ĐEM THƠ ĐỌ VỚI TIỀN !

Dạo ấy là vào mùa đông năm Giáp Thân (1944), sắp bước sang mùa xuân năm Ất Dậu (1945). Ông Giám đốc hai tờ “Dân báo” (ra hằng ngày) và “Thanh niên Đông Pháp” (ra hằng tuần) ở Hà Nội giao bút quyền hai tờ báo ấy cho nhà báo Thượng Đạt. Thượng Đạt kể một câu chuyện vui vui về thi sĩ Nguyễn Bính như sau:

Nắm hai tờ báo rồi, tôi giao mục văn thơ cho một bạn cộng sự trong tòa soạn là Nguyễn Tử Anh phụ trách. Còn đang trẻ tuổi, hăng hái, mới bước vào nghề làm báo, Tử Anh lại là một thi sĩ mơ mộng, thường thả hồn theo mây gió, ít nhìn phía thực tế của người đời.

Bấy giờ thi sĩ Nguyễn Bính đang túng lắm, lại rất cần tiền để ăn Tết nên anh gửi thẳng đến ông Giám đốc Dân báo một bức thư đề nghị bán một bài thơ xuân để lấy tiền thưởng xuân trong cái cảnh :

Rũ áo phong sương trên gác trọ,
Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang.


(Thế Lữ)

Ông Giám đốc Dân báo có lệ: khi ai viết thư đề nghị bán bài là ông thảy cho thư ký trả lời. Gặp thầy “đắc-ty-lô” (*) làm việc như cái máy, nên thầy cứ nguyên bổn thư mẫu mà đánh máy thư trả lời cho Nguyễn Bính như sau :

“Kính ông,

Theo lệ nhà báo đã định, tiền nhuận bút là 5 đồng một trang, vậy bài thơ của ông cứ tính theo cái giá ấy, tùy theo dài ngắn mà định giá.

Chúc ông mạnh giỏi”.

Nguyễn Bính giận lắm vì gặp phải người không biết thưởng thức thơ mình. Anh cầm lá thư ấy đến tòa soạn “mắng vốn” tôi :

- Anh sống về nghề cầm bút đã lâu năm mà anh để cho báo anh đánh giá rẻ mạt bọn thi sĩ chúng tôi thế này à ? Một bài thơ tứ tuyệt hay bát cú mà lấy thước đo, có được một phần mười trang báo không? Nếu tính 5 đồng một trang thì bài thơ ấy chỉ đáng 5 cắc?

Tôi vội phân trần :

- Xin anh bớt giận. Ông Giám đốc bận nhiều công chuyện, đâu có chú ý đến từng trường hợp một, nên giao cho thư ký trả lời theo thư mẫu. Nếu anh gặp tôi sớm thì đâu có chuyện này.

Rồi tôi tìm cách đền bù cho Nguyễn Bính về việc đáng tiếc đã xảy ra.

Hai hôm sau anh đưa đến cho tôi một bài thơ khác và tôi trao cho anh cái phong bì trong đó có 25 đồng gọi là chút tiền nhuận bút (hồi đó lương trung bình của công chức là 50 đồng một tháng).

Tôi giao bài thơ cho Tử Anh và anh này khen hay, trao cho Hưng Hội vẽ tranh minh họa rồi đưa ấn công sắp chữ. Lúc khuôn báo sắp chạy, tôi mới đọc bài thơ ấy thì thấy đó là một bài thơ mới rất hay, thể thất ngôn gồm 10 khổ, 40 câu, nhan đề “Sao chẳng về đây?”. Đọc đến khổ thứ hai, tôi thấy Nguyễn Bính viết :

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn.
Làm thơ đem bán cho thiên hạ,
Thiên hạ đem thơ đọ với tiền !

Tôi giật mình vì hai câu dưới. Nguyễn Bính đã quá xúc động vì lá thư định giá thơ anh nên viết những lời oán trách người đời như thế. Tôi bèn chỉ cho Tử Anh đọc thì Tử Anh cũng chưng hửng.

Ngay hôm đó, Tử Anh phải tức tốc chạy đi tìm Nguyễn Bính để xin anh sửa lại hai câu thơ ấy vì chẳng lẽ báo nhà lại đăng những câu thơ mạt sát nặng nề ông Giám đốc tờ báo.

Nguyễn Bính bèn sửa hai câu thơ ấy như sau :

Xót xa một buổi soi gương cũ,
Đã lệch bao nhiêu mặt chữ điền.

Từ đó, hai câu thơ này luôn đi cùng bài thơ “Sao chẳng về đây?” trong các tập thơ của Nguyễn Bính.


________________________________________

(*) Đắc-ty-lô (dactylo) : chữ tắt của chữ dactylographe nghĩa là thư ký đánh máy.

SAO CHẲNG VỀ ĐÂY ?

NGUYỄN BÍNH

Lối đỏ như son tới xóm Dừa,
Ngang cầu điểm điểm (1) hạt mưa thưa.
Xuân sang xao xuyến lòng tôi quá,
Tôi đã xây tròn sự nghiệp chưa?

Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên,
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn.
Xót xa một buổi soi gương cũ,
Đã lệch bao nhiêu mặt chữ điền
(2)

Chẳng đợi mà xuân vẫn cứ sang,
Phồn hoa thôi hết mộng huy hoàng.
Sớm nay sực tỉnh sầu đô thị,
Tôi trở về đây (3) rất vội vàng.

Ở đây vô số những trời xanh
Và một con sông chảy rất lành,
Và những tâm hồn nghe rất đẹp
Từng chung sống dưới mái nhà tranh.

Sao chẳng về đây múc nước sông
Tưới cho những luống cỏ hoa trồng
Xuân sang hoa nụ rồi hoa nở
Phô nhụy vàng hây với cánh nhung?

Sao chẳng về đây bắt bướm vàng
Nhốt vào tay áo đợi xuân sang
Thả ra cho bướm xem hoa nở,
Cánh bướm vờn hoa loạn phấn hương?

Sao chẳng về đây, có bạn hiền,
Có hương, có sắc, có thiên nhiên,
Sống vào giản dị, ra tươi sáng,
Tìm thấy cho lòng một cảnh tiên?

Sao chẳng về đây lựa tứ thơ (4)
Hỡi ơi, hồn biển rộng không bờ.
Chùm hoa sự nghiệp thơm muôn thuở,
Thiên hạ bao nhiêu kẻ đợi chờ?

Sao chẳng về đây nỡ lạc loài
Giữa nơi thành thị gió mưa phai.
Chết dần từng chút trong mai một (5)
Chết cả mùa xuân, chết cả đời?

Xuân đã sang rồi, em (6) có hay
Tình xuân chan chứa, ý xuân đầy.
Kinh kỳ bụi quá xuân không đến,
Sao chẳng về đây, chẳng ở đây?

____________________________________________________

(1) Bản chép khác: đã điểm.

(2) Bản thảo đầu tiên: Làm thơ mang bán cho thiên hạ,
                                  Thiên hạ đem thơ đọ với tiền.


(3) Bản chép khác: Tôi đã về đây.

(4) Bản chép khác: lục tứ thơ.

(5) Bản chép khác: rồi mai mốt.

(6) Bản chép khác: anh có hay.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 24.08.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .