rớt, đâu có phải vật chất dư giả là đương nhiên học giỏi đâu. Người ta thường nói "cái khó bó cái khôn", đây là ảnh hưởng của vật chất đối với tinh thần, nhưng không phải lúc nào cũng "quyết định", vì người ta cũng nói "cái khó ló cái khôn". Bác Hồ bị giam trong tù thì điều kiện vất chất thiếu thốn đến mức nào thế mà tác phẩm "Ngục Trung Nhật Ký" đã ra đời và đã làm cho Bác trở thành danh nhân văn hóa thế giới. Anh hùng dân tộc Nguyễn Tri Phương bị Pháp bắn trọng thương và bắt đem xuống tầu chiến, họ chiêu đãi sữa bò, xâm banh … nhưng Nguyễn Tri Phương từ chối hết, kể cả thuốc men chữa trị vết thương, ông đã tuyệt thực cho đến chết. Thử hỏi vật chất và tinh thần, cái nào quyết định cái nào ? Nếu chỉ dựa vào phương pháp luyện thú để rồi rút ra kết luận có tính định luật chung cho loài người "vật chất quyết định tinh thần", thì theo tôi điều đó không thuyết phục mà còn có vẻ hạ thấp phẩm giá con người.

Đã gọi là khoa học thì phải thực nghiệm, vậy cứ lấy một đống vật chất không có sự sống, để đó rồi mỗi ngày quan sát xem nó có sinh ra được cái gì là tinh thần không ? Nhà bác học Pasteur đã làm một thí nghiệm : đun sôi diệt hết mầm sống một dung dịch nước thịt trong ống nghiệm chân không, sau đó để nguội và quan sát nhiều tháng nhiều năm và kết luận : "chỉ có vật sống mới sinh ra được vật sống".

Tự điển Le Petit Larousse illustré – Nhà xuất bản Larousse Paris 2002 cho ta câu định nghĩa :

Vật chất : Matière = Substance particulière dont est faite une chose et connaissable par ses propiétés – Vật chất là một bản thể (hiểu nôm na là một chất liệu) riêng biệt nhờ nó mà một sự vật được làm thành và có thể nhận biết được bằng các đặc tính của nó.

Câu định nghĩa có cụ thể hơn câu của Đại Từ Điển Tiếng Việt một chút, nhưng vẫn phải dùng ngôn ngữ triết học mà chúng tôi, những người dân thường chẳng dễ gì hiểu được.

Theo các nhà khoa học, ngày nay vật chất hiện hữu ở 3 thể : thể đặc (rắn), thể lỏng và thể hơi ; và dưới 2 dạng : hợp chất và đơn chất. Đơn vị nhỏ nhất của 1 hợp chất gọi là phân tử, đơn vị nhỏ nhất của 1 đơn chất gọi là nguyên tử. Các hợp chất đều được kết cấu bằng nhiều đơn chất. Hiện nay trong vũ trụ, các nhà khoa học định danh được hơn 100 đơn chất.

Ví dụ : nước là 1 hợp chất gồm 2 đơn chất H và O theo tỷ lệ H2O, nghĩa là khi tổng hợp 2 nguyên tử H với 1 nguyên tử O, ta có 1 phân tử nước : H2O.

Vật chất nếu chỉ gồm những vật cụ thể như cục đá, hòn đất, ly nước, khúc xương, miếng thịt, … thì cũng dễ nắm bắt, nhưng còn có những thứ siêu vật chất, rất khó nắm bắt đối với hàng dân dã như : ánh sáng, điện, từ trường, phóng xạ, X quang … đó cũng là những dạng vật chất – lại còn những thứ vật chất không tồn tại một mình được mà luôn phải dựa vào một vật cụ thể, danh từ triết học gọi là "tùy thể" khác biệt với "bản thể". Ví dụ : không có cái tròn, cái vuông tự tại mà chỉ có cái đĩa tròn, cái bàn vuông … cũng không bao giờ có mầu sắc tự tại : không có cái đen, cái trắng, cái vàng mà chỉ có tóc đen, mây trắng, hoa vàng, lá xanh … rõ ràng màu sắc là vật chất nhưng ta không thể nắm được cái vàng, cái xanh trên tay. Một ví dụ khác, ta cầm hộp quẹt bật lên, ta thấy rõ ngọn lửa, sờ vào thì thấy nóng, đồng thời có ánh sáng tỏa ra xung quanh, nhưng khi tắt quẹt đi thì ngọn lửa đó đi về đâu ? Cục gạch ta đập ra thì còn mớ xà bần, tờ báo ta đốt đi còn lại ít tro … ngọn lửa dập đi, chả còn gì cả ! Lửa là vật chất nhưng không tự tại vì chỉ là "tùy thể", không tự có bản thể mà luôn phải dựa vào 1 bản thể khác để tồn tại : 1 thanh củi cháy, 1 hòn than, 1 tờ giấy cháy, 1 tim đèn cháy, 1 luồng gaz cháy. Điều lạ lùng nữa là 1 đốm lửa nhỏ xíu mà hàng tỷ tỷ ngọn nến có thể châm mà ngọn lửa đầu tiên vẫn không nhỏ lại, không vơi đi, trong khi các vật chất khác chia riết chỉ còn ∑ (epsilon). Làm sao hiểu được tường tận ý niệm vật chất ?

Báo Tuổi Trẻ cuối tuần 15/3/2009, trang 20-21, tác giả Trang Anh (dịch theo Science et vie Junior 12/7) mục 100 kiến thức khoa học cần biết, số (38) : "Không ai biết vũ trũ được tạo ra từ những gì", bên cạnh đó có một hình biếm họa với phụ đề "Tối là năng lượng, đen là vật chất, hừm … mờ mịt là những suy tưởng của ta". Số (39) : số phận của vũ trụ tùy thuộc vào việc nó chứa gì, nói tới "big bang" vụ nổ lớn làm bung ra vũ trụ – Các nhà khoa học dự đoán sẽ có ngày vũ trụ co lại "big crunch" rồi lại có khả năng vũ trụ đông cứng "big chill", tiếp theo đó là vụ rách toạc tất cả vật chất "big rip". Rồi đâu là trung tâm, đâu là biên giới của vũ trụ ? Tầm nhìn của con người với sự hỗ trợ của tất cả thiết bị máy móc hiện đại nhất cũng chỉ giới hạn trong khoảng không gian 13-14 tỷ năm ánh sáng mà thôi, ngoài giới hạn đó là gì nữa ai mà hiểu thấu được ? Những nếu suy cho cùng ta có thể khẳng định không sai lầm rằng căn cội của thế giới này, vũ trụ này là cái chúng ta gọi là vật chất.

Bây giờ bàn tới vấn đề chính yếu của chúng ta và cũng là gốc của Thuyết Tiến Hóa, đó là vấn để nguồn gốc của vật chất.

Vấn đề 2 : Vật chất từ đâu mà có ? Do cái gì biến hóa ra ?

Sẽ chỉ có 2 câu trả lời : 1 của những người duy tâm và 1 của những người duy vật. Những người duy tâm thì dựa vào niềm tin, vào một Thiên Chúa sáng tạo – Ngài là Đấng toàn năng vô hình, vượt trên không gian và thời gian, chính Ngài đã sáng tạo vũ trụ và thế giới như lời Kinh Thánh khẳng định : "Tự ban đầu Thiên Chúa đã tạo dựng nên trời và đất" (sách Sáng Thế đoạn 1 câu 1), trời và đất là kiểu nói tổng quát, có nghĩa là mọi sự, mọi vật, từ hữu hình tới vô hình như kinh Tin Kính mà những người tin Chúa vẫn tuyên xưng mỗi ngày : "Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình". Niềm tin về một Đấng cao cả, chí tôn, tạo dựng mọi loài là niềm tin phổ biến qua mọi thời đại và trên tuyệt đại đa số nhân loại. Đấng ấy tổ tiên người Việt Nam từ ngày xửa ngày xưa cho tới nay vẫn gọi là Ông Trời hoặc Ông Xanh hay Ông Thiên. Bà con ta vẫn thường lập bàn thờ Ông Thiên ngay sân nhà, ngày ngày hoa quả trầm nhang cúng bái, nơi cửa miệng đồng bào ta thường nghe những câu đậm niềm tin "Trời sinh, Trời dưỡng ; Trời sinh voi, Trời sinh cỏ ; Nhờ Trời, ơn Trời ; Trời ban, Trời soi xét" … Trong phim "Đất và Người" được rất nhiều người ái mộ, đánh giá cao, có đoạn ông Hàm (con người tiêu biểu cho tầng lớp phong kiến, gia trưởng, chồng chủ vợ tôi), đã ra lệnh buộc bà Son vợ ông phải làm một điều đại ác, vu cáo dòng họ đối thủ của họ Trịnh – bà Son đã run rẩy khóc lóc thưa với ông "Tôi không thể làm đâu, Trời có mắt …". Sách Châm Ngôn trong Kinh Thánh có câu : "Mắt Chúa Trời ở mọi nơi mọi chỗ, hằng dõi theo kẻ dữ người lành" (Cn 15,3).

Khi gặp những điều bất trắc, người ta vẫn buột miệng kêu "Trời ơi". Ý niệm về một Ông Trời tạo hóa đã được thể hiện trong ca dao tục ngữ, tức văn chương bình dân truyền khẩu, từ xửa từ xưa trước khi dân ta có chữ viết :

"Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầt bát cơm,
Lấy rơm đun bếp …"
"Con chim nó hót trên cành,
Nếu Trời không có thì mình có sao.
Con chim nó hót trên cao,
Nếu Trời không có làm sao có mình".

Đạo Trời từ xưa trên đất nước ta là quốc giáo. Các vua chúa ngày xưa vẫn tế Trời, ngày nay tế đàn Nam Giao ở Huế là một chứng tích cụ thể.

Chỉ đến thế kỷ 18 trở về đây mới nảy sinh một bộ phận nhỏ trong nhân loại, dựa vào tiến bộ khoa học phủ nhận Chúa Trời, phủ nhận công trình Sáng Thế, cho rằng chỉ có chân lý khoa học mới là tuyệt đối, còn Thánh Kinh sai với khoa học là mê tín dị đoan, chân lý đức tin không có cơ sở vững chắc. Bằng chứng họ nêu ra là đoạn Kinh Thánh nói về Sáng Thế trong 7 ngày là vô lý không thể tin được, rồi ngày thứ nhất Chúa dựng nên ánh sáng tới ngày thứ tư Chúa mới dựng nên mặt trời mặt trăng và các tinh tú, như thế là "sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông". Thánh Kinh còn cho rằng mặt trời xoay quanh trái đất nên có vụ thủ lãnh Giosuê chỉ mặt trời bảo nó đứng lại … điều này nhà thiên văn học Galileô đã chứng minh ngược lại và đã phải trả giá đắt khi ông dám bảo "Kinh Thánh sai".

"Ôi khờ dại thay những kẻ không biết và không hiểu Kinh Thánh". Ai cũng biết rằng các môn học đều có đối tượng riêng và có phương pháp riêng – Y học có đối tượng và phương pháp của y học, khảo cổ, sử học, sinh vật học, toán học, văn học … đều có đối tượng và phương pháp riêng, không thể lấy "râu ông mà cắm cằm bà" được. Vậy Thánh Kinh cũng có đối tượng và phương pháp riêng. Thánh Kinh không dạy khoa học nên không thí nghiệm, tính toán như khoa học. Thánh Kinh dạy Tôn giáo, dạy đức tin, dạy luân thường đạo lý, dạy chân lý … Cả đoạn sách Sáng Thế chỉ dạy những nội dung này :

1. Từ trước muôn muôn thuở, trước khi có vũ trụ đã có một Đấng quyền năng vô cùng, Ngài tự hữu, không do ai tạo thành.

2. Mọi loài trong trời đất (vũ trụ) đều do Chúa tạo dựng và không có một loài nào, vật gì dù nhỏ bé đến đâu, hữu hình hay vô hình mà không do Chúa tạo thành.

3. Chính Chúa ấn định việc nghỉ ngày cuối tuần.

4. Loài người có hồn có xác, cao cả hơn mọi loài hữu hình và là hình ảnh của Chúa.

5. Người nữ là bạn đường của người nam, cùng bản tính và đồng địa vị (bình đẳng) với người nam

6. Hôn nhân là do chính Chúa thiết lập.

7. Loài người (nguyên tổ) được Chúa ban ân huệ đặc biệt là tự do, nhưng tự do cũng dẫn tới trách nhiệm, mà vì có tự do, có trách nhiệm nên cần được thử thách. Rất tiếc, ông bà nguyên tổ đã không qua được thử thách này nên đã phạm tội và kéo theo hệ quả tai hại của tội là sự dữ và kết cuộc là cái chết.

Thánh Phaolô đã quả quyết : "Bởi một người mà tội lỗi đã vào thế gian và bởi tội thì có sự chết" (thư Roma đoạn 5 câu 12). Tuy nhiên Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã lên kế hoạch cứu chuộc loài người mà Chúa Giêsu là người thực hiện và hoàn tất việc đó để từ đây "Ai tin vào Người thì sẽ được cứu độ, tức là được sống đời đời" (Tin Mừng Gioan đoạn 3 câu 16).

Toàn thể đoạn văn Sáng Thế chỉ nhằm dạy những chân lý nêu trên, còn lời văn trình bày thì chỉ theo quan sát, kiến thức bình dân thời xa xưa ấy, không theo khoa học. Ví dụ sáng sớm ta thấy hừng đông trước rồi mới thấy mặt trời sau. Do đó tác giả Kinh Thánh kể ngày thứ nhất Thiên Chúa dựng nên ánh sáng, rồi ngày thứ tư mới dựng nên mặt trời mặt trăng và các tinh tú. Nếu 7 điểm nội dung nêu trên là sai thì mới bảo Kinh Thánh sai được, còn cách diễn tả thế này thế kia là quyền của tác giả, không thể so sánh với khoa học mà bảo rằng Kinh Thánh sai.

Trong lãnh vực văn chương, ta vẫn nói buổi sáng mặt trời mọc ở đàng Đông, buổi chiều mặt trời lặn ở đàng Tây – Chẳng đúng khoa học tí nào nhưng văn chương vẫn đúng, vẫn hay. Hoặc người ta dùng những phương pháp tu từ như :

Nhân cách hóa : hoa cười, biển hát, sông nước vỗ tay, …

Ẩn dụ : làn sóng Cách mạng, mũi nhọn xuất khẩu, học sinh này sáng dạ, học sinh kia tối dạ … ai dám bảo sai ?

Hoán dụ : làng này có bao nhiêu nóc nhà ? Nhà này có bao nhiêu khẩu ? Cho mày biết tay tao …

Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn xuân đã có lối vào hay chưa ?
Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn xuân có lối nhưng chưa ai vào.

Phúng dụ : chuyện "Lục súc tranh công", "Chuyện trí khôn ngươi đâu ?" hoặc bài thơ "Hổ nhớ rừng" của Thế Lữ :

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ,
Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa …

Thể tỷ hay kiểu so sánh.

Công cha như núi Thái Sơn,
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Lấy cái vô hình không cân đo đong đếm được sánh với với cái hữu hình là quả núi, là nguồn nước … chẳng khoa học tí nào cả.

Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.

Xét theo khoa học thì thật ngớ ngẩn, có 1 triệu cây chụm lại cũng chẳng thành hòn núi, vì cây là chất mộc, còn núi là chất đá, thế nhưng đây vẫn là chân lý vì câu này chỉ có ý dạy "hợp quần gây sức mạnh".

Những người yêu nhau chẳng thể thiếu được những nụ hôn, một hình thức thể hiện tình cảm, nhưng dưới khuôn thước của ngành y học thì thật là mất vệ sinh và là cơ hội lây nhiễm bệnh nhanh chóng nhất.

Những ví dụ nêu trên chả ai nhân danh khoa học để phản đối, thế mà Thánh Kinh thì người ta chẳng cần tìm hiểu gì cả, cứ nhân danh khoa học mà chối bỏ, như thế liệu có công tâm hay không ?

Nếu đã phủ nhận Thánh Kinh, phủ nhận công trình Sáng Thế thì các nhà khoa học phải giải quyết vấn đề nguồn gốc của vật chất là yếu tố cơ bản của muôn vật muôn loài. Vật chất ban đầu từ đâu mà có ? Tới đây thì các nhà khoa học vào ngõ bí, đành nhắm mắt phán : Vật chất tự nó mà có, vật chất tự hữu, không do ai tạo thành, vật chất hằng hữu, trường tồn.

Chứng minh bằng khoa học ? Thưa không ai chứng minh được, không lấy gì để chứng minh được nên các nhà khoa học cũng phải đi tới điểm cuối cùng là Đức tin – Tin vật chất tự hữu và hằng hữu, bởi không còn lối thoát nào khác nữa trừ ra, là phải tin có Thượng Đế, có Chúa Trời sáng tạo mà thôi.

Kết thúc bằng Đức tin thì lý thuyết tiến hóa mệnh danh là khoa học rõ ràng cũng chẳng khoa học tí nào, vì cái mấu chốt, cái cốt lõi không mang tính khoa học, không theo đường lối khoa học mà duy tâm trăm phần trăm – Đức tin.

Có một mẩu chuyện liên quan tới nhà khoa học Newton. Ông đã thiết kế được một mô hình Thái Dương hệ tuyệt đẹp trong phòng, một hôm ông bạn không tin Sáng Thế tới thăm, khen ngợi hết mình và hỏi ở đâu ra vậy ? Newton mỉm cười trả lời "Tự nhiên nó có đấy !". Ông bạn "Tôi không thể tin được !". Newton nhìn bạn, cười ngất …

Nếu so sánh hai niềm tin : một là tin Đức Chúa Trời tạo thành muôn vật, hai là tin vật chất tạo thành vạn vật, thì đối với tôi, tin Chúa Trời vẫn có lý hơn vì Ngài là một Ngôi vị toàn năng toàn trí, còn vật chất vô hồn, vô ngã, vô sinh, vô quyền lực thì làm sao có thể sắp xếp được công trình kỳ diệu với những định luật (kể cả luật tiến hóa) kỳ diệu như ta thấy ngày nay : Ở đâu có luật thì ở đấy phải có người làm ra luật, luật càng tinh vi kỳ diệu thì người làm ra luật phải cực kỳ thông minh, người ngu đã chẳng làm ra được luật chính xác huống hồ vật chất vô ngã, vô tri, vô giác làm sao tạo ra được luật pháp ? Thế nhưng những người phủ nhận Đấng sáng tạo vẫn cho rằng "không thấy Chúa mà tin có Chúa là mơ hồ". Để trả lời, chúng ta hãy nghe Linh mục Piô Ngô Phúc Hậu ở vùng sâu vùng xa tuốt mũi Cà Mâu, kể chuyện trong "Bài Giảng Chúa Nhật" số tháng 5/2009, trang 97-101 :

"Mình mở lớp giáo lý dành cho người chỉ tầm đạo chứ chưa muốn theo đạo. Bài đầu tiên là "Có Thiên Chúa và Thiên Chúa là Cha của chúng ta". Tay thì vẽ tranh. Miệng thì thuyết minh. Tay và miệng như 2 dòng nước cứ cuồn cuộn chảy. Thính giả cứ trợn mắt mà dòm, cứ vểnh tai mà nghe. Quá đã ! Bỗng có một ông xồn xồn giơ tay chặn họng mình.

- Không thấy Chúa mà tin có Chúa là mơ hồ.

- Rất đúng, nhưng chưa phải là duy nhất đúng.

- Tại sao ?

- Xét về một mặt nào đó, thì câu nói của anh là tuyệt vời. Nhưng xét về mặt khác, thì câu nói ấy chả đúng tí nào.

- Xin Linh mục nói rõ hơn.

- Câu nói của anh là tuyệt vời, vì chúng ta đang sống trong một thế giới đầy sự gian dối. Ông cha chúng ta đã phải thốt lên rằng : "Lưỡi không xương nhiều đường lắc léo". Quả vậy gian dối tràn lan từ vua chúa quan quyền cho đến hàng lê thứ.

- Người làm chính trị nói dối để củng cố địa vị. Tào Tháo là mẫu người tiêu biểu vào hạng nhất.

- Nhà quân sự có thể dùng người đẹp để chuyển trái bom giết người đến cho đối phương.

- Người làm thương mại chú tâm tạo mẫu mã hấp dẫn để thu hút khách hàng hơn là tăng giá trị của phẩm chất. Đó cũng là một cách gian dối.

- Vợ chồng yêu nhau là thế : "Ta với mình tuy hai mà một", vậy mà cũng giấu giếm nhau. Chồng có vợ bé mà cứ thề độc : "Tôi mà có vợ bé thì bà Thủy bắt tôi, xe hủ lô cán tôi …". Vợ xúc lúa một bồ đem bán lấy tiền để ghi số đề, chồng thắc mắc : "Tại sao bồ lúa nhà mình mau vơi thế ?", thì vợ trả lời tỉnh queo : "Biết đâu à".

- Báo chí là tiếng nói đáng tin cậy như thế, vậy mà vẫn bị bia miệng chế giễu : "Nhà báo nói láo ăn tiền".
Sống ở một xã hội đầy gian dối như thế thì ai cả tin là bị lừa ngay. Bởi vậy, khi chưa thấy, thì cứ để đấy, đừng vội tin. Lập trường ấy là khôn ngoan tuyệt vời.
Nhưng xét về mặt khác, thì câu nói của anh chả đúng tí nào.

Không dám đâu. Linh mục phải phân tích cụ thể, thì tôi mới chịu.

Đồng ý. Tôi sẽ nói chuyện khoa học, rồi tôi sẽ dẫn chứng bằng đời sống thực tế.

Khoa học khẳng định rằng : "Vật chất không thể tự hữu". Nếu vậy thì vật chất hiện hữu phải xuất phát từ một siêu vật chất. Siêu vật chất ấy ở ngoài tầm tay của khoa học. Khoa học chỉ làm việc với những gì có thể đong, đo, cân, đếm. Mà những cái "cân - đo - đong - đếm" ấy khoa học đã xác nhận là nó không thể tự hữu. Vậy nếu ta bảo cái siêu vật chất ấy là Chúa thì chẳng có gì là mơ hồ. Khoa học không thể phủ nhận ý kiến ấy, vì nó ở ngoài tầm tay của khoa học.

Chuyện đời thường cho phép ta tin khi ta không thấy.

Anh ngồi ở đây. Tôi thấy. Tôi tin có anh. Nhưng tôi không thấy cha của anh. Dù vậy tôi vẫn có quyền khẳng định rằng anh có cha. Không những thế, tôi còn biết rõ cha anh là đàn ông, mà không cần dựa trên bất cứ tài liệu nào.

Trong phòng lớp này có bàn, ghế, bảng, đèn điện, quạt điện. Ai làm ra những thứ này, thì ta không thấy. Nhưng chẳng ai trong chúng ta dám bảo rằng : "Chẳng có ai làm ra chúng". Nếu có ai đòi thấy tác giả đã rồi mới dám tin, bàn ghế do thợ mộc đóng, đèn điện và quạt điện do thợ nào đó lắp ráp, thì e rằng người ấy không bình thường.

Câu nói lỡ miệng của mình làm cho bầu khi lớp học trở nên căng thẳng, mình vội lái sang chuyện tiếu lâm :

"Khi chưa có siêu âm, cô y tá hộ sản phải dòm cái "ấy" của đứa bé sơ sinh, rồi mới chạy ra hành lang báo tin cho thân nhân của bé đang nôn nóng chờ đợi : "con trai … con gái". Dòm và thấy trong trường hợp này là rất khoa học, rất chính xác.

"Nhưng nếu ông thanh tra giáo dục hỏi thầy cô đứng lớp rằng : tỉ lệ trai gái trong lớp này chênh lệch bao nhiêu, thì thầy cô khỏi cần dòm, khỏi cần thấy cái "ấy" của các em, để trả lời cho ông thanh tra một cách khoa học và chính xác. Thầy cô cứ căn cứ trên Giấy Khai Sinh mà trả lời. Chính anh công an xã khi làm Giấy Khai Sinh, đến mục giới tính, anh cũng chỉ tin cha mẹ của bé, chứ không cần dòm và thấy".

Có rất nhiều trường hợp, không cần thấy mà vẫn tin được. Ông Newton, một nhà toán học vĩ đại đã nói lên điều đó : "Tôi không cần tin có Chúa nữa, vì tôi thấy Ngài quá rõ. Tôi thấy Ngài trong một bông hoa. Tôi thấy Ngài trong một cánh bướm".

Theo suy đoán của tôi, thì 99% những kiến thức ta đang có chồng chất trong đầu là do tin chứ không phải do thấy.

Tất cả quý vị đang ngồi ở đây đều chưa bao giờ ra tới Hà Nội để thấy Hà Nội. Nhưng chúng ta vẫn tin có Hà Nội là thủ đô của nước Việt Nam yêu dấu. Ta tin lời dạy của thầy cô môn Sử – Địa. Mà chính thầy cô của chúng ta cũng chưa bao giờ thấy Hà Nội.

Tám mươi triệu dân Việt Nam hiện đang sống, chưa một ai thấy ông Trần Hưng Đạo chiến thắng trên sông Bạch Đằng, chưa ai thấy vua Quang Trung vẻ vang với trận Đống Đa, nhưng tất cả đều tin và đều hãnh diện về lịch sử của dân tộc mình. Nếu đòi phải thấy mới tin, thì môn Lịch Sử và Địa Lý của thế giới và của các dân tộc sẽ bị xóa sổ trước nhất. Các trường học từ Mẫu giáo Mầm non cho tới các Đại học, Cao đẳng sẽ bị đóng cửa dần dần cho đến hết.

Nếu chỉ thấy rồi mới tin, thì tình nghĩa gia đình cũng phôi pha và tự hủy diệt. Cha mẹ kể chuyện về đời ông cố ông sơ, con cái vặn vẹo : "Cha mẹ đã thấy ông sơ chưa ? … Con không thấy, con không tin".

Trên đời có biết bao ông bà tiến sĩ, kiến thức cồng kềnh. Nhưng kiến thức ấy do thấy hay do tin ? Khỏi trả lời.

Tin có Chúa sáng tạo hay tin vật chất sáng thế, đàng nào dễ hơn ? Điều này hoàn toàn tùy thuộc tự do lựa chọn của mỗi người. Loài người hơn loài vật ở chỗ có trí khôn, có suy luận, biết phải trái … Thế mà không sử dụng trí khôn cho nên, để mình lầm lạc là một điều vô cùng đáng tiếc, đồng thời là một lỗi lầm phải trả giá nữa.

Thánh Gioan trong thơ thứ nhất của người, người đã viết : "Chúng ta biết rằng Con Thiên Chúa đã đến và ban cho chúng ta trí khôn để nhận biết Thiên Chúa thật" (1Ga 5,20).

Bên cạnh vấn đề cơ bản là vật chất, nguồn gốc của tiến hóa, còn nhiều vấn đề khác cũng đồng thời đặt ra và đòi giải quyết cách khoa học.

Vấn đề 2 : Động lực tiến hóa.

Vật chất có sự kết hợp lại với nhau rồi biến hóa từ loài thấp tới loài cao.

Lamarck chủ trương : "Các dạng trên mặt đất bắt nguồn từ vật chất thô sơ bằng con đường tự sinh". Động lực phát sinh tiến hóa là động lực hiếu sinh (le dynamisme de la vie), khuynh hướng mãnh liệt phát triển các bộ phận sẵn có cùng với áp lực của những hoàn cảnh xung quanh.

Darwin thì chủ trương : "Các chủng loại hoàn toàn không bất biến như người ta thường nghĩ trước kia, mà biến đổi một cách ngẫu nhiên, liên tục, loài nào giỏi thích ứng thì tồn tại" theo quy luật "chọn lọc tự nhiên".

Nói gì thì nói, "chọn lọc từ nhiên ; tự sinh, biến đổi ngẫu nhiên …" cũng cần phải có một chuyển động ban đầu. Giống như một tim thai, khi đã được hình thành và phát triển trong tử cung của người mẹ cùng với hệ tuần hoàn và hô hấp hoàn chỉnh, dòng máu của người mẹ vẫn liên tục chảy trong tim và huyết quản của thai nhi qua cuống nhau, nhịp tim của mẹ qua dòng máu nóng đã kích thích tim của con và cũng là động lực để tim thai khởi động bằng nhịp đập đầu tiên, và nhịp đập đầu tiên này là một phép mầu để rồi liên tục co bóp có khi hơn 100 năm mới ngừng nghỉ ! Thách các nhà khoa học chế ra một quả tim bằng chất dẻo rồi bơm đầy máu vào, ngồi chờ xem nhịp đập đầu tiên khởi động ! Chúng ta cứ tưởng tượng một vòng tròn 1 km xếp 300 chiếc xe hơi, đuôi chiếc nọ liền với đầu chiếc kia, chỉ cần 1 chiếc khởi động có thể ảnh hưởng tới 299 chiếc khác, thế nhưng 300 chiếc xe cứ nằm đó, không có ai, không có máy móc remote nào khởi động thử hỏi để 1000 năm, vòng xe có khởi động được không ? Ai cũng có thể trả lời được thắc mắc này. Nếu các nhà khoa học nói "tự sinh" thì sao những chiếc xe kia đã được trang bị đầy đủ bình ácqui, xăng nhớt … sao không thấy tự khởi động ? Còn những chiếc máy bay do thám không người lái thì vẫn có người điều khiển từ xa bằng vô tuyến, có cài đặt lộ trình này nọ cũng phải có người bấm nút khởi động chứ ?

Nếu "cãi cối" rằng đó là định luật tự nhiên, thì xin hỏi ai đã ra luật đó. Hễ có luật thì phải có người làm luật, không ai bảo Hiến pháp Việt Nam tự nhiên mà có. Cái mà chúng ta gọi là luật tự nhiên nó tinh vi vô cùng, kỳ diệu vô cùng, 2 mùa mưa-nắng hoặc 4 mùa xuân-hạ-thu-đông, hài hòa và chính xác, các quỹ đạo của hệ Thái Dương giữa khoảng không lơ lửng ai vẽ nên ? Trên trời hàng tỷ tỷ tinh tú bay với tốc độ hàng 100 ngàn km/giờ mà chuyện tắc nghẽn giao thông không bao giờ có. Chuyện tai nạn chỉ là hy hữu … Trong khi đó, hệ thống giao thông của ta, nào mở đường, nào đèn báo, nào biển báo, nào cảnh sát giao thông … tốc độ thì như "rùa bò" thế mà ách tắc, tai nạn không ai đếm xuể ! Cái ta gọi là "ngẫu nhiên" vẫn phải có một nguyên nhân tác thành. Làm gì có chuyện ngẫu nhiên 2 hòn đá nằm bên nhau ! Hoặc do sét đánh bể làm 2 nằm cạnh nhau, hoặc do lở đất, hoặc do người ta khiêng đặt kế nhau …

Tất cả đều cần ít nhất là một chuyển động khởi đầu, không có là phi lý. Vậy chuyển động khởi đầu đó từ đâu mà có ? Người duy tâm bảo bởi Trời, bởi Thiên Chúa tác động. Còn người duy vật bảo chẳng bởi đâu cả mà tự nó có, tự nó khởi động. Cả hai cũng chỉ tin mà thôi. Bạn chọn phía nào là quyền tự do của bạn, nhưng bạn hãy nhớ rằng tự do luôn kèm theo trách nhiệm đấy, bạn thử ra đường đi tự do xem có gì sẽ xảy ra !

Vấn đề 3 : Luật Thích Nghi.

Các nhà khoa học chủ trương Thuyết Tiến Hóa nêu ra định luật thích nghi hay cạnh tranh sinh tồn được phát biểu như sau : bộ phận nào làm việc nhiều, hoạt động nhiều thì tiến hóa, bộ phận nào ít hoạt động sẽ thoái hóa. Trong việc cạnh tranh sinh tồn mạnh thì sống, yếu thì chết.

Quan sát những hiện tượng xung quanh ta, ta thấy có phần đúng. Một người thuận tay mặt, quen dùng tay mặt nhiều, tay mặt rắn chắc nở nang hơn tay trái một tí. Các lực sĩ đánh box ngày đêm tập luyện nên có vai u bắp thịt. Trong môi trường sống ta chỉ thấy cọp vồ nai, chứ không thấy nai ăn cọp bao giờ. Thế nhưng dường như định luật đó không đúng hoàn toàn mà theo lý thuyết thì một định luật khoa học bao giờ cũng đúng và tuyệt đối đúng : điện giải nước sẽ được H2 và O. Tổng hợp H2 và O sẽ được nước. Nhưng Thuyết Tiến Hóa không hẳn thế. Hổ vồ nai đã bao trăm nghìn năm nay nhưng vẫn không diệt được chủng nai, mà ở một khía cạnh nào đó nai lại cần đàn hổ, báo, sử tử vì nếu không có chúng thì nạn "vật mãn" sẽ xảy ra, kiếm đâu được đồng cỏ cho nai và các bầy đàn khác !

Con người to béo, khỏe mạnh, con virus thì nhỏ bé yếu ớt, phơi nắng cũng đủ chết, nước 700 đã ngỏm rồi – thế mà con người với bao nhiêu "quân quốc" hộ vệ, vẫn bị nó quật ngã. Ngày xưa chưa có vaccin phòng ngừa, mỗi lần xảy ra đại dịch, nhân loại vơi người đi ấy. Vậy thì phải đặt lại ý niệm mạnh, yếu ở điểm nào !

Còn về nguyên lý hoạt động cũng phải xem lại. Ngày xưa người ta cứ cho ruột thừa là kết quả của luật thoái hóa, bộ phận ít hoạt động, teo dần rồi biến mất, nhưng khoa học tiên tiến ngày nay khám phá ra nó có chức năng đàng hoàng, chẳng "thừa" chút nào cả ; Đôi tai chẳng nhúc nhích gì cả mà cũng không bị teo đi tóp lại hay rụng mất ! Còn về mặt phát triển chúng ta cứ quan sát bộ óc và trái tim con người, 2 bộ phận hoạt động mạnh nhất, liên tục từ bào thai cho tới khi lìa đời, có người cả hơn 1 thế kỷ, nhưng có vì hoạt động nhiều thế mà bộ óc người ta phát triển bằng bộ óc bò đâu ? Quả tim đập dữ vậy tính ra với kích thước bằng nắm tay, tim có thể ví như cái bơm không biết mệt mỏi, mỗi ngày nó bơm đến 7570 lít máu, đi qua 96.560 km mạch máu (không biết có in lầm từ 96.560m ?). Tim co bóp 60-100 lần mỗi phút (báo Tuổi Trẻ cuối tuần ngày 16/11/2008, trang 20), thế tại sao từ khi có con người tới nay tim không nở ra bằng quả bưởi hay quả dừa ? Trái lại lớn tim, lớn gan là có chuyện đấy, có thể "ngỏm" như chơi. Ở loài hươu cao cổ, chuyện biến hóa có vẻ "thừa", cỏ non ở mặt đất bạt ngàn hà cớ gì phải ăn mấy cành lá trên cao để rồi cái cổ dài ngoằng ra, cúi xuống hơi bị khó. Trong khi mấy chú dê lại khoái leo cao, cứ rướn cổ đứng trên 2 chân sau mà ăn lá cây, sao không thấy cổ dê dài ra cho thích hợp ! Chuyện cũng lạ đấy.

Vấn đề 4 : Biến hóa giữa các chủng loài.

Chính Darwin giải thích : các chủng loài hoàn toàn không bất biến như người ta thường nghĩ trước kia, mà biến đổi một cách ngẫu nhiên liên tục, loài nào giỏi thích ứng sẽ tồn tại theo quy luật chọn lọc tự nhiên. Tóm lại các loài không cố định, loài này có thể biến qua loài kia để thích nghi với điều kiện sống.

Báo Tuổi Trẻ cuối tuần (09/11/2008, trang 20) trình bày qua bài "Tiến hóa – một câu chuyện dài …", tác giả Trang Anh cho biết kết quả nghiên cứu của Darwin :

a. Cách đây nhiều triệu năm các đảo Galopagos là loại hình núi lửa trồi lên từ đại dương, thoạt tiên là dung nham, sau đó cỏ cây, côn trùng động vật bắt đầu đến theo sự đưa đẩy của gió và sóng biển. Trong số này có 1 loài chim nhỏ đến từ Nam Mỹ khoảng 500.000 đến 1 triệu năm trước.

b. Ở một trong các hòn đảo, có hạt lớn rơi từ cây xuống, loài chim trên dùng làm nguồn thức ăn, chúng sinh sản nhiều đến nỗi xảy ra cạnh tranh … vào mùa khô.

c. Để có cái ăn cần phải đập vỡ vỏ các hạt lớn … chính vì vậy trải qua nhiều đời, mỏ của chim Geospiza magnirostris trở nên to hơn so với tổ tiên chúng. Tất cả từ 1 sự đột biến ngẫu nhiên.

d. Theo Darwin, cái mỏ to lớn rất thuận lợi để đập vỡ các hạt làm thức ăn bảo tồn sự sống, theo thời gian chúng trở nên khác biệt đến mức không thể giao phối với loài cùng họ mỏ nhỏ nữa mà trở thành 1 loài riêng.

e. Trên 1 hòn đảo khác, nơi đây xương rồng ngự trị, 1 loài chim khác đã được hình thành do đột biến và tiến hóa, mỏ của nó dài hơn cho phép nó rỉa trái và hạt phấn của hoa xương rồng.

Nhận định : Thay đổi đôi chút, biến hóa đôi chút để thích nghi với môi trường sống là chuyện có thật như Darwin đã quan sát và ghi nhận, nhưng sự thay đổi này chỉ xảy ra ở những gì là phụ thuộc, còn cái chính yếu, tức là bản tính của 1 loài, 1 họ thì không thể nào thay đổi đến độ biến sang loài khác, bằng chứng là hàng ngày hàng giờ mọi loài đều phải thích nghi để tồn tại. Công việc này đã diễn ra liên tục từ khi tạo thành trời đất, thế mà cho tới nay chúng ta không thấy vật trung gian. Ví dụ loài khoáng vật, đất đá biến ra loài thực vật thì phải trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn thêm ra 1 tý, cục đá có rễ rồi có cành, có lá rồi mới ra cây được, từ xưa tới nay chưa hề ai thấy 1 cục đá có rễ cả ! Rồi loài thực vật biến ra động vật cũng vậy : phải có cây biết di chuyển, cây mọc lông, mọc cánh … còn nếu loài cầm biến ra loài thú thì phải gà 2 chân + 1/tỷ chân thứ 3, rồi 2/tỷ tiến tới gà 3 chân không hoàn chỉnh, rồi 3 chân hoàn chỉnh, rồi 3 chân cộng với 1/tỷ chân thứ 4 … đó là những vật trung gian. Thực tế không bao giờ có. Không tìm thấy hình ảnh "thật" của đám học trò, thầy Cao Bá Quát "nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi".

"Chính Darwin cũng phải thú nhận chưa tìm được những mẫu hóa thạch đánh dấu các giai đoạn chuyển tiếp của sinh vật trong quá trình tiến hóa để củng cố cho cơ sở lý thuyết, vì thế cho dù chủ trương tiến hóa theo luật kế thừa và tác động của chọn lọc tự nhiên, nhưng thuyết Darwin không cho biết sự biến đổi đến từ đâu và tính kế thừa diễn ra như thế nào" (Nguyệt san CGvDT số 171, trang 93).

Đã gọi là định luật khoa học thì phải có thực nghiệm, có bằng chứng cụ thể thật phổ biến, đâu đâu cũng có. Còn nếu chỉ quan sát một vài hiện tượng, không chứng nghiệm được mà đã ra định luật thì đó là áp đặt, võ đoán mà thôi, thiếu tính khoa học.

Nếu do phải mổ hạt cứng mà loài chim Filink ở đảo Galopagos đã cần biến dạng mỏ cho to ra, cứng hơn biến thành 1 loài khác với chim cùng họ với mình thì tại sao con chim gõ kiến, ngày ngày phải mổ, đục thân cây gỗ cứng, chúng còn đáng sợ hơn khi sân bay vũ trụ ở Florida có lần đã cảnh báo và xua đuổi đàn chim gõ kiến vì sợ chúng chọc thủng cả vỏ phi thuyền, thế thì tại sao mỏ của chúng vẫn dài nhọn, cân xứng với thân hình nó chứ không to đùng ra như chiếc búa nhọn ? Con voi với thân hình "bồ tượng", mỗi ngày ăn cả trăm kilôgam cỏ, lá … chỉ 1 cái vòi làm việc liên tục, sao không thấy phát triển to hơn, dài hơn để lượm được nhiều cỏ hơn ? Loài rắn, loài lươn di chuyển thường xuyên như vậy sao không thấy mọc chân ra, trong khi con rít nhỏ tý, loài cuốn chiếu, di chuyển chậm mà có hàng trăm chân ?

Vấn đề 5 : Việc sinh sản, nối dõi nòi giống.

Căn cứ vào Thuyết Tiến Hóa, thì vấn đề tăng "dân số" chủ yếu do biến hóa : loài này biến ra loài kia, loài đơn giản biến ra loài phức tạp, vật chất vô cơ biến ra loài hữu cơ, thảo mộc biến ra cầm thú, cầm thú biến ra người – Thực tế điều mọi người trên thế gian có thể thấy và kiểm nghiệm được, đó là quá trình thụ tinh và sinh sản, loài nào sinh ra loài nấy, chó đẻ ra chó, heo đẻ ra heo.
Ông cha chúng ta từ xửa từ xưa đã nói : "Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu" (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu), chẳng ai chăn nuôi, trồng trọt mà lại ngồi không chờ vạn vật biến hóa ra cho mình. Không ai có thể chấp nhận được biến hóa kiểu đó dù chỉ là một người bình dân ít học.

Vấn đề 6 : Vấn đề sự sống – Món quà kỳ diệu không thể hiểu được nơi các sinh vật trên trái đất này.

Đây cũng là vấn đề gai góc đặt ra cho Thuyết Tiến Hóa. Đối với vũ trụ vô biên thì trái đất chỉ hạt cát, lại còn sinh sau đẻ muộn nữa. Thế mà trái đất được ban tặng sự sống, còn tất cả các tinh tú trong vũ trụ cho tới ngày nay, với khoa học hiện đại, các nhà khoa học tiên tiến nhất vẫn chạy đua đi tìm sự sống ngoài trái đất nhưng chưa thấy. Gần đây các nhà khoa học đã dùng máy móc thăm dò, đào bới Mặt Trăng và sao Hỏa, cũng có vài thông tin là đã tìm thấy nước (dấu hiệu của sự sống), nhưng rồi những tin đó cũng bay vào quên lãng như "lông vịt" bay trong gió, hô hoán lên cho vui vậy !

Cách đây gần 50 năm, cơ quan NASA đã phóng lên 1 vệ tinh thăm dò có máy phát hình người của trái đất (và 1 số đồ dùng thông thường nữa thì phải), đồng thời có máy thu và phát các tín hiệu tiếng kêu, tiếng nói, tiếng chào của nhiều dân tộc … hy vọng sẽ nhận được tín hiệu phản hồi của những sinh vật ngoài trái đất … Vệ tinh đã bay ra ngoài Thái Dương hệ và hiện đang phiêu lưu trong vũ trụ, nhưng vẫn "bặt vô âm tín".

Sự sống trên trái đất là một phép mầu, suy nghĩ một chút ai cũng có thể đặt vấn đề, nếu tiến hóa là luật chung bất di bất dịch của vũ trụ, thì tại làm sao hàng tỷ tỷ tinh tú, to hơn trái đất cả vạn lần, xưa hơn trái đất cả vạn lần, lại không có những dạng sự sống như trái đất này ? Nếu cùng điều kiện vật chất ban đầu như nhau (cảnh hồng hoang vũ trụ), mà chỉ có trái đất có tiến hóa thì làm sao thành quy luật chung được ? Lý thuyết tiến hóa làm sao có cơ sở vững vàng được ? Nếu ai đó "cãi cối" cho rằng chuyện ngẫu nhiên, đột biến chỉ xảy ra 1 lần rơi nhằm trúng trái đất này thì xin hãy chứng minh cái "ngẫu nhiên", cái "đột biến" đó đi.

Trở lại vấn đề sự sống trên mặt đất này, chúng ta thấy có 3 cấp bậc : Sự sống thực vật (sinh hồn) - Sự sống động vật (giác hồn) - Sự sống loài người (linh hồn). Các dạng sống ấy được sắp đặt từ thấp lên cao, càng cao càng phức tạp và tinh túy hơn, cây cối không bao giờ có cảm giác, cầm thú không bao giờ có tư tưởng, lý trí, ý chí, tự do …

Theo luật tiến hóa vật chất vô cơ vô năng tiến hóa ra loài hữu cơ dạng thực vật, thực vật vô cảm tiến hóa ra côn trùng, cầm thú hữu cảm, cầm thú tiến hóa ra con người, có tất cả các dạng sống cấp dưới cộng thêm thượng tầng tinh thần là tư tưởng, tình cảm, lý trí, ý chí, tự do … ta gọi là linh hồn. Quá trình tiến hóa này (theo Thuyết Tiến Hóa), hoàn toàn trái ngược với đời sống thực tế. Chẳng ai thấy những vật trung gian tiến hóa bao giờ, chỉ thấy quá trình ngược lại, con người, cầm thú, cỏ cây chết đi phân hủy, trở về cát bụi mà thôi.

Quá trình tiến hóa còn trái ngược với chân lý ngàn đời của cuộc sống. Chân lý đó được phát biểu bằng câu ngạn ngữ La-tinh : "Nemo dat quod non habet" (không ai có thể cho người khác cái mà mình không có). Bạn có 5.000$, bạn chỉ có thể cho người khác tối đa là 5.000$, không thể cho thêm 1 xu nào nữa ! Đây là nguyên tắc muôn ngàn đời vẫn đúng. Áp dụng vào quá trình tiến hóa vật chất vô cơ vô năng (không có sự sống) lấy đâu ra chất sống để hóa thân thành thực vật, đến lượt thực vật không có cảm giác, lấy đâu ra cảm giác mà hóa thân thành cầm thú, cầm thú không có linh hồn, lấy đâu ra linh hồn để hóa kiếp làm người. Đây mới nói tới điểm mấu chốt nhất là sinh hồn, giác hồn và linh hồn, còn muôn vàn bộ phận khác cấp dưới không có, lấy đâu mà cho cấp trên : cây cối lấy đâu ra máu, thịt, tay chân, phèo phổi mà hóa ra cầm thú ? Con vượn, con khỉ lấy đâu ra linh hồn để hóa kiếp thành người ? Nói về nguồn gốc của cả xác cả hồn con người, thi sỹ Huy Cận trong tập thơ Lửa Thiêng (NXB. Đời Nay – 1940) có bài Thân Thể :

"Hỡi Thượng Đế !
Người nhìn xem,
Người đã cho thân thể
bình thịt xương
để đựng chứa Linh Hồn".

Có một điều nhỏ bé thôi, nhưng tôi vẫn tin là phép mầu, đó là việc con người cho tới nay dù đã cố gắng thực hành hàng trăm năm mà vẫn thất bại, đó là dạy cho loài linh trưởng tiếng nói của con người, dù phần thể xác người với khỉ giống nhau tới 90% và nhiều người vẫn tin và quả quyết "người bởi khỉ mà ra".

Không lẽ khỉ, vượn, vượn người lại ngu hơn con vẹt, con sáo là loài rất xa loài người, nhưng được dạy, chúng bắt chước được tiếng loài người.

Vấn đề 7 : cũng là vấn đề cuối cùng mà người viết vẩn vơ suy nghĩ, đó là : Đã là luật tiến hóa thì phải xảy ra liên tục và tiến mãi, tại sao lại dừng ở con người không biến ra siêu người nữa ? Tương lai con người sẽ về đâu ? Liệu có mọc thêm 3 đầu 6 tay không ?

Điều đáng nói là ngày nay mọi bộ môn khoa học đều đòi hỏi độ chính xác tuyệt đối như toán học, vật lý, hóa học, … thế mà các trường học lại dạy về Thuyết Tiến Hóa với những định luật của nó như là chân lý khoa học, trong khi thực chất, theo người viết đã trình bày, đây cũng chỉ là một giả thuyết, chưa có tính khoa học thực thụ, còn nhiều "lỗ hổng" mà ngay chính các tác giả Thuyết Tiến Hóa cũng không "lấp" được, đành phải "tin" thôi. Lẽ ra vấn đề giáo dục phải tôn trọng quyền tự do lý trí của con người, không được áp đặt một chiều. Lẽ ra phải xác định từ đầu đây cũng chỉ là một giả thuyết mà thôi, đồng thời cũng phải trình bày Thuyết Sáng Thế như là lý thuyết tâm linh mà đại đa số nhân loại từ ngàn xưa tới thế kỷ 19 vẫn tin nhận.

Các nhà khoa học vĩ đại như Newton, Pasteur, A. Einstein và tuyệt đại đa số các nhà khoa học Âu Mỹ khác từ thế kỷ 19 trở về trước vẫn tin Thuyết Sáng Thế, "và ngay cả Darwin khi đặt chân lên tàu Beagle vẫn còn tin câu chuyện sáng thế trong Thánh Kinh, sau 5 năm tìm hiểu ở đảo Galopagos trở về Luân Đôn năm 1837, cách nhìn của ông mới thay đổi" (Nguyệt san CGvDT số 171, trang 86).

Tại Pháp từ đầu năm 2000 đã xuất hiện những bài thi tú tài (có chương trình tiến hóa) với câu trả lời như sau : "Tôi trả lời theo sách giáo khoa nhưng tôi vẫn không tin".

"Một giáo viên khoa học về đời sống và trái đất, có mạng cá nhân - trên đó ông bảo vệ Thuyết Sáng Thế với tư cách một giáo sư tiến sỹ" (Sđđ trang 90).

Thế giới ngày nay có 6 tỷ người, thì ít nhất cũng có 1,5 tỷ người Hồi giáo tin Sáng Thế ; Khoảng hơn 2 tỷ người Kitô giáo (gồm Công giáo, Tin lành, Anh giáo, Chính Thống …) vẫn tin Sáng Thế ; Khoảng 2 tỷ những người ngoài Kitô giáo và Hồi giáo vẫn tin Trời, tin Giàng … họ cũng không chấp nhận "sỏi đá biến ra cây cối – cây cối biến ra cầm thú và cầm thú biến ra người". Những người thờ Ông Bà không bao giờ thờ khỉ như tổ tiên mình cả. Đây là thực tế cuộc sống, không ai chối cãi được.

Trong xã hội tự do và văn minh, Thuyết Tiến Hóa của Darwin cũng chỉ là một trong hằng hà sa số các thuyết nhằm cùng một mục đích là để phủ nhận Đấng Tạo Hóa toàn năng hằng hữu.

Cách đây 4 năm, 100 nhà vật lý đã từng đoạt giải Nobel, tiêu biểu là Alexei A. Abrikosov, Masatoshi Hoshiba, Riccardo Giacconi, Wolfgang Ketterle, Carl E. Wieman, Jack S. Kilby, Martinus J.G. Veltman, Robert B. Laughlin, Horst L. Stomer, Dniel C. Tsui, Steven Chu, Claude Cohen Tannoudji, William D. Philips, … đã lên tiếng trong Hội Nghị Khoa Học tại Helsinki, thủ đô Phần Lan, tổ chức ngày 12/08/2005, đồng thanh tuyên bố : "Thuyết Tiến Hóa không có cơ sở khoa học, vì dựa trên quá nhiều định đề, và càng ngày, với đà tiến triển của khoa học, càng được chứng tỏ là sai lầm".

Tuy nhiên, tại một số nước, Thuyết Tiến Hóa của Darwin được trình bày như là thuyết duy nhất có tính chung cuộc và đầy đủ lý luận khoa học nhằm bài bác niềm tin tôn giáo.

Nhưng chính ông Darwin, một người tín hữu theo đạo Thiên Chúa, trong tác phẩm của ông, tựa đề On the Origin of Species trang 62, ông đã phàn nàn vì người ta khi sử dụng tác phẩm của ông vì mục đích riêng của mình đã xén bớt những lời xác tín của ông rằng : "Chỉ có Thiên Chúa mới ban cho thụ tạo có hồn, tức có sự sống, nhất là con người có lý trí".

Để kết thúc

Nhà bác học Albert Einstein nói : "Tôn giáo của tôi là sự hạ mình chiêm ngưỡng Đấng vốn Thần Linh, tối cao, vô hạn, đã tự bày tỏ chính Ngài trong những phần tử vô cùng nhỏ bé trong vũ trụ, để cho chúng ta, bằng tư duy thiển cận tầm thường của mình, cũng nhận biết được Ngài. Chính sự hiểu biết về những quy luật tuyệt vời của vũ trụ vĩ đại và kỳ diệu, đã đem đến cho tôi niềm tin sâu sắc về sự hiện diện của một Đấng quyền năng tối thượng đã sáng tạo nên vũ trụ, cái mà con người không thể nào lãnh hội được bằng lý trí của mình. Đấng đó chính là Đức Chúa Trời của tôi" (Barnett Lincoin : The Universe and Dr. Einstein, p.95). Ông cũng tuyên bố : "Tôi sẽ đi Nhà thờ, lấy những lời dạy của Chúa Giêsu làm tín điều của mình" (Knight Treasure of Illustration p.217).

Lời Tâm Niệm (*) 

Lạy Đấng thiêng liêng tối cao,

Lạy Đấng Tạo Hóa,

Lạy Đấng Tuyệt Đối,

Lạy Thượng Đế,

Lạy Ông Trời,

Chúng con đây là những thụ tạo đứng trên muôn vật trong vũ trụ. Chúng con đã được Ngài tạo dựng nên giống hình ảnh của Ngài là Thiên Chúa, vì chúng con có trí nhớ, có trí tuệ, có ý muốn, có tự do.

Chúng con luôn thao thức trước những vấn đề : 

1. Bởi đâu có vũ trụ này ?

2. Bởi đâu có bản thân chúng con ?

3. Đâu là mục đích của cuộc đời ?

4. Chết rồi sẽ đi về đâu ?

5. Làm điều thiện, ai sẽ thưởng công cho ?

6. Làm điều ác, ai sẽ phạt tội ?

7. Ai sẽ thỏa mãn khát vọng hạnh phúc tuyệt đối của chúng con ?

Chúng con muốn đi tìm chân lý, tìm ý nghĩa đích thực cho cuộc đời. Xin Ngài soi trí mở lòng cho chúng con, để chúng con được tìm thấy Ngài, và được niềm vui gọi Ngài là Cha, như hơn 2 tỷ Kitô hữu trên thế giới - Amen. 

"Tiến hóa bách ngũ thập niên,
Cãi tranh bùng nổ như điên như rồ.
Thêm vài suy nghĩ vẩn vơ,
Nhận hay không nhận, tự do mỗi người".

Ghi Chú : (*) Lời của Tiến sĩ Phan Như Ngọc

____________________________________________________

Tân Bình, ngày 09/06/2009


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Tân Sa Châu SàiGòn ngày 04.10.2010.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.