TÀI HOA MỆNH BẠC:

VINCENT VAN GOGH

(1853-1890)










    (Kiến Thức Hội Họa)


 

Kỳ 2.

XI
(7/1880 – 12/1881)
(Bruxelles & Etten)

1.

Mùa hè năm 1880, nhận thức rằng không thể làm gì  được hơn cho kẻ khác, Van Gogh bất thần trở  về nhà cha mẹ ở Etten như chẳng hề có gì xảy ra trước đó.

Trong gia đình, ông tỏ ra câm lặng hẳn. Và rồi sau một thời gian ngắn, ông lại tìm về vùng hầm mỏ, lang thang trên những con đường nhỏ với đôi bàn chân rướm máu, ngủ ngoài trời, ăn bánh mì vụn mà sống. Lúc này, sự tuyệt vọng trong lòng Van Gogh đã lên đến cao độ.

Thế  rồi, đột nhiên ông muốn trở thành họa sĩ nên đã dành tất cả thì giờ vào việc vẽ tranh. Trong một thư gửi Théo lúc ấy đang làm việc tại công ty Goupil & Cie ở Paris, Van Gogh viết rằng “chỉ muốn chui ra khỏi cái nhà giam tối tăm buồn thảm này.” Tuy không bao giờ mơ đến những tác phẩm lớn, nhưng thế giới của những họa sĩ vẫn là nơi chốn thần tiên đối với kẻ vô gia cư ở Borinage như ông.

Một ngày kia, Van Gogh bất thần đi chân không đến tỉnh Courrières (thuộc vùng Pas-de-Calais, miền bắc nước Pháp, sát biên giới Bỉ) để làm quen với Jules Breton, họa sĩ và cũng là nhà văn Pháp mà từ lâu rồi ông rất ngưỡng mộ.

Từ  lâu ông vẫn ao ước giao thiệp với các nghệ  sĩ vì tin rằng, sau Thượng Đế, nghệ sĩ là những người có khả năng làm đẹp cuộc đời hơn tất cả. Ông bèn đi bộ suốt nhiều ngày, ban đêm ngủ lại giữa trời, đổi các bức vẽ bằng than hay bút chì để nhận lấy bánh mì từ các người nông dân làm vật lót dạ. Và ông cảm nghe sảng khoái vì không khí nước Pháp, sáng sủa trong sáng hẳn so với vùng Borinage tối tăm buồn thảm.

Tuy nhiên khi đến Courrières, đứng trước xưởng vẽ đồ sộ của Breton, Van Gogh nhận ra nó khác hẳn cái ý tưởng khiêm nhường mà những bức tranh Breton đã gợi lên trong trí não ông từ trước. Ông chẳng dám rung chuông và lại đi bộ trở về Borinage.

Mùa thu 1880, với sự trợ giúp tài chánh của gia đình và Théo, Van Gogh dời đến Bruxelles để học hỏi về hội họa. Nơi đây, ông được dịp làm quen với họa sĩ người Đức thuộc hàng quý tộc, Anton D.A. Ridder van Rappart và được cho vẽ chung trong phòng vẽ của ông này. Tình bạn của họ kéo dài trong 5 năm. Rappard đã hướng dẫn Van Gogh tìm hiểu --qua các tạp chí-- về cách chạm trỗ với hai màu đen trắng trên các bản khắc bằng gỗ.

Những họa sĩ như Fildes, Frank Holl và Hubert Herkomer --mà từ trước Van Gogh đã từng được nhìn thấy những tác phẩm mô tả cảnh nghèo khó ở đô thị của họ-- trở nên những người hướng dẫn mới cho ông. Ước vọng đầu tiên trên con đường hội họa bị đong đưa giữa nỗi muốn trở thành “họa sĩ theo cái cách của ông dượng Anton Mauve” với một “họa sĩ chuyên trình bày các bản vẽ cho các tờ tạp chí.”

Dù  rằng vẫn chăm chú theo từng bước chỉ dẫn trong những quyển sách dạy về hội họa mà Théo  đã gửi, nhưng khi đến các phần tỷ lệ cân xứng về chân tay con người; hoặc độ đậm nhạt của đường nét; hay nghệ thuật tạo mô hình, thì Van Gogh lại bị ảnh hưởng rõ ràng của lối vẽ Mauve và bởi sự tương phản mạnh mẽ trắng đen trong các bức minh họa mà ông rất ngưỡng mộ.    

Ông vẫn làm việc không dứt trên các bức họa và tìm thấy sự giải thoát cho đầu óc trước những khó khăn của cuộc sống. Nhưng những món phí tổn ở Bruxelles thì cao quá.

Tháng 4/1881, Van Gogh dọn trở về  nhà cha mẹ lần nữa và  lưu lại đó 8 tháng. Lúc bấy giờ  ông đã 28 tuổi. 

2.

Kể  từ sau lời từ chối tình yêu của Ursula Loyer, trong 5 năm đắm chìm theo nỗi say mê tôn giáo, Van Gogh không còn nghĩ gì đến chuyện trai gái. Nhưng kể từ khi chấp nhận vai trò nghệ sĩ, ông mới lại tìm thấy sự hứng thú trong tình cảm với đàn bà.

Tháng 4/1881, sau 6 tháng học tập về hội họa ở Bruxelles, Van Gogh trở lại nhà cha mẹ ở Etten. Tại đây, ông gặp cô Kee Vos, con gái ông chú Stricker, vừa mới trở thành góa phụ, lớn tuổi hơn Van Gogh. Cô này cùng với đứa con trai nhỏ đến thăm và lưu lại một thời gian ngắn trong nhà cha mẹ Van Gogh. Toàn thể gia đình ông Théodorus rất lúng túng khi khám phá ra sự đeo đuổi một cách quyết liệt của con trai đối với người đàn bà đang đau khổ bằng một tình yêu không đúng đắn, bất chấp luật lệ gia đình và tôn giáo. Lại nữa, người góa phụ tỏ ra không thích Van Gogh và luôn luôn bấu víu vào kỷ niệm người chồng đã chết. Cô bỏ trở về Amsterdam, lưu lại một nỗi buồn sâu đậm trong tâm hồn họa sĩ.

Đây là lần thứ hai Van Gogh thất vọng vì tình, nhưng lần này tàn bạo hơn lần trước. Ông tỏ ra cực kỳ đau khổ. Đồng thời bản chất nghệ sĩ trong người đột nhiên sống dậy. Van Gogh chụp bắt nỗi thống khổ bằng đôi tay sáng tạo, đắm mình vào các bức tranh để vùi chôn đau khổ và tìm quên trong nghệ thuật. Ông vẽ mọi thứ, vẽ cánh đồng Etten, những túp lều nhỏ trong làng, vẽ những cửa hàng đóng móng ngựa, các người thợ đóng giày... Với đường nét giản dị, cây bút chì thợ mộc trong tay đã trải dài tâm tư họa sĩ qua các bức vẽ. Rõ ràng những tác phẩm thời kỳ này phô bày được tất cả những điều Van Gogh khó thể diễn tả bằng lời nói bình thường.

Khi kiếm đủ tiền lộ phí đi Amsterdam thăm cô  em họ, Van Gogh mới cảm nghe phấn chấn chút ít. Tuy nhiên, người chú –cha cô Kee—ngăn cấm không cho Van Gogh gặp con gái ông. Van Gogh đáp trả ông bằng những lời nói kịch liệt. Người chú mất hẳn cả thái độ nghiêm trang của một vị mục sư, bảo thẳng rằng con gái ông không hề nghĩ ngợi chút nào tới Van Gogh. Van Gogh bèn giơ một cánh tay ra trên ngọn nến đang cháy và cầu xin ông chú: “Xin hãy cho con gặp nàng chỉ trong khoảnh khắc con còn có thể để cánh tay này trên ngọn lửa.”

Người chú cảm động, thổi tắt ngọn nến và cho phép Van Gogh gặp cô em họ.

Tháng 12/1881, Van Gogh từ Etten đi đến La Haye (Hòa Lan) và lưu lại đây hai năm. 


XII
(1881 – 1883)
(La Haye, Hòa Lan)

1.

Thời kỳ hai năm (1881-1883) ở La Haye đã đánh dấu một sự chuyển hướng lớn cho Van Gogh. Có thể nói rằng ông đang đi đúng đường nghệ thuật và một năng lực đặc biệt đã thấy xuất hiện.

Từ  tháng 11/1881 đến tháng 3/1882, dưới sự chỉ dẫn và giúp đỡ --cho dùng chung xưởng vẽ-- của Anton Mauve, những bức sơn dầu đầu tiên đã thấy hoàn toàn mới lạ. Ví dụ như bức “Cô Gái Dưới Những Cành Cây” (cuối hè 1882, 39x59cm) đưa ra rõ ràng sự nhận thức theo đúng kiểu mẫu kỹ thuật hoặc chủ đề của Mauve. Giống như vài họa sĩ phái La Haye, (trong số gồm có Mauve và Weissenbruch), Van Gogh đã sử dụng từ màu đậm qua màu nhạt, làm nổi bật sắc sảo các vỏ cây, lá cây hoặc cành cây trong bức tranh.

Thời gian này, ông cũng có dịp giao thiệp với nhiều họa sĩ, cũng như với H.C. Tersteeg lúc ấy đang là giám đốc chi nhánh Goupil & Cie ở La Haye. Nhưng do bởi cá tính ưa thẳng thắn phê bình những điều trái tai gai mắt mà tình cảm giữa ông và đám họ sớm đi đến tan vỡ. Điều này cũng xảy ra với Anton Mauve, con người thường sầu não nên khó lòng chịu đựng lâu sự hay cáu giận của Van Gogh. Cuối cùng, hai người nghệ sĩ đâm ra bất hòa.  

[Luôn luôn Van Gogh vẫn không quên điều rằng chính Mauve đã đóng một vai trò quan trọng trong sự giúp  đỡ ông trở nên một họa sĩ chuyên nghiệp. Điều biết ơn này đã được bày tỏ rõ ràng trong bức sơn dầu “Cây Lê Màu Hồng Đang Trổ Bông (Để Tưởng Nhớ Mauve)” (73x59.5cm) vẽ ra vào tháng 8/1888 về sau.] 

2.

Trong bữa ăn chung tại quán cơm xã hội, Van Gogh gặp một người đàn bà mỉm nụ cười thân thiện với ông. Từ đó họ trở thành bạn với nhau. Nhan sắc nàng trông đã tàn phai, nhưng trên sự tàn phai này, Van Gogh nhìn ra được nét quyến rũ theo “cái vẻ của Chardin hay Jan Steen trong bộ dáng kỳ lạ của người đàn bà ấy” như ông đã viết kể với Théo. Hai bàn tay nàng trông giống như tay người thợ nhiều hơn là của một phụ nữ thanh lịch.

Thật sự, nàng chẳng phải người thợ, mà lại kiếm sống bằng nghề làm điếm, có đứa con nhỏ  năm tuổi và một cái thai hoang trong bụng. Nàng tỏ  ra rất tốt với Van Gogh và cũng rất được  ông quý trọng. Tên nàng là Christine Clasina Maria Hoornik, còn được gọi là Sien. Nàng thường uống rượu mạnh, hơi thở nồng nặc, lại còn đeo mang thêm bà mẹ già nghèo khổ mà thỉnh thoảng nàng phải cấp dưỡng chút ít.

Sự  thực, nàng đã chìm quá sâu trong cái hố sa đọa; nhưng dưới đôi mắt của một nghệ sĩ, khuôn mặt rỗ hoa đầy vẻ lo âu của Sien gợi nhắc cho Van Gogh hình ảnh cánh đồng đã được trồng trọt, cày xới. Trong lá thư gửi người bạn họa sĩ Van Rappard, Van Gogh đã viết về người đàn bà này như sau: “Chưa bao giờ tôi được dịp biểu lộ tình thương nhiều như bây giờ đối với người đàn bà tàn phai ấy. Thời gian trôi qua không để lại gì trên nàng ngoài sự đau khổ và nghèo khó. Tuy nhiên, với tôi, nàng vẫn còn đẹp. Nếu một mảnh đất chưa từng được cày xới thì liệu có cây cỏ nào mọc nổi trên đó không? Nàng, mảnh đất đã được tận cùng cầy xới, nàng đem được cho tôi cái điều mà tôi hằng tìm kiếm, hơn tất cả những con người bình thường đạo hạnh nhất trên thế gian.”

Một lần nữa, tâm hồn cao cả của Van Gogh lại có  dịp thể hiện tinh thần bao la bác ái của Thiên Chúa. Lòng trắc ẩn trong ông chiến thắng tất cả mọi dư luận trở ngại chung quanh đời sống bình thường. Người đàn bà đang đau yếu và bị buộc phải trải qua một cuộc mổ xẻ để đứa con trong bụng chào đời khỏe mạnh. Van Gogh bèn ra tay cứu độ, vay nợ để trả món nợ bệnh viện của Sien, đem nàng đến một bác sĩ danh tiếng ở Leyden để mổ xẻ, và tự tay ông chăm sóc nàng cho đến khi bình phục.

Sien không có được những lời nói nhẹ nhàng như  cô em họ Kee Vos. Nàng là mẫu người thô  lỗ và hung dữ. (Nhưng làm sao nàng có thể trở nên tốt khi mà cuộc đời chỉ để lại trên nàng những dấu hằn xấu?) Bởi vì Van Gogh tốt với nàng nên nàng cũng đáp trả lại ông bằng lòng tốt, đến với ông như một con vật thuần tánh. Sự thô lỗ của nàng rất hợp với sự thô lỗ của Van Gogh. Vẻ ảm đạm âm u trên dáng dấp Van Gogh không làm cho nàng sợ hãi. Trong mối quan hệ với Sien, Van Gogh không có một chút ảo tưởng nào. Mọi sự, ông hình dung như cuộc sống phải đối diện trước mắt. Sien học cách ngồi làm mẫu cho Van Gogh dù rằng sức khỏe yếu ớt. Nàng giúp đỡ tận tình những gì có thể, và trở thành nguồn hứng cảm nghệ thuật của ông.

Sien không có được sắc đẹp thần bí để tặng cho ông, nhưng dưới cái nhìn bác ái của Van Gogh, sự đau khổ về tinh thần lẫn vật chất nàng từng cưu mang đã đủ đền bù cho họa sĩ những thiếu sót hơn bất cứ tác phẩm văn chương hay lịch sử nào khác. Thân hình gầy nhom của nàng đã thể hiện trên nhiều bức bằng bút chì hay màu nước của Van Gogh.

Nổi bật nhất là bức “Sorrow”, vẽ bằng màu nước, diễn tả một người đàn bà trần truồng với nét bán diện, bộ ngực tàn tạ, đang ngồi gục đầu, mặt khuất vào giữa hai cánh tay vòng chéo lại, dáng vẻ thật cô đơn buồn bã. Bên dưới bức vẽ, Van Gogh đã chua thêm câu viết của Jules Michelet (nhà văn Pháp, 1798-1874): “Làm sao trên cõi đời này lại có một người đàn bà bị bỏ rơi bơ vơ dường ấy?” (“Comment se fait-il qu’il y ait sur la terre une femme seule délaisée?”).

Bức tranh rất đơn giản không theo quy tắc nào với những đường nét thật giới hạn, nhưng ẩn khuất trong đó là cả  một “cái hồn” bi thương cực độ, nói lên rõ rệt không những sự cơ cực tàn tạ của Sien, mà còn cả sự thiếu vắng một mái ấm tình thương trong cảm nghĩ về cuộc đời riêng ông.

Kể  từ dạo quen biết người đàn bà giang hồ  ấy, Van Gogh thỉnh thoảng vẫn lui tới các xóm điếm, không phải để tìm vui mà là để chia xẻ đau khổ với các cô gái sống cuộc đời bán trôn nuôi miệng. Ông cũng vẽ điên cuồng. Các người nghèo khổ ngồi làm mẫu cho ông. Các cô gái giang hồ và các người lao động biến thành anh chị em của Van Gogh.

Tuy vậy, Van Gogh không muốn đem Sien về giới thiệu với gia đình hay bất cứ người quen nào trong cái xã hội ông đang hiện hữu. Ông tự xa lánh, sống với Sien và hai đứa con nhỏ của nàng như trong một gia đình riêng biệt và không mong ước gì hơn là trở thành một người lao động có cuộc đời bình thường an ổn. Nhưng, trong một thành phố mà con người phải sống theo những cách thức nhất định thì hành động bác ái thái quá đến độ khó hiểu của Van Gogh lại không thể được chấp nhận. Những người quen bắt đầu tránh mặt mỗi khi gặp ông đâu đó trên đường phố. Ông phải chiến đấu với xã hội bằng ý nghĩ và nghị lực của riêng ông.

Thời gian chung sống với Sien và đứa con gái 5 tuổi của nàng trong căn nhà nhỏ ở số 138 Schenkweg (1/1882), bạn bè đều từ bỏ Van Gogh. Chỉ còn Théo là người vẫn đứng về phía ông như vẫn thường đứng. Van Gogh viết kể cho em rõ mọi sự, tâm tình về cái ước muốn tạo dựng một mái ấm riêng, cho dù người vợ cùng tạo dựng có là một cô gái điếm. 

Mùa hè 1882, Van Gogh và cái gia đình mới này dọn sang một căn chung cư rộng hơn bên cạnh (sau khi Sien hạ sanh đứa thứ nhì), số 136 Schenkweg, La Haye. Bấy giờ, ông đã có riêng một phòng vẽ. Ông viết cho Théo: “Thỉnh thoảng trong anh vẫn có một ước muốn ghê gớm là được vẽ trở lại. Vì thế mà anh đã cố thu xếp cho mình một vị trí riêng. Căn phòng rộng rãi, ánh sáng chan hòa, anh có thể vẽ dễ dàng mà không làm đảo lộn mọi thứ sắp bày trong đó. Bây giờ thì anh đã nắm được một bước chuyển động mới với màu nước.”

Tháng 8/1882, ông sáng tác một loạt tranh sơn dầu, 14 bức trong số này vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.

Trong khi nghệ thuật đang phát triển hứa hẹn thì  cuộc sống riêng lại báo trước cho thấy một sự  lụi tàn ở tương lai. Sự đắm mình theo nghệ  thuật đã làm lớn dậy sự tự tin trong việc có thể kiếm ra tiền từ những bức họa, nên Van Gogh đã không dè xẻn số lợi tức hạn hẹp của mình trong những tiêu xài cho Sien và đám trẻ. Vì vậy tài chánh đâm trở thành kiệt quệ. 

3.

Lúc bấy giờ, trong gia đình Van Gogh có tới bốn miệng ăn. Với nhiệt tình quen thuộc, ông đã thành công trong việc khuyên nhủ Sien bỏ nghề làm điếm, nhưng cái hậu quả về tài chánh lại cũng là điều làm khổ tâm ông không ít. Số tiền cố định 150 quan mà Théo trợ cấp hàng tháng, cộng thêm vài mối vẽ lẻ tẻ nhận từ ông chú Cornelius (tháng 2 và 4/1882) chẳng đủ thiếu vào đâu cho sự chi phí. Lời kêu gọi Théo gửi cho những món tiền phụ trội càng lúc càng trở nên khẩn thiết.

Sự  hết lòng theo nghệ thuật sớm bị đẩy lùi về  phía sau: “Trong 14 ngày, anh đã vẽ từ sáng tới tối mịt, và nếu cứ như thế, điều đó sẽ trở thành là sự tiêu pha quá đắt đỏ khi nào anh vẫn còn chưa bán được tranh.”

Trong nỗi hoan hỉ trước những khám phá mới về  nghệ thuật và một mái gia đình vừa tạo dựng, Van Gogh đã tự dấn mình vào một hoàn cảnh nghịch lý: ông càng làm việc bao nhiêu thì tiền bạc lại càng hao tốn bấy nhiêu.

“Anh không thể tằn tiện hơn bây giờ nữa; bọn anh đã cắt bỏ bất cứ cái gì có thể cắt, nhưng luôn luôn đều có việc để cần đến. Ðặc biệt là khi những phí tổn rắc rối cứ kéo dài trong nhiều tuần lễ, anh không biết cách nào để đương đầu.”

Gia đình Van Gogh dần dần đi vào sự đói. Dẫu số tiền tiện tặn đã có hiệu lực trên phẩm chất của tác phẩm, nhưng nỗi hy vọng trong việc kiếm tiền như một nghề nghiệp của một nghệ sĩ thì bắt đầu lùi xa.

Ðó là cái vòng lẩn quẩn giữa đam mê nghệ thuật và sự  đối diện với nghèo khổ. Ông giải thích với Théo: “Những phí tổn rõ ràng đã đem lại hiệu quả tốt cho các bức tranh, nhưng anh đang lo sợ không biết làm sao để tiếp tục vẽ. Anh có một thể chất vừa đủ mạnh để chịu đựng được những cơn đói nếu như nó đừng kéo dài lâu quá. Giá gì nó cứ lưng chừng như thế! Ðàng này, hoặc là làm việc ít hơn, hoặc là đi đến sự đói. Và bất cứ khi nào có thể, anh đều chọn cách thứ nhất. Nhưng bây giờ sức khỏe anh đã cạn kiệt rồi.”

Mặt khác, giữa Sien và Van Gogh đã thấy có những dấu hiệu cách biệt. Sien không còn là người đàn bà mà sự tuyệt vọng đau khổ làm dậy lên nỗi xót thương cao độ trong lòng Van Gogh như thuở ban sơ nữa. Nàng đã thay đổi, ít ra trên cách nhìn bình thường nào đó. Và chính nàng cũng bắt đầu nhận ra Van Gogh giống như một con người kỳ dị thuộc vào một thế giới “khác” với cái thế giới nàng quen thuộc. Mỗi khi có ai đến thăm Van Gogh, nàng lánh mặt bằng cách bỏ đi khỏi nhà. Mẹ của Sien lại bắt đầu mè nheo con gái. Có lẽ Sien không muốn sống trở lại cái đời làm điếm dơ bẩn ấy nhưng sâu thẳm trong lòng, nàng vẫn biết rằng một nhà thổ thích hợp với nàng hơn là cái phòng tranh chật hẹp của họa sĩ, nơi mà những lời nói buông thả không thể được tự do phát biểu. Trong mái nhà này không có đủ thức ăn và hạnh phúc cho những con người đang hiện hữu.

Là  một người rất có từ tâm, Van Gogh tự mang trách nhiệm trên những người ông yêu thương. Nhưng nỗi ao ước mang an bình và bảo đảm cho sự sống của họ cũng là điều quá lớn lao khó  nhọc. Van Gogh nghĩ đến điều đưa Sien và  hai con nhỏ của nàng về vùng quê sống vì chi phí ở đó ít tốn kém hơn trong thành phố. Nàng không phản đối, nhưng cũng không tỏ ra sốt sắng chấp nhận. Khi Van Gogh vừa vắng mặt khỏi nhà là nàng tìm ngay đến bà chủ nhà thổ và lao trở về nghề cũ. Nàng uống rượu và hút xì gà trong khi Van Gogh sắp sửa phải đói. Tất nhiên Van Gogh cực kỳ đau khổ vì cái viễn ảnh về một tổ ấm gia đình đã không thực sự đến như ông hằng ước mơ.

Cuối hè 1882, Théo, người duy nhất giúp đỡ họ, đến thăm anh và đã kinh hoảng bởi những điều kiện sống quá ư kham khổ của họ. Một cách thận trọng, Théo cố gắng nhắc nhủ anh nhận lấy cái quyết định không thể tránh: một cuộc chia ly sẽ rõ ràng là cơ may duy nhất để Van Gogh tìm về con đường nghệ thuật. Phần Van Gogh cũng đã nhìn ra điều đó. Sống với cái hậu quả của sự quyết định như trên thì không phải dễ dàng trong những tháng năm trước mặt. Nhưng ông không còn chọn lựa nào khác. Từ nay trở đi, tất cả những xúc cảm mãnh liệt chỉ được gom tụ vào một điểm duy nhất: Nghệ Thuật. Trong các bức tranh, Van Gogh nắm bắt toàn thể cuộc đời một cách chắc chắn và dễ dàng bao nhiêu thì ngoài thực tế, cuộc đời ấy càng lẩn tránh ông một cách tàn nhẫn bấy nhiêu. 

Trước khi vĩnh viễn chia tay nhau, Van Gogh đã nói với Sien: “Anh không mong em hoàn toàn chân thật, nhưng hãy chân thật trong tất cả những cố gắng của em. Từ đây, dù em có là một người đàn bà nghèo khổ hay là một cô điếm đầy tội lỗi, bao giờ em còn sử dụng đúng đắn tình mẹ trên các con em, anh vẫn nghĩ về em như một người tốt. Phần anh sẽ làm việc rất nhiều. Và anh mong em hãy vì các con em mà làm việc…”

Tháng 12/1882, người đàn bà tên Sien biến mất hẳn khỏi cuộc đời Van Gogh. 


XIII
(12/1883 – 2/1886)

1.

Sau kinh nghiệm đau khổ này, thật khó cho Van Gogh trở lại bình thường trên những liên quan mật thiết với nghệ thuật.  

Tháng 9/1883, ông lại lang thang đến Drenthe, một vùng nghèo nàn hẻo lánh về hướng đông bắc Hòa Lan với tâm trạng của một con thú bị thương tìm vào rừng trốn lánh. Tình trạng sống kham khổ hiu hắt của số cư dân ít ỏi chỉ chuyên nghề đào than bùn ở đây đã gợi mối thương tâm trong lòng Van Gogh. Ông sáng tác một loạt các bức vẽ về cảnh sống này.

Cũng tại tỉnh Drenth, lần đầu tiên Van Gogh cảm nhận  được cái chứng điên trong chính con người mình. Cây thập tự giá mà ông đã nhận lãnh theo ý muốn riêng (lần đầu ở Borinage và lần sau với người đàn bà say sưa đau khổ) đã đánh gục ông đến gần như khó lòng trỗi dậy. Trên cái nghĩa của tôn giáo, có lẽ Van Gogh đã đạt tới đỉnh cao tuyệt diệu. Nhưng trên cái nhìn bình thường của nhân loại và luôn cả giới tu sĩ thì đó là điều khó thể vượt qua.

Mùa  đông đến, trời mau tối, vào tuổi 30, Van Gogh lại cảm nghe tuyệt vọng buồn bã. Ông lê lết trở  về nhà cha mẹ với tâm trạng sầu thảm, giống như cậu con trai hoang đàng đã hoàn toàn tiêu phí  cả kho tàng trái tim trong những cuộc trác táng của lòng từ thiện, hay những cơn yến tiệc say sưa của sự hy sinh.

Ông Théodorus Van Gogh lúc bấy giờ là mục sư giảng đạo tại Nuenen, một làng nhỏ trong vùng miền đông của tỉnh North Brabant, Hòa Lan. Sự hiện diện của Van Gogh, một kẻ không ưa giao thiệp cởi mở, đã tạo nên trạng thái căng thẳng cho tất cả những người trong gia đình, đồng thời trở thành mối khó khăn lớn cho chính họa sĩ. Nỗi tôn trọng mà Van Gogh dành cho cha đã bị vơi đi và sự liên hệ tinh thần với mẹ thì mong manh hơn bao giờ hết. Người em gái tên Wilhelmien đã mô tả về Van Gogh thời kỳ này như sau: “Bề ngoài luôn luôn xốc xếch trong cái áo choàng kiểu nông dân, tóc cắt ngắn rối bù, râu mọc lởm chởm, khuôn mặt màu nâu, đôi mắt thường xuyên đỏ rực lên ánh khích động mỗi khi ngó vào vật gì dưới ánh sáng mặt trời, cái nón rộng vành sụp xuống dưới trán…”

Théo cung cấp tiền bạc trả cho cha mẹ phần ăn  ở của Van Gogh; và để cứu vãn sự kiêu hãnh của anh, Théo đưa ra một “giao kèo làm việc” rằng sự chi trả này chỉ là một lối đầu tư trên những bức tranh của Van Gogh sẽ bán ra ở tương lai.

Phòng vẽ của Van Gogh thời gian này là trong một căn phòng giặt giũ nối liền với khu vườn.

Ở Nuenen, Van Gogh lại chứng tỏ nên một họa sĩ  đầy tài năng. Những gì sáng tạo trước kia thật ra vẫn chỉ mang giá trị tỉnh lẻ, không xây dựng được cho họa sĩ một tên tuổi vĩnh cửu. Chính thời gian ở Nuenen đã đánh dấu giống như giai đoạn đầu tiên trong sự nghiệp hội họa vĩ đại của ông. Tại đây, Van Gogh dành tất cả thì giờ cho việc vẽ tranh. Những bức còn lưu lại của thời kỳ Nuenen, đa số là những bức vẽ phong cảnh chung quanh căn nhà của gia đình Van Gogh, chân dung các nông dân cực khổ, các người lao động, các phụ nữ lam lũ, bầu trời thăm thẳm, cánh đồng rộng lớn, những ngôi nhà buồn tẻ, con đường làng hiu quạnh mang bối cảnh quê hương Hòa Lan và một loạt những mái nhà tranh của các người thợ dệt; ví dụ như trong bức “Người Dệt Vải” (sơn dầu, 1884, 62.5x84.4cm), cái máy dệt bằng khung gỗ chính đã là một di vật còn lưu lại của thời tiền công nghiệp.

Van Gogh đã từng đọc và ưa thích Emile Zola. Tình yêu dành cho đất đai đồng nội đã sẵn có trong ông, càng trở nên mạnh mẽ hơn từ những tác phẩm của nhà văn Pháp ấy.

Lúc bấy giờ, đối với Van Gogh, họa sĩ Pháp Honoré  Daumier (1808-1879) có một tầm quan trọng rất lớn do bởi màu sắc đen tối và cũng bởi yếu tố nhân bản, xã hội phô bày rõ trong các tác phẩm.

Màu sắc của Van Gogh trong các bức vẽ  thời kỳ ở Nuenen cũng thường ảm đạm, buồn bã, nhưng cách kết cấu nội dung đã đạt được một giá  trị rất cao.

Điển hình nhất là bức “Những Người Ðang Ăn Khoai” (sơn dầu, 82x114cm) rõ ràng cho thấy một sự quan sát rất kỹ những sinh hoạt của giới nông dân. Bức tranh có màu đậm được vẽ ra trong tháng 4-5/1885, lâu hơn bất cứ bức nào, không bao lâu sau cái chết của ông Théodorus (26/3/1885), mô tả một căn phòng có đầy những nông dân đang dùng bữa ăn tối, là điều đã phơi bày ấn tượng mạnh mẽ với cái ý nghĩa một lần nữa khái niệm gia đình trong lòng Van Gogh lại tan vỡ. Rút cảm hứng từ bức “Bữa Ăn Thanh Ðạm” của Josef Israels, Van Gogh sắp xếp một hình ảnh gần như thánh hóa của Bữa Ăn Cuối Cùng trong Kinh Thánh, một chủ đề mà ông tán rộng ra bởi hình ảnh cái đồng hồ và cây thánh giá treo tường được đặt cạnh nhau. Những nhân dáng trình bày có hình thù xấu xí như trong lối tranh biếm họa, nói lên sự cùng khổ của họ, những con người tự đào khoai để làm bữa ăn tối; khác hẳn lối vẽ các nông dân bình thường theo truyền thống thi vị êm đềm trước kia.(*)

Ngày 26/3/1885, ông Théodorus qua đời; Van Gogh vẽ bức  “Tĩnh Vật với cuốn Thánh Kinh Ðang Mở, Cây Nến Tàn và Tác Phẩm ‘Joie de Vivre’ của Zola” (sơn dầu, 65x78cm) dành để tưởng niệm cha, trên đó, cuốn Thánh Kinh của ông Théodorus được mở ra ở Chương 53; (chương 52 cũng có xuất hiện trong tranh); 12 tiết của chương 53 nói về sự tưởng thưởng cho kết quả chịu đựng gian khổ mà những nhà truyền giáo đã gặp phải trên bước đường rao giảng Kinh Thánh, cũng là ngầm ý ca tụng sự dốc lòng của ông Théodorus trong vai trò một giáo sĩ.

Tác phẩm “Joie de Vivre” của Zola (như trong tranh), xuất bản tháng 2/1884, là một tiểu thuyết buồn, chủ ý tán dương sự hy sinh quên mình của những con người vẫn gắn bó với những nỗi đau khổ của cuộc đời.  

Trong vài trường hợp, Van Gogh dùng màu vàng hay xanh da trời cho những bìa sách như một biểu tượng xác  định thẳng thắn về tính chất hiện tại của sự vật. Ví dụ như bức tĩnh vật “Bức Tượng Nhỏ và Hai Cuốn Sách” (sơn dầu, 55x46.5cm), hay “Chân Dung Bác Sĩ Gachet” (sơn dầu, 68x57cm) vẽ vào tháng 6/1890 về sau này.

Trong thời kỳ Nuenen, sự giao thiệp của Van Gogh chỉ  giới hạn với người bán thuốc lá tên Anton Kerssemakers, vẫn thường cùng ông đi dạo hoặc thăm viếng bảo tàng viện; và vài họa sĩ tài tử trong vùng thỉnh thoảng vẫn đến vấn ý ông về những bài học hội họa. 

2.

Van Gogh lại tiếp tục đi trên con đường nghệ thuật chín chắn của mình không phút xao lãng. Mùa thu 1885, để tránh tình trạng thù địch đang có khuynh hướng lan rộng trong giới nghệ sĩ trong vùng, và cũng vì muốn mở rộng tầm nhìn theo hội họa, Van Gogh tìm đến Anvers, vùng hải cảng miền Nam nước Bỉ; thuê căn phòng ở tầng trên một cửa hàng bán tranh tại số 194 đường Images, rồi trang hoàng bằng những bức vẽ theo lối Nhật Bản của chính mình.

Sau rất nhiều ngày tháng sống trong vùng đồng quê buồn tẻ, giờ đây Van Gogh bắt đầu hưởng thụ  cuộc đời nơi đô thị lớn. Với ông, quan trọng nhất là các viện bảo tàng, và đặc biệt là bức tranh trang trí giáo đường rất đồ sộ của Peter Paul Rubens, họa sĩ lừng danh người xứ Flandre thế kỷ 17.

Cũng chính từ Ruben mà Van Gogh học hỏi  được cách pha màu sáng, ly khai với những màu sắc  ảm đạm. Ông đã từng khởi sự dùng nhiều màu xanh da trời hơn, nhưng bây giờ lại thử với màu đỏ sau khi bị lôi cuốn bởi độ nồng ấm của màu đỏ có điểm thêm một đường viền mỏng trên các nhân dáng mà Ruben đã vẽ trong tác phẩm.

Ngoài ra, những nghệ sĩ Nhật Bản cũng mở cho ông một hướng nhìn mới. Bài tập “Một Trăm Cách Nhìn Ngọn Núi Fujiyama” của Hokusai Katsushika (họa sĩ & điêu khắc gia Nhật Bản, 1760-1849) đã khiến cây bút chì của Van Gogh có riêng một sắc thái và những đường nét chính xác.

Ông cũng ưa thích cách sử dụng những màu tương phản nhau trên cùng một nền vải của họa sĩ Pháp Ferdinand Delacroix.

Màu sắc trong các tranh của Van Gogh sáng dần, điển hình là bức “Cái Ðầu Của Một Phụ Nữ” vẽ trong tháng 12/1885 (sơn dầu, 35x24cm) biểu lộ rằng trong sự thêm vào màu hung đỏ, cây cọ của ông đã được chuyển hướng rõ rệt hơn.

3.

Tháng 1/1886, gần 33 tuổi, Van Gogh ghi tên xin học trong trường Mỹ Thuật ở Anvers. Dù rằng đã sáng tạo ra một số lượng lớn họa phẩm bằng một sức cố gắng phi thường, Van Gogh vẫn muốn học hỏi thêm nghệ thuật ở những người khác. Tuy vậy, cách pha màu của ông còn chưa ổn thỏa, chất sơn dầu nhỏ giọt từ khung vẽ xuống sàn nhà đã khiến vị giáo sư hội họa trường Mỹ Thuật phải phẫn nộ hét lên: “Anh là ai?” Van Gogh la to trở lại: “Tôi là Vincent, một người Hòa Lan!”

Vị  giáo sư nhận định rằng các bức vẽ của Van Gogh vẫn còn “tồi” và đẩy ông xuống lớp dự bị. Van Gogh bèn kết hợp các bạn sinh viên hội họa cùng nhau sáng tác vào buổi tối để tiền công phải trả cho người mẫu giảm nhẹ đi.

Tiêu pha gần trọn số tiền Théo cung cấp vào việc trả công cho người mẫu và sơn dầu, khung cọ, ông hoàn toàn không để tâm vào việc ăn uống; thêm với sự làm việc quá độ đã khiến ông trở nên kiệt sức. Lại lần nữa, Van Gogh sống rất cơ hàn kham khổ, thậm chí không có đủ tiền mua bánh mì khô để lót dạ. Ông bắt đầu cảm nhận được cái hậu quả tai hại gây ra từ sự thiếu dinh dưỡng đồng thời với sự lao động trí não quá độ. Cái ý tưởng chết sớm cứ đeo đuổi trong óc khiến ông càng thêm say mê dồn hết năng lực vào việc sáng tạo mà không ngờ rằng điều ấy chỉ càng đưa ông đến gần thêm với sự hủy hoại.

Lúc bấy giờ, Van Gogh lại ao ước một sự đổi mới sau ba tháng lưu lại Anvers, bắt đầu phóng tầm mắt nhìn xa hơn sang một chân trời lạ. Tại đây –Anvert—không có gì khác ngoài sự việc ông trở nên là thù địch của tất cả các giáo sư và sinh viên hội họa do bởi lòng đam mê nghệ thuật trong ông vượt cao hẳn họ. Paris có lẽ khá hơn!...

4.

Phần Théo –lúc bấy giờ đang là người mại bản các bức tranh thuộc trường phái Barbizon và Impresionisme của công ty Boussod & Valadon ở Paris (những người kế vị Goupil & Cie) đang nỗ lực để bán ra những bức tranh phái Ấn Tượng. Trong các lá thư trao đổi giữa hai anh em vào cuối năm 1885 đã cho thấy có nhiều bàn thảo về giá trị tranh của các phái Hiện Thực (Réalisme), Tự Nhiên (Naturalisme) và Lãng Mạn (Romantisme). Nhưng trong khi Théo đặc biệt ca ngợi tranh của Edouard Manet thì Van Gogh lại tỏ ra không mấy ưa thích lối vẽ của họa sĩ này. Theo ông, Millet mới là người có công sáng tạo lớn nhất cho nền hội họa hiện đại ở Pháp.

Từ  tháng 1/1886, Van Gogh đã nài xin em cho ông tìm đến Paris để có thể tiếp tục học hỏi nghệ thuật, đặc biệt lối vẽ từ những người mẫu khỏa thân hoàn toàn, điều mà ở trường Mỹ Thuật Hội Họa Anvers đã không chấp nhận. Trong một lá thư, Van Gogh phô bày cái linh cảm rằng mình chẳng còn bao nhiêu thời gian làm việc, nên muốn đến Paris để có thể thực hiện những gì cưu mang trong đầu trước khi quá muộn.

“Những gì đó” trong con người ông anh bất thường chính là chức năng của một họa sĩ thiên tài mà từ lâu Théo nhận thức được. Théo bèn gợi ý Van Gogh nên đến Paris vào tháng 6/1886. Nhưng con người điên đảo ấy không thể chờ lâu hơn nữa. Anvert đã chết! Tất cả quá khứ đã chấm dứt. Giờ chỉ còn Paris! 


XIV
(2/1886 – 12/1887)

1.

Ngày  28/2/1886, Théo nhận một lá thư ngắn viết rằng Van Gogh đang đợi ông trước một bức tranh của Rembrandt, tại Salon Carré, viện bảo tàng Louvre. Thế là hai anh em lại sống chung với nhau trong căn nhà nhỏ của Théo, số 25 đường Laval, Paris.

Paris quả thật là vùng đất Van Gogh cần thiết, không chỉ vì nghệ thuật thôi, mà còn cả trên phương diện đời sống. Tại đây, ông khám phá ra rằng bên cạnh những bổn phận và gánh nặng đối với cuộc đời bình nhật, ông không phải bị khuất phục bởi bất cứ ai theo những gì ông muốn tìm kiếm. Cuộc đời dường như thay đổi hẳn với cái thế giới riêng mình lồng bên trong thế giới thân mật của những người khác. Bà cụ già mang tặng những chùm rau mới hái, người đưa thư vui vẻ, cô gái trẻ trong khu xóm nhỏ, lũ trẻ con chơi đùa chung quanh các ngôi nhà và những phụ nữ mập mạp thích ngồi lê đôi mách..., tất cả ai cũng quen mặt Van Gogh. Họ gật đầu chào mỗi khi gặp ông đâu đó trên đường phố. Tại đây, Van Gogh mang cảm tưởng gần gũi như đang ở trong ngôi nhà tại cái xóm nhỏ của vùng La Haye thuở xưa. Không ai nhăn mặt trước bộ dạng bất thường, cũng không ai ngạc nhiên trước bề ngoài lôi thôi bẩn thỉu của ông. Thảng hoặc họ có cười thì chính ông cũng cùng cười phá lên theo họ. Thời gian này, cuộc sống quả y hệt như trong một giấc mơ!

Mùa hè 1886, hai anh em Van Gogh dời đến số 54 đường Lepic trên ngọn đồi Montmartre, nơi có quán rượu lộ thiên Moulin de la Galette, quy tụ nhiều nghệ sĩ; và nhà hàng ăn nhỏ của bà Bataille mà anh em Van Gogh và các nghệ sĩ khác như Mendès, Willette, Jaures... thường đến dùng cơm.   

2.

Trước kia, Van Gogh không có cơ  hội nhìn tranh phái Ấn Tượng, hay hiểu biết chính xác về phái này. Ðến Paris lần II trong năm 1886, họa sĩ được chứng kiến  đúng lúc sự sụp đổ của phái  Ấn Tượng, đồng thời cũng có  dịp nối kết vào các cuộc tranh luận về những biến thể mới cho một đường hướng nghệ thuật tân tiến đang hình thành.

Trong tháng 5 và tháng 6/1886, Théo đưa Van Gogh tới tham dự cuộc triển lãm lần thứ 8 và cũng là  cuối cùng, gồm nhiều thể loại khác nhau của phái  Ấn Tượng.

Giữa  230 bức họa trình bày, nổi bật đặc điểm Ấn Tượng nhất chính là các tác phẩm của Mary Cassatt và Guill -aumin; nhưng cũng có những bức thuộc phái Biểu Tượng của Odilon Redon.

Về  lối vẽ bằng chấm chính thống của phái Tân Ấn Tượng (Neo-Impressionisme) có các đại diện như bức “La Grande Jatte” của Georges Seurat và bức phong cảnh vẽ bằng những chấm nhỏ của Camille Pissarro. Cuộc triển lãm cuối cùng này đã nói lên rằng sau một thập niên thực hành theo đường lối Ấn Tượng, chính Pissarro cũng đã chuyển hướng theo lối vẽ bằng chấm của nhóm Pointilliste và chấp nhận những lý thuyết đi kèm về sự tương phản màu sắc –điều mà vừa mới đây ở viện bảo tàng Anvers, Van Gogh cũng từng ưa thích khi thưởng thức các bức tranh của Delacroix và Rubens.

Edgar Degas --người luôn phê bình sự bắt chước thiên nhiên của phái Ấn Tượng giống như một sự  sáng tạo nghèo nàn-- đã đưa ra một loạt tranh vẽ  những người đàn bà đang tắm, qua đó ông cố  gắng trình bày giá trị liên hợp giữa truyền thống khỏa thân cổ điển với đường hướng khỏa thân mới của phái Tự Nhiên (Naturalisme).

19 bức họa không theo đúng đường lối phái Ấn Tượng của Paul Gauguin (con người đang tìm kiếm cảm hứng từ  Brittany, hoặc các vùng biển Nam Thái Bình Dương) đã phô  bày sự kết hợp cường độ cảm xúc của họa sĩ với sự hoang dã xưa cổ qua các màu sáng và rực rỡ.

Trong khi đó Monet, Renoir và Sisley từ chối không tham dự. 

Cảm nghĩ thứ nhất trong Van Gogh về  cuộc triển lãm tháng 5-6/1886 của phái  Ấn Tượng chính là “sự tàn sát giữa anh em với nhau” như trong một lá thư ông đã viết cho em gái; do đó, ý nghĩ thất vọng hẳn phải có trong ông, như đã phàn nàn cùng em: “Sau Israels và Mauve, phái Ấn Tượng rõ ràng chẳng có gì ngoài những hình ảnh luộm thuộm và xấu xí.”

Nhưng rồi dần dà, sau 9 tháng nghiền  ngẫm kỹ thuật, chủ đề và ý tưởng trên nhiều giòng tranh khác nhau của từng nghệ sĩ phái Ấn Tượng, cái nhìn Van Gogh mở rộng hơn. Các sáng tác của họ giúp ông khám phá ra màu sắc, ánh sáng và một kỹ thuật mới. Đặc biệt là Georges Seurat đã gây ảnh hưởng trực tiếp trên ông.

Van Gogh bèn ghi tên tham dự khóa học với họa sĩ Fernand Cormon, từ mùa xuân đến mùa thu 1886, chủ đích trau giồi lối vẽ thẳng từ người mẫu. Giữa đám bạn đồng song của lớp vẽ Cormon, Van Gogh gặp và quen biết với chàng trẻ tuổi quý tộc kỳ dị Henri Toulouse-Lautrec, Louis Anquetin, và John Russel.

Ưa thích hơn cả với Van Gogh là cửa hàng tranh của Julien “père” Tanguy (1825-1894) tọa lạc ở số 14 rue Clauzel, nơi những bức họa của Pissarro, Cézanne, Renoir, Sisley, Guillaumin, Seurat và Signac... được treo.

Cho tới lúc này, ngoài tranh của các họa sĩ Hòa Lan, Van Gogh chỉ mới biết đến tác phẩm của những họa sĩ Pháp như Millet, Daumier, phái Barbizon và Monticelle. Bây giờ ông biết thêm về tranh Delacroix và của các họa sĩ phái Ấn Tượng. Edouard Manet đã chết ba năm trước đó (1883), còn những người khác đang ở đỉnh cao của nghệ thuật và nghề nghiệp.

Mùa hè và mùa thu 1886 ở  Paris, trong một căn phòng nhỏ  tại nhà Théo, Van Gogh tập trung chủ  yếu trên chân dung tự họa và  tĩnh vật. Không có tiền trả cho người mẫu, và cũng thiếu luôn sự tự tin, ông tự giới hạn tầm giao thiệp của mình.

Những bức tĩnh vật Paris đầu tiên vẫn chỉ  được vẽ trong cùng nét cọ  và màu sắc mờ tối như  những bức sáng tác ở  Bruxelles và Anvers, nhưng chúng cũng làm nhớ  lại lối vẽ tĩnh vật nào  đó giữa thế kỷ 19 của nền hội họa Pháp.

Théo có được ít nhất một bức vẽ hoa của Fantin-Latour và bức khác của Monticello (họa sĩ vừa mới qua đời ở Marseilles) với màu sắc khá tối tăm và  cách cấu trúc phong phú. Van Gogh dùng chúng làm kiểu mẫu nghiên cứu, trong khi lại tự cảm biết mình đang bị lôi kéo về một chiều hướng sử dụng màu sắc sáng sủa và nhiều cảm xúc hơn, ví dụ như bức “Chậu Hoa Thuốc Phiện” (56x46.5cm), vẽ vào mùa hè 1886.

Trong một lá thư viết cho họa sĩ Anh, Lienens, mùa thu 1886, Van Gogh diễn tả rằng bức tĩnh vật “Chậu Hoa Thuốc Phiệnchỉ là một cách áp dụng sự tương phản màu sắc như của nhóm Pontillist, duy có điều rằng ông chưa dùng đến lối vẽ bằng chấm như của họ. Ông vẫn còn đang tìm kiếm sự hòa hợp tương phản giữa màu tuyền xanh dương với màu cam, màu đỏ thắm với xanh lá cây, và màu vàng với màu tím.

Ðề tài những bức phong cảnh năm 1886 tập trung trên những lối mòn của khách bộ hành chung quanh căn nhà Théo; những góc yên tĩnh của khu Montmartre; những con hẽm giữa các khu vườn và những công viên gần như trống trơn vào các ngày trong tuần; những con phố buổi sáng sớm; và toàn cảnh các mái nhà Paris nhìn từ cửa sổ. Riêng các đại lộ tấp nập, các công viên rộng lớn hay các trạm nhà ga thường xuyên được chọn bởi Monet, Pissarro, Sisley và Renoir, bấy giờ Van Gogh lại tránh không vẽ.  

Cũng trong thời kỳ Paris 1886, quang cảnh của viện bảo tàng Louvre và khu vườn Luxembourg là những bức hiếm hoi về đề tài Paris đã được Van Gogh sáng tạo để tỏ lòng tôn kính cho bộ sưu tập hội họa vĩ đại được trưng bày tại hai nơi này mà từ lâu ông ngưỡng mộ. Ðiển hình cho các bức thời kỳ này là “Moulin de la Galette” vẽ trong tháng 10/1888, (sơn dầu, 38.5x46cm) qua đó, ông cẩn thận thử nghiệm nét cọ theo đường lối và chủ đề của phái Ấn Tượng trong khi vẫn giữ lại trên nền vải màu xám nhạt và màu nâu ban đầu của mình.

Thời gian này, Van Gogh nhìn tranh với cặp mắt chuyên cần và  học hỏi. Nhưng phải đợi đến mùa đông 1886-87, sự khai triển thật sự mới xảy ra. Ông vẽ  cái quán ăn nhỏ với màu xanh và màu hồng, dùng màu vàng trong các bức tĩnh vật. Ông cũng vẽ “père” Tanguy tại cửa hàng để đổi lấy sơn màu đang bày bán tại đó; vẽ con đường nơi ông đang lưu trú; vẽ cái bàn trên có quyển sách bằng tiếng Pháp; vẽ những người bạn; vẽ bất cứ ai muốn ngồi làm mẫu; nhưng phần lớn là tự vẽ chính ông. Tuy vậy, không có bức tự họa nào của Van Gogh mang tính chất hạnh phúc như vẫn thấy trên các bức vẽ chân dung “père” Tanguy hay các người khác. Trái lại, dường như những bóng ma đau khổ thời kỳ ở Nuenen thỉnh thoảng vẫn thấy thấp thoáng trong nghệ thuật bây giờ của ông.

Bức sơn dầu Pittsburg “Moulin du Blute-Fin, Mont- martre” vẽ trong tháng 3/1888 (sơn dầu, 47x39.4 cm) không giống như những bức của 5 tháng trước; bây giờ nét vẽ sáng sủa hơn với nhiều màu xanh lá cây ngạt ngào, còn những màu nâu, tím và đen thì không nổi bật.

Bức  “Boulevard de Clichy” vẽ trong tháng 2-3/1887, (sơn dầu, 46.5x55cm), trình bày những thử nghiệm kiểu Pointillist, có những mảng giống hình cái thang với những đường song song mà màu sắc của nó mang rất ít, hoặc chẳng có gì giống với màu sắc của các tòa nhà trên đại lộ này thời kỳ ấy.

Ông vẽ và vẽ... Paris đã làm thức dậy sự rung cảm cho Van Gogh, giải thoát ông khỏi những dày vò mà khát vọng tôn giáo đã tạo ra trong nội tâm thuở trước. Tuy nhiên, dù cho màu sắc trong những bức mùa xuân 1887 có trở nên sáng sủa hơn, thì cách kết cấu và kỹ thuật sơn dầu của Van Gogh lại rất khác biệt với các họa sĩ phái Ấn Tượng. Ðó là bước mở đầu cho các bức sẽ được vẽ thời kỳ sau này ở miền Nam.

Có  điều, với ảnh hưởng địa vị mình trong công ty Boussod & Valadon, Théo vẫn chẳng thể bán ra được bức tranh nào của Van Gogh. Nhiều cuộc cãi vả xảy ra chung quanh vấn đề này, và không khí giao thiệp giữa Théo với các đồng nghiệp trở nên nặng nề khó chịu.   

3.

Van Gogh đã hơi cường điệu khi về sau kể với em gái rằng ông có giao thiệp với nhiều họa sĩ trong phái Ấn Tượng. Thực sự, dù đã từ lâu nhìn ngắm từng đường nét các bức tranh của họ suốt qua số tranh mà Théo và những nhà mại bản khác đang có, nhưng duy nhất Camille Pissarro trong nhóm Ấn Tượng cũ mới là người đặc biệt liên lạc với Van Gogh, ngoài ra ông chỉ gặp Degas và Monet ở quán Café de la Nouvelles Athenènes trong khu Place Pigalle trên Boulevard de Clichy, và không hề giao thiệp riêng tư với Renoir, Cézanne, Caillebotte, Morisot hay Cassatt.

Tình bạn ở Paris được Van Gogh hạn chế  chính yếu trên những nghệ  sĩ trẻ ngay khi ấy tiếng tăm chưa có  gì nổi bật. Sau Pissarro, người quan trọng nhất với Van Gogh chính là Paul Signac, mười tuổi trẻ hơn Van Gogh và là kẻ biện hộ bền bỉ nhất cho giá trị của đường lối Pointillist của Seurat. Họa sĩ cũng làm bạn với Emile Bernard, 19 tuổi, (1868-1941) (người về sau có một thời gian ngắn gia nhập phái Pointillism khi ấy đã ổn định năm 1887, chủ yếu dùng các màu sáng, khai triển cảm hứng từ những tính chất cổ xưa của vùng Breton theo đường lối sáng tạo của Gauguin).

Cả  hai Bernard và Signac đều có song thân sống tại Anières, thuộc ngoại ô Paris, cách Montmartre chừng 3 dặm. Trong mùa xuân và mùa hè 1887, Van Gogh thường cùng với một hay cả hai người bạn đến vẽ ở đó. Bấy giờ chủ đề được mở rộng theo vùng ngoại ô Clichy với những cơ xưởng và các thùng đựng khí của nó; quang cảnh bến thuyền Asnières và những nhà hàng ăn bên bờ sông Seine.

Cả  Bernard lẫn Signac đều có  ảnh hưởng đối với tác phẩm thời kỳ này của Van Gogh. Thỉnh thoảng, như trong bức “Nhà hàng La Sirène ở Asnières” (1887, sơn dầu, 54x65cm) Van Gogh dùng nhiều hơn những cái chấm nhỏ như những người Pointillist chính thống, chung quanh các nhân dáng được cho bao phủ một vầng sáng như vùng hào quang. Nhưng thật sự, ông không bao giờ thấy thoải mái với cái tính khiêm nhường trong nét vẽ Seurat hay Signac. Trong các tác phẩm riêng, Van Gogh vẫn luôn phô bày màu sắc một cách nổi bật linh động trên mặt phẳng nền vải, một giá trị cơ bản về hội họa mà ông đã học được từ Mauve, Rubens và tất cả những họa sĩ trước kia.

4.

Tại cửa hàng tranh của “père” Tanguy, mùa thu 1886, lần đầu tiên Van Gogh gặp Paul Gauguin, người vừa mới trở về Paris sau khi trải qua suốt mùa hè đến vẽ ở Pont-Aven, một làng hẻo lánh trên bờ biển Brittany, nơi mà những nghệ sĩ muốn có một đời sống đồng quê yên tĩnh và đơn giản, thường tìm đến.

Cái thái độ thô lỗ hung bạo của Gauguin khiến Van Gogh không có cảm tình trong lần đầu gặp gỡ. Cho đến về sau được Toulouse-Lautrec kể cho nghe cuộc đời Gauguin: “Thoạt tiên, Gauguin là một thủy thủ, sau đó trong suốt 11 năm trở nên một nhân viên ngân hàng, kiếm ra rất nhiều tiền, tạo dựng được số tài sản đáng kể cho gia đình vợ con. Đột nhiên, Gauguin rời bỏ tất cả mọi thứ đang có trong tay để khoác lên người cái áo choàng của họa sĩ. Kể từ đó, chàng tuổi trẻ luôn luôn lâm vào tình trạng đói rách...”, Van Gogh đâm ra nể trọng con người hung bạo kỳ dị kia.

Từ  giữa tháng 4 đến tháng 11/1887, Gauguin lại vắng mặt khỏi Paris để tìm đến vùng Martinique, Nam Thái Bình Dương. Khi trở lại với những bức tranh màu tươi sáng của miền hải đảo, sự ngưỡng mộ dành cho Gauguin trong tâm hồn Van Gogh lại càng gia tăng. Một tình bạn được kết nên giữa họ. Dù với bao cá chất khác biệt, cả hai vẫn tìm thấy một nỗi quý trọng dành cho nhau. Những cuộc bàn cãi nghệ thuật với Gauguin đã làm khơi dậy trong Van Gogh cái ước mơ thành lập một hiệp hội họa sĩ để trong tinh thần tương trợ, các hội viên sẽ có thể cùng chia xẻ với nhau những vật chất và tư tưởng. Phần Théo cũng cố gắng bán giùm những bức tranh cho Gauguin.    

5.

Hầu hết họa sĩ các phái Cloissonisme, Neo-Impres- sionisme, Realisme, Naturalisme và Impressionisme đều tìm thấy vài cảm hứng từ những bức in trên gỗ của Nhật Bản. Ðó cũng là điều giúp Van Gogh tự giải phóng khỏi xu hướng tổng hợp vào năm 1887 ở Paris. Khi còn ở Anvers, nước Bỉ, Van Gogh đã từng mua những bản in Nhật Bản rẻ tiền về cắm trên các bức tường như một hình thức trang trí. Chỉ khi đến sống tại Paris, ông mới hiểu được tính chất nghệ thuật trong chúng.

Hình ảnh đầy màu sắc về phong cảnh nước Nhật, các nghệ sĩ, những nàng geisha, hay các nhân dáng đang trồng trọt cày cấy… trên các bức in Nhật Bản này đã gây nên được một ảnh hưởng rối loạn nhưng đầy năng lực trên nghệ thuật và kiến trúc Âu Châu khoảng 1860 trở đi.

Tuy nhiên vào năm 1886-87, những loại hình như vậy  đã không còn đóng vai trò quan trọng với các nhóm nghệ thuật tân tiến ở Paris, mà nó  trở thành là những thứ trang trí phòng ốc thời trang (ví dụ như trong tác phẩm  “A la Recherche du Temps perdu” Marcel Proust đã diễn tả căn phòng ngủ của nhân vật Odette với toàn những hình ảnh Nhật Bản in trên tấm khăn trải giường bằng tơ, hay trên các lọ bình…)   

Ba bức Nhật Bản được Van Gogh chuyển sang sơn dầu, trong số có bức nổi tiếng nhất là “Loạt Tranh Nhật Bản –Cây Cầu Trong Mưa (phỏng theo Hiroshige)” được vẽ vào cuối năm 1888, (73x54cm), qua đó ông thoải mái thêm vào màu xanh lá cây thật đậm, tương phản với cái viền màu đỏ trên những tấm ván ô thẳng đứng của nguyên bản bức tranh Nhật Bản. 

6.

Trong hai năm ở Paris, Van Gogh đã ném mình vào thế  giới của những nghệ sĩ ở Montmartre và  tự học tập trau giồi nghệ thuật trong niềm hoan hỉ. Trên 230 bức tranh kết quả của thời kỳ  Paris; những bức như “Những Cây Cầu Ở Asnières” (52x65cm, vẽ trong mùa xuân 1887) và “Chân Dung Père Tanguy” (mùa thu 1887, 93x73cm) được kể là những bức đẹp nhất.

Ông cũng đã xếp đặt ba cuộc triển lãm, một cho các bức vẽ theo lối Nhật Bản của riêng ông, và hai cho những bức sơn dầu riêng, cùng chung với những bức của các người bạn phái Tân Ấn Tượng (Neo-Impressionist). Ba cuộc triển lãm được tổ chức ở quán Café de la Tambourin tọa lạc ở số 62 đại lộ Clichy.Chủ nhân là một người mẫu Ý Ðại Lợi nổi tiếng, đã từng ngồi làm mẫu cho Van Gogh qua bức “Người Ðàn Bà tại quán Café du Tambourin (Agostina Segatori)” được vẽ trong mùa xuân 1887 (sơn dầu, 55.5x46.5cm).

Riêng với cuộc triển lãm các bức vẽ theo lối Nhật Bản, kéo dài từ tháng 2 qua đến tháng 3/1887, dù đã  được Théo cảnh giác một sự thất bại, Van Gogh vẫn khăng khăng hành động. Kết quả, chủ quán bị phá sản, Van Gogh mất không những chỉ tranh mà còn cả các cái khung!  

7.

Mục  đích Van Gogh tìm đến Paris là để học hỏi về  hội họa, và ông đã thu đạt được nhiều hiểu biết về phái Ấn Tượng cũng như những phái tân tiến khác, nhưng mặt khác, ông tự thấy mình không thể nào thích hạp được với nếp sống cuồng nhiệt ở Paris.

Mùa  đông năm đó (1887), Van Gogh bất thần rơi trở lại vào những cơn khủng hoảng, kiệt sức và đâm ra không thích những cuộc họp mặt của giới nghệ sĩ Paris. Từ một bức thư gửi cho em gái, Van Gogh thú nhận rằng, tận trong sâu thẳm ý nghĩ, Paris không đem lại được điều ước mơ vẫn khiến ông bị dày vò suy nghĩ. Với những họa sĩ phái Ấn Tượng, rõ ràng là giữa họ với ông có một sự khác biệt rất sâu. Họ yêu, ngắm nhìn và mô tả trạng huống của mọi sự vật trên bề mặt nông cạn bằng cái tâm hồn tiểu tư sản. Còn Van Gogh (người nghệ sĩ Hòa Lan từng cất lên trong hội họa những âm điệu bi thương vọng từ lồng ngực gầy mòn vì thiếu ăn, từ trái tim rướm máu; con người đã nhìn được tới thấu đáy của sự đau khổ) thì lại muốn đi xa hơn trên con đường nghệ thuật của riêng ông.

Ngoài ra, các bức tranh với màu sắc sáng sủa tươi mát diễn tả các vùng đảo Miền Nam Thái Bình Dương của Gauguin đã cuốn hút Van Gogh theo ý niệm về một vùng đất hoang dã, đối nghịch hẳn với nếp sống văn minh thành phố. Một vòm trời biểu tượng cho nỗi hy vọng và ước mơ được xếp đặt bên trong một cuộc sống với phong cảnh vui tươi.   

Một hôm, Van Gogh nói với em trai rằng: “Anh phải bắt đầu lại tất cả lần nữa, anh phải đi sâu xuống trong lòng trái đất, trần truồng, trơ trọi lần nữa. Anh biết mình chỉ còn ba hay bốn năm thôi để sáng tạo, và anh phải cố gắng hết sức. Có một nơi nào đó dưới ánh mặt trời này anh phải tìm cho ra trước khi quá muộn. Tại đó sẽ có những luồng gió mà anh ưa thích để có thể cảm nhận được sự mơn trớn của nó trên da mặt anh. Ở Paris, anh không còn cảm giác gì cả...” 

Trong cuộc sống chung giữa hai anh em, Théo đã phải nhận lấy rất nhiều khó chịu. Cá tính hay gây gỗ  của Van Gogh đã là nguyên nhân cho những cuộc đấu khẩu kịch liệt giữa hai anh em; và cũng là nguyên nhân khiến cho chỉ đôi người bạn hiếm hoi mới còn tìm đến căn nhà nhỏ của Théo. Thêm nữa, sự căng thẳng trong việc điều hành cửa hàng Goupil cộng với sự thuyết phục khó khăn những chủ nhân công ty đồng ý mở rộng chiều hướng thương mãi một cách mạo hiểm, đã đẩy Théo đến trạng thái khủng hoảng suy nhược mà ông từng thụ cảm trong cơ thể. Vì vậy, vào tháng 2/1888, khi nghe Van Gogh quyết định từ bỏ Paris để đi đến một vùng hẻo lánh nào đó trong miền Nam nước Pháp-- tìm cảm hứng cho lối vẽ theo tranh Nhật Bản, Théo bằng lòng ngay.

Họ đồng ý lựa chọn với nhau, không phải Marseille mà là Arles.

Ngày cuối cùng lưu lại Paris, trong khi Théo đang bận làm việc ngoài công ty thì tại ngôi nhà riêng bấy lâu hai anh em chung sống, Van Gogh trang hoàng lại tất cả các phòng ốc. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Van Gogh chùi rửa, đánh bóng rồi xếp dọn ngăn nắp mọi thứ. Ông lôi hết những bức tranh không có khung nhét dưới gầm giường ra, phủi bụi và đóng đinh treo lên tường để cho Théo có cảm nghĩ rằng ông đang còn hiện diện. Rồi kiếm tìm những cánh hoa cắm lên chiếc bình đặt giữa bàn. Những cánh hoa thật trông dường héo hắt hẳn bên cạnh những cánh hoa trong tranh Van Gogh. Từ các mặt tường, các cánh hoa này cúi nhìn sự quạnh hiu của Théo với ánh mắt thông cảm xót xa.

Buổi chiều, từ công ty làm việc trở về, Théo tìm thấy trên bàn viết lá thư từ biệt của anh, lời lẽ rất cảm động.  

XV
(2/1888 – 10/1888)
(Arles)

1.

Ngày 26/2/1888, Van Gogh đến Arles, một tỉnh nhỏ nằm trên bờ sông Rhône, miền Nam nước Pháp. Trời rất lạnh, tuyết đóng dầy trên đường phố. Mọi cánh đồng và đồi núi đều phủ đầy tuyết, thỉnh thoảng mới thấy một cành cây nhỏ vươn lên như một chấm đen. “Giống như bức tranh phong cảnh mùa đông được vẽ bởi một họa sĩ Nhật” là cái cách Van Gogh diễn tả cánh đồng và đồi núi tuyết phủ trong lá thư thứ nhất gửi về cho Théo từ Arles. “Ðẹp như một bức tranh Nhật Bản phô bày trạng thái trong trẻo của không khí và màu xám nhạt đầy hiệu lực của không gian” là cái cách mà ông tóm tắt miêu tả với Bernard.

Rõ  ràng ông đã tìm thấy những gì ông muốn tìm.

Tại  đây, Van Gogh thuê một phòng trong Hôtel Res- taurant Carrel số 30 đường Cavalerie. Căn phòng với cái giường hẹp khổ và hai ghế nhỏ xơ xác; quán café với cái bàn bi-da ở giữa và ba ngọn đèn treo trên trần đã là những hình ảnh xuất hiện trong các bức tranh tuyệt mỹ của Van Gogh thời gian ở đây. Ban đêm, Van Gogh dành thì giờ để đọc sách. Ông đọc Daudet, Maupassant, đọc tất cả các tác phẩm nào mà ông tìm thấy được. Đặc biệt Emile Zola, nhà văn Pháp, (1840-1902) rất được ông hâm mộ. Văn chương Zola trở nên là bánh mì và phó mát cho ông.

Chẳng bao lâu, sau khi Van Gogh đến Arles, cây ăn trái trong các khu vườn cũng nhú nụ hoa. Đối mặt với những cái đẹp ngoạn mục chóng tàn này, ông thừa nhận với Bernard rằng ông đã hoàn toàn bị chụp bắt bởi Thiên Nhiên. Khắp vùng, cảnh sắc rộ lên nét quyến rũ rực rỡ. Van Gogh vẽ hằng ngày không lúc nào ngưng nghỉ. Ông vẽ những quãng trường; các con đường; công viên; cây cầu; mặt trời lặn; cánh đồng có đường xe lửa chạy ngang phía xa đàng sau... Vẽ những vườn hoa đầy màu sắc; những bông hồng trong chậu; những quả chanh trong giỏ. Ông vẽ nhiều bức tự họa; các người xứ Arles; vẻ Trung úy Millet trong trung đoàn Zouave, một chàng người bé nhỏ với cái cổ giống như con bò mộng và đôi mắt như con hổ; vẽ các nông dân Camargue. Chỉ khi trở về phòng vẽ, ông mới bắt đầu tô phết lại cho hoàn hảo bức tranh với những đường nét và màu sắc công phu.

2.

Trong tháng 3/1888, Van Gogh làm việc say mê trên 6 bức tĩnh vật cùng một lúc, vẽ quả lê, quả đào và quả táo.

Viết cho Bernard, ông phô bày nỗi ao ước mãnh liệt rằng có thể chuyển đạt được những cảm xúc của mình trên tất cả mọi màu sắc để đưa tới một sự hài hòa cho bức tranh; giống như những giòng nhạc Wagner khi được chơi bởi một dàn nhạc lớn, sẽ gây cho thính giả những giây lát thân mật bên trong một tổng thể đầy hiệu lực. Những lời này rõ ràng đã làm lôi cuốn Bernard, bởi vì sự thăng bằng giữa âm thanh và màu sắc được nối kết bằng một ngữ vựng xúc cảm riêng biệt là một phần tiêu chuẩn của những người phái Biểu Tượng / Cloissonist.

Tránh xa Paris, ít mệt mỏi bởi lo nghĩ và rượu, không bị đè nén bởi sự tiếp cận những tư tưởng xung đột, Van Gogh có thể rút ra một sự hỗn hợp tươi mát cho nghệ thuật của mình. Một trong những bức vẽ trái lê (“Cây Lê Màu Hồng Ðang Trổ Bông”, sơn dầu, 73x59.5cm), tưởng niệm Mauve, người vừa chết bất thần trong đầu tháng Hai 1888. Bức tranh nói lên cảm xúc của họa sĩ dành cho người nghệ sĩ quá cố mà dù với những tranh luận giữa cả hai, cũng đã từng cụ thể giúp đỡ Van Gogh rất nhiều trong chiều hướng làm phát lộ tài năng. Ông gửi qua tay Théo, bức tranh đề tặng cho vợ Mauve.

Sức mạnh của màu sắc, sự trong lành của không khí  và xúc cảm mãnh liệt tạo ra từ thiên nhiên tìm thấy trong Provence đã làm ngây ngất Van Gogh. Trong các bức Paris mùa xuân và mùa hè 1886, ông đã từng suy luận về nhịp điệu của các mùa qua một loạt canvas vẽ những cánh hoa bị cắt và những chậu hoa. Bây giờ, trong Arles rộng lớn, bên dưới cái vòm vĩ đại của bầu trời xanh ngát, ông miên man vẽ một cách nhanh chóng những cánh đồng lúa mì vàng óng, những cánh hoa huệ, hoa bắp đang chín tới cho mùa gặt tháng Sáu.

Làm việc nhiều giờ dài, cuối cùng Van Gogh biết rằng ông đã thực hiện được một sự hợp nhất chính xác về tầm nhìn, chủ đề và kỹ thuật trên một bức tranh.

Ông lùng sục mọi nơi để tìm những đề tài mới, đi đến Les-Saintes-de-la-Mer trong vùng châu thổ sông Rhone, nơi mà ông bị lôi cuốn bởi những cánh buồm rộng lớn trong vùng để vẽ nên cảnh biển cả và những chiếc tàu bằng những nét vẽ sáng sủa, đơn sơ (“Những Chiếc Thuyền Trên Bãi Biển tại Saintes-Maries”, sơn dầu, 64.5x81cm). Làm gợi nhớ những bức vẽ hai bên bờ sông Seine chính là vài bức trình bày quang cảnh bờ sông Rhône với những chiếc sà lan và cơ xưởng. Trên một mũi kênh yên tĩnh của sông Rhône chảy về hướng Nam Arles, ông tìm thấy một cái cầu gỗ được xây bởi một kỷ sư người Ðức. Có một bức, ông vẽ một nhóm phụ nữ đang giặt áo quần trên bờ Langloi (“Cầu Langlois Và Những Phụ Nữ Đang Giặt Giũ”, sơn dầu, 54x65cm).

Ông vẽ và vẽ... Những bức tranh ở Arles đã làm tên tuổi ông trở nên bất tử. Các tác phẩm có giá trị vĩnh cữu đã ra đời tại đây. Công việc không phải là của một đôi mắt, một bàn tay, một cái dĩa màu... mà là của một trái tim nhân ái bao la. 

3.

Để có chỗ treo tranh, ngày 1/5/1888, Van Gogh thuê bốn phòng trong một căn nhà trống không có đồ đạc ở số 2, Place Lamartine; bên ngoài sơn màu vàng, bên trong màu trắng, mặt nền được phủ một lớp gạch vuông màu đỏ đẹp đẽ. Giá tiền mỗi tháng phải trả là 15 quan. Ông thuê nó đơn giản chỉ vì không thể để các bức tranh trong căn phòng xấu xí ở quán trọ mãi được. Trong căn nhà màu vàng, trên các bức tường trắng, những bức tranh trông huy hoàng lộng lẫy hẳn. Van Gogh cũng muốn sống luôn trong căn nhà ấy, nhưng phải tốn tiền trang bị các vật dụng cần thiết. Vì vậy mà ông vẫn lưu lại quán trọ, dùng căn nhà màu vàng làm xưởng vẽ và chỗ chứa tranh.

Tháng 9/1888, do một cuộc bất hòa về các khoản chi phí với chủ nhân Hôtel-Restaurant Carrel mà Van Gogh dọn đến một quán trọ khác, Café de la Gare, số 30, Place Lamar- tine, do hai vợ chồng Joseph và Marie Ginoux làm chủ.

Những giao tiếp trí thức chỉ giới hạn trong các các cuộc chuyện trò với Boch và MacKnight, hai người nghệ sĩ đã đến thăm Van Gogh chủ yếu từ lá thư giới thiệu của Théo và những trao đổi thư tín với Bernard. Những câu hỏi và  lý thuyết cấu trúc của Bernard có thể được suy ra từ những lá thư hồi âm của Van Gogh với giọng điệu dạn dĩ khôn ngoan kiểu đàn anh, điều đã không thấy có trong những thư viết cho Théo.

Tháng 7/1888, Van Gogh kết giao với người đưa thư tên Joseph Roulin (1841-1903), hàng xóm và về sau trở thành bạn thân của họa sĩ thời gian ở Arles, một khuôn mặt Cộng Hòa kiêu hãnh đã gợi Van Gogh nhớ đến père Tanguy, và Millet, một viên Thiếu úy trong trung đoàn Zouave. Joseph Roulin và vợ thường đem những đứa con tới chơi nhà Van Gogh.

4.

Khi mùa hè đến, Van Gogh bị say đắm bởi mặt trời và màu sắc chói lòa rực rỡ của nó. Ông vẽ liên hồi, dữ dội, vẽ trong ánh nắng chan hòa và cả trong gió lạnh. Ở Paris, nghệ thuật của Van Gogh đã lên đến cao độ. Nhưng ở Arles, không bị ảnh hưởng mảy may bởi bất cứ ai, luôn cả Théo, sự sáng tác tiến đến cực điểm. Nhà nghệ sĩ tự hiến mình một cách hoang phí vào hội họa, như đã qua một lần ở Borinage tự hiến cho lý tưởng tôn giáo. Bạn hữu ở đây của Van Gogh chỉ là những con người bình dị đơn giản, vì vậy mà tránh được hết các cuộc tranh luận nghệ thuật dữ dội. Trên những bức tranh, cái ký ức về Hòa Lan thường xuyên ẩn hiện. Những bức “Cánh Hoa Mặt Trời”, “Căn Nhà Màu Vàng”, “Người Gieo Hạt”, “Chiếc Thuyền Trên Bãi Biển”... đều là những tác phẩm kỳ diệu được sáng tạo ra trong thời kỳ này.

Ngày 16/9/1888, Van Gogh dọn đến ở hẳn trong căn nhà màu vàng đã dùng làm xưởng vẽ dạo trước. Ông tự tay trang hoàng các phòng bằng những bức tranh vẽ hoa hướng dương rực rỡ và đặt tên ngôi nhà là “Căn nhà của những tín đồ Quaker”. Đây là thời kỳ hạnh phúc nhất trong cuộc đời nhà nghệ sĩ. Căn nhà màu vàng nho nhỏ đã tạo được cho ông cái cảm giác thật sự an toàn. Ông rất kiêu hãnh vì đã có riêng một trụ sở, mơ mộng đến việc thành lập một hiệp hội nghệ sĩ để có thể tương trợ và cùng nhau làm nghệ thuật.

Lúc này, Van Gogh trở lại là con người sâu thẳm  đầy tình cảm như trước. Ông không phải là một kẻ tiểu tư sản, cũng chẳng là họa sĩ  đơn giản. Cái nghĩa rộng và cao quý nhất của hai chữ “Tình Cảm” đã được thể hiện rõ rệt qua nghệ thuật và cách sống của ông. 

5.

Van Gogh là người yêu chuộng và có cái nhìn thấu suốt từ bề mặt đến bề sâu của mọi sự vật. Ông “không yêu ánh mặt trời”, nhưng “yêu mặt trời”. Cũng chính “mặt trời” là cái mà ông muốn vẽ, không phải “ánh mặt trời”. Khi ông viết trong một lá thư “Ánh vàng mới đẹp làm sao!” thì điều này không có nghĩa phát biểu lên cảm xúc hiếm hoi của nghệ sĩ, mà thật đúng là sự bày tỏ của một con người nghĩ về “màu vàng” như là màu của mặt trời, đồng nghĩa với “ánh sáng và ấm áp”. Màu vàng gợi nên trạng thái xuất thần đầu tiên (cũng giống như tư tưởng trong đầu óc), sau đó mới là màu sắc của mặt trời trong mắt nhìn nghệ sĩ. Vì vậy, giữa những bức tĩnh vật thông thường, những cánh hoa màu vàng Van Gogh vẽ ra đã nổi bật đầy ý nghĩa. Và chính Van Gogh cũng nói rằng những cánh hoa ấy gây nên trong lòng ông cái ấn tượng mạnh mẽ, giống như tấm kính cửa sổ nhiều màu nổi bật lên trong các ngôi nhà thờ có lối kiến trúc Gô-Tích.

Trong các bức tự họa, giá trị của cảm nghĩ  và sự diễn tả nội tâm được tìm thấy rất dào dạt. Van Gogh nhận rằng đã ưa thích trên hết là việc vẽ các vị thánh, nhưng lại sợ những cảm xúc của lòng mình. Chính ông đã biết, trong các bức vẽ, có khi ông muốn phô bày nỗi an bình lớn, có lúc chỉ muốn đưa ra sự cô đơn buồn khổ của con người.

Thái  độ tôn giáo của Van Gogh, sinh động hơn hết có lẽ  là trong việc vẽ những cánh hoa. Em gái ông viết rằng, ngay khi còn bé, Van Gogh đã tỏ ra hiểu được “linh hồn” của chúng. Ông thường kết chúng lại thành từng bó nhỏ bằng đôi tay dịu dàng mảnh khảnh.

Cũng chính đôi tay dịu dàng ấy mà sau này nhà nghệ  sĩ dùng gói những bức tranh vào trong thùng gỗ, hoặc săn sóc các bệnh nhân nghèo khó ở Borinage. Và  cũng chính đôi tay mảnh khảnh đó mà lúc bấy giờ  ở Arles, cây cọ của Van Gogh không những chỉ sáng tạo bề mặt những bông hoa, mà còn cả linh hồn của chúng. Trong một lá thư, Van Gogh đã mô tả rất tỉ mỉ về “nụ cười héo hắt có màu xanh tím của cánh hoa cuối cùng giữa mùa thu.” Đó là ngôn ngữ hội họa của Van Gogh, một người nghệ sĩ có cái nhãn thức trái ngược hẳn với những họa sĩ phái Ấn Tượng.

Ngoài ra, phải kể đến sự thấu hiểu của Van Gogh về  không gian giữa mọi sự vật trên các bức tranh. Ông biết cách định cho chính xác một khoảng cách, không những chỉ là khoảng cách giữa những mái nhà, cây cối, xe cộ... mà ngay cả khoảng cách chi li giữa các luống cày trên mặt cánh đồng lúa.

Trong tác phẩm, Van Gogh dùng hai cách để diễn tả tính xác thật của sự vật: Hoặc là lồng vào trong các bức tranh hầu hết các chi tiết nhỏ về đất đai, thuyền bè, nhà cửa, đồi núi (giống như các họa sĩ Nhật Bản thường làm); hoặc cố tình đơn giản hóa bằng cách bỏ quên những chi tiết. Khi ấy, nghệ thuật chỉ là một sự gợi ý. “Tôi cố gắng giữ lại trong hội họa những gì gọi là cốt tủy quan trọng của sự vật”, như đã viết cho Bernard như thế.

Dù  vậy, trong tranh Van Gogh, trội hơn cả chính là giá trị màu sắc. Qua những lá thư viết cho Bernard từ Arles, mô tả về màu sắc, Van Gogh đã tận tình ca ngợi các màu xanh lá cây, xanh da trời, màu vàng chanh, màu cam, màu son thắm hay màu tím. Ông đặt những màu sắc này lại với nhau, đối chiếu, tương phản hay hài hòa kết hợp một cách tuyệt diệu trong các tác phẩm.

Bernard đã kể lại rằng Van Gogh luôn luôn so sánh hội họa với âm nhạc và đã theo học dương cầm với một nhạc sĩ già, mục đích để tìm hiểu sự giống nhau giữa màu vàng, màu xanh da trời, màu lam ngọc hay màu son thắm, với các cung bậc của âm thanh.

Màu  đỏ cũng rất được  ưa thích với Van Gogh, ảnh hưởng từ  hội họa Nhật Bản, điển hình như các bức Cây Mận Đang Nở Hoa (sơn dầu, 55x46cm); Orian (sơn dầu, 105x60.5cm); Cây Cầu Dưới Mưa (sơn dầu, 73x54cm).

Vẻ  đẹp và sự hài hòa màu sắc trong tranh Van Gogh không hề vượt quá  giới hạn. Chúng xuất hiện trong tác phẩm cũng y hệt như  đã thấy xuất hiện ngoài vũ  trụ. Có thể ví vẻ đẹp này tương đương với những cái mà Thượng Đế đã sáng tạo trên những con chim, những cánh buớm, các bông hoa và trong cỏ cây, đất đá. Vẻ đẹp đã làm tâm hồn con người trở nên phong phú, giúp cho tư tưởng thâm trầm sâu sắc hơn.   


... CÒN TIẾP ...












© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 02.09.2010.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .