TÀI HOA MỆNH BẠC:

VINCENT VAN GOGH

(1853-1890)










    (Kiến Thức Hội Họa)


 

Kỳ 1.

Tháng 5/1873, năm tuần lễ sau ngày sinh nhật thứ 20, sau khi hoàn tất 4 năm tập sự tại chi nhánh La Haye như một người bán hàng cho công ty Goupil & Cie chuyên buôn bán tranh vẽ quốc tế, Van Gogh được chuyển sang chi nhánh Luân Đôn với một số lương được tăng là 90 quan mỗi năm. Ông đáp chuyến xe lửa từ La Haye đi qua Bruxelles và Paris rồi tới Luân Đôn. Khi chiếc tàu ngừng lại một lúc ngắn ở Bruxelles, Vincent gặp Théo, cậu em trai 16 tuổi, 4 tháng vừa qua cũng được gửi đến công ty Goupil ở Paris để học về cách buôn bán tranh và cũng đang cô đơn trong cuộc hành trình tới chi nhánh Bruxelles. Van Gogh đã rất ân cần ủy lạo Théo, khuyến khích em duy trì công việc, cho dù không ưa thích nó. Theo Van Gogh, "Goupil là một cơ sở nghệ thuật huy hoàng. Càng làm việc lâu ở đó bao nhiêu, người ta càng dễ dàng có nhiều khát vọng nghệ thuật bấy nhiêu".

Vậy mà chỉ trong vòng ba năm kế tiếp, Van Gogh bị thúc đẩy để từ bỏ nhiệm sở; sự hoan hỉ vui thích dành cho công việc được thay thế bằng cái vẻ ơ thờ lãnh đạm, tính khí trở nên khích động, tuyệt vọng.

Trong 16 năm cho đến ngày tự sát vào tháng 7/1890, ông đã trải qua không ngừng những đấu tranh kiên trì với những nỗi bất hạnh qua rất nhiều vai trò đã từng đảm nhận -giáo sư, người bán hàng, sinh viên thần học, nhà truyền giáo, và cuối cùng là nghệ sĩ.

Thật vậy, khi nói đến tên Vincent Van Gogh, người ta có thể hình dung ra hàng loạt những tác phẩm trứ danh, đồng thời với cái bóng tối âm u mà nhà nghệ sĩ vĩ đại đã cưu mang và kéo lê trong suốt cuộc sống ngắn ngủi. Cuộc đời và sự nghiệp Van Gogh được kết tréo lẫn nhau một cách chặt chẽ, không thể chia lìa thành từng phần riêng biệt. Cuộc đời và sự nghiệp ấy không phụ thuộc vào luật lệ của bất kỳ thời đại, nơi chốn hay phương pháp, chiều hướng nào của nhân loại và luôn cả của lịch sử hội họa. Chúng đi trên con đường riêng một cách độc đáo, biểu lộ tính cách cao cả siêu phàm của kẻ đã cưu mang và làm nên chúng.

Đó không chỉ là câu chuyện của một bề mặt đơn giản, một cái dĩa màu, một cây cọ..., mà là câu chuyện của một tâm hồn cô đơn, mãnh liệt sống trong những bức tường tù ngục của sự đau khổ một cách sâu sắc, cho đến ngày, tâm hồn cô đơn ấy cảm thấu mặt trời, và mặt trời soi sáng sự bí mật trong tâm hồn người nghệ sĩ. Đó cũng còn là câu chuyện của một trái tim đam mê, cao cả, được lấp kín hoàn toàn bởi chỉ hai điều: Tình Thương và Sự Đau Đớn, nguồn cội của một sự nghiệp hội họa vĩ đại.

Suốt 37 năm ngắn ngủi, chỉ có một kẻ thấu hiểu tận tường, yêu thương và giúp đỡ họa sĩ hết mực. Đó chính là Théodoré Van Gogh, người em trai nhỏ hơn bốn tuổi và đã --không giống như anh--, thành công trong nghề buôn bán tranh ảnh. Trong những lúc cùng cực khó khăn của ông anh nghệ sĩ tài hoa, Théo luôn luôn hiện hữu. Ở những cơn buồn khổ tuyệt vọng của một tâm hồn điên đảo, cũng chính Théo là người duy nhất có mặt cạnh bên. Tình thương, tình bạn, sự khâm phục và lòng tôn kính đã giúp Théo chịu đựng để vượt qua được những cá chất bất thường, mãnh liệt, mâu thuẫn và quái dị một cách hiển nhiên của người anh đầy năng lực sáng tạo; trừ ra cái điều kinh khủng mà một ngày Théo nghe xuất phát từ tận đáy lòng đau khổ của Van Gogh: "Em có thể mang cho anh tiền bạc, nhưng em không thể đem cho anh một người vợ và những đứa con!"

Sự liên lạc bằng thư tín trong 18 năm giữa hai anh em, từ những lá thư viết ra lúc cả hai còn là học sinh trung học, cho tới lá cuối cùng Théo viết dở dang được tìm thấy trong túi áo Van Gogh khi họa sĩ tự sát, là những chứng tích tuyệt vời của một tình huynh đệ hiếm có. Đó cũng là nguồn tài liệu quan trọng duy nhất được khám phá về Van Gogh và sự luyện tập kiên trì của một nghệ sĩ trước khi đạt tới đỉnh vinh quang.

Câu chuyện về cuộc đời bi tráng kéo dài 37 năm của nhà nghệ sĩ vĩ đại ấy có thể được kết luận bằng câu nói của chính ông đã thốt ra bên giường hấp hối của người cha -Théodorus Van Gogh--vào năm 1885 ở Nuenen: "Chết đã khó, nhưng sống lại còn là điều khó thực hiện hơn."  
 

I

(1853 - 1868)

(Breda, Hòa Lan)

1.

Là con trai thứ nhì (người thứ nhất qua đời ngay khi lọt lòng mẹ) trong số bảy người con của ông Reverend Theodorus Van Gogh (một giáo sĩ giảng đạo người Hòa Lan, bản tính nhân từ hay giúp đỡ kẻ khác), và bà Anna Cornelia Barbentus, (sinh trưởng ở La Haye, con gái của một nhà đóng sách nổi tiếng), Vincent Van Gogh sinh ngày 30/3/1863 trong một gia đình có cảnh sống khiêm nhường tại Groot Zundert, Breda, Hòa Lan, một làng quê nghèo nằm giữa vùng đồng bằng luôn có bầu trời mây giăng thấp và những kênh đào cắt chéo ngang dọc. Cư dân ở đây sống trong những ngôi nhà san sát chật hẹp, đặt dưới quyền cai trị của chính phủ La Mã. Họ tuân theo luật lệ, phong tục và 10 điều răn của Chúa. Van Gogh lớn lên trong cái làng đạo hạnh cổ kính ấy.

Ông nội Van Gogh là giáo sĩ tại tỉnh Breda trong vùng Pays-Bas, gần biên giới nước Bỉ. Ông có 11 người con, cha Van Gogh là con cả. Người thứ hai là một Phó Đề đốc Hải quân. Người thứ ba, mục sư. Hai cô gái kế lấy chồng có chức tước cao trong quân đội. Ba người tiếp đó không lập gia đình. Nhưng ba chú sau cùng (Cornelius, Heindrik và Vincent) mới là những người có ảnh hưởng quan trọng hơn hết đối với Van Gogh và cả Théo.

Thời gian ấy, việc học vấn tại đại học là điều khá hiếm hoi. Những người chú này đã chọn công việc giao dịch thương mại về nghệ thuật làm con đường riêng của họ.

Với sự thay đổi xã hội trong nửa đầu thế kỷ 19, giai cấp quý tộc không còn là những kẻ duy nhất được thưởng thức nghệ thuật hội họa. Đã có nhiều người trong giới buôn bán và kỹ nghệ bỏ tiền ra mua tranh. Và bởi vì ngành chụp ảnh chưa xuất hiện khi ấy, cho nên phương pháp làm một bản vẽ trên đá hay gỗ rồi từ đó đem in ra, gọi là lối tranh mô phỏng, đã trở nên nhu cầu quan trọng trên thế giới thời đó.

Trong thương trường, công ty Goupil & Cie là cơ sở mậu dịch chuyên buôn bán các bức họa nghệ thuật, trụ sở chính đặt tại Paris, đồng thời cũng có các chi nhánh ở Hòa Lan, Anh và Bỉ. Sức mạnh thương trường của Goupil nằm ở những bản vẽ mô phỏng lại từ những bức tranh nguyên thủy, phần lớn là các bức phong cảnh đủ thể loại của Pháp.

Người chú tên Vincent bắt đầu sự nghiệp như kẻ học việc trong một xưởng họa ở La Haye, thủ đô nước Hòa Lan. Về sau, nơi này biến thành cơ sở chuyên buôn bán họa phẩm và trở nên một chi nhánh của công ty Goupil & Cie, do chú Vincent tự làm chủ. Người chú tên Heindrik là giám đốc của chi nhánh Goupil & Cie ở Bruxelles (về sau, vào tháng 1/1873, Théo sẽ đến tập sự khi mới 15 tuổi). Riêng chú Cornelius lại tự xây dựng độc lập một cơ sở ở Amsterdam, Hòa Lan.

Tình thân trong gia đình Van Gogh thì rất khắng khít. Hai người em gái bà mẹ họa sĩ lập gia đình với hai người chú (em trai ông Théodorus).  

2.

Khi 11 tuổi (tháng 10/1864), Van Gogh được gửi vào một trường tư thục nội trú tại Zavenbergen, cách Zundert 15 dặm, và lưu lại đây cho đến hè 1866. Theo vị hiệu trưởng ngôi trường này (được phỏng vấn năm 1930) thì cậu bé Vincent Van Gogh không tỏ ra có gì đặc biệt, vì vậy mà ông chẳng nhớ đến cậu. Trong một lá thư cho Théo, Van Gogh cũng đã viết rằng ông học được rất ít tại ngôi trường này. (1)

Từ tháng 9/1866 đến tháng 3/1868, Van Gogh được chuyển sang một trường nội trú khác ở tỉnh Tilburg, nhưng quãng đời này cũng chẳng có ghi nhận nào đáng kể.

15 tuổi (tháng 3/1868), Van Gogh trở về nhà cha mẹ ở Zundert. Thời gian ấy, cậu bé "tánh khí ẩn dật cô độc và có bộ dáng bề ngoài không quyến rũ với chiều ngang nẩy nở nhiều hơn chiều cao; cái lưng mảnh dẻ hơi còng xuống; đầu nghiêng về phía trước; mái tóc màu cà rốt cắt ngắn được giấu trong chiếc nón rơm che lấp khuôn mặt đã sớm biểu lộ những nét bất thường; cái mũi lớn, nơi vầng trán rộng có những nếp nhăn nhỏ; đôi lông mày luôn giao lại với nhau trong nỗi nghĩ ngợi sâu thẳm; hai mắt nhỏ và sâu thỉnh thoảng ẩn màu xanh, có lúc chuyển sang màu đỏ rực tùy theo tình cảm nội tâm thay đổi..." thường hay trốn khỏi cuộc sống tẻ ngắt của cái làng im lìm như đang ngủ để lang thang một mình trong những cánh đồng rộng mênh mông, vẻ buồn bã, đầu cúi nhìn xuống đất.

Sự không thích giao thiệp, bản chất đam mê và vô kỷ luật đã là những điều làm phân biệt Van Gogh với đám trẻ cùng lứa. Chẳng ai chịu đựng được ông, trừ ra Théo, cậu em trai nhỏ hơn 4 tuổi và sẽ đóng vai trò quan trọng trong suốt cuộc đời ông về sau. Từ những ngày thơ ấu, một sự liên hệ chặt chẽ và ấm áp đã xảy ra giữa hai anh em, (kéo dài cho đến tận ngày Van Gogh chết).

Song thân Van Gogh linh cảm được điều bất thường và sự rối loạn nội tâm mà cậu con lớn sẽ phải gánh chịu. Trong những lần đến thăm các tín đồ nghèo, hai ông bà thường dừng lại giữa đường làng vắng vẻ để thảo luận về tương lai Van Gogh. Vincent là một đứa trẻ thông minh nhưng đặc biệt không thực tế và không bao giờ nghiêm chỉnh nhận định được sự cần thiết của một nền học tập tập thể hay những nghề chuyên nghiệp. Dù rằng ông Théodorus là một giáo sĩ tương đối nghèo, nhưng nếu cậu con biểu tỏ nên một khả năng riêng biệt nào đó, gia đình cũng vẫn tìm cách cho tiếp tục sự học. Đàng này, những bức phác họa thời niên thiếu chỉ là những bức tầm thường và không có dữ kiện nào cho thấy rằng Vincent có khuynh hướng sẽ là một nghệ sĩ. Cậu con họ không chỉ là vấn đề gây khó khăn mà còn là nỗi xấu hổ của họ nữa. Vì vậy giáo sĩ Théodorus quyết định rằng phải kiếm việc làm cho con trai.  
 

II

(1869 - 4/1873)

(La Haye) (Hòa Lan)

Mùa thu 1869, 16 tuổi, Van Gogh được gửi đến học việc trong chi nhánh Goupil & Cie ở La Haye thuộc quyền ông chú Vincent, người có phần hùn và đảm nhiệm một chức vụ quan trọng trong công ty Goupil & Cie ở Paris. Những bức được bán từ chi nhánh ở La Haye gồm tranh của các họa sĩ Hòa Lan đương thời. Vài trong số họ bắt chước lối vẽ của các họa sĩ Hòa Lan thời "hoàng kim" thế kỷ 17; hoặc mô phỏng cách thức cùng thể loại phong cảnh của các họa sĩ Pháp và Bỉ. Sự bày bán liều lĩnh nhất của chi nhánh ở La Haye là những bức thuộc phái Barbizon, được thành lập bởi một nhóm họa sĩ Anh thập niên 1830, chuyên vẽ thiên-nhiên-giống-như-thật, màu sắc đơn giản tươi mát. Nổi bật nhất trong phái Barbizon là họa sĩ John Constable (người Anh, 1776-1837).

Trong bốn năm, món ăn tinh thần này lần lần bổ sung cho trí não Van Gogh qua những bức được vẽ bởi từng đợt nghệ sĩ Hòa Lan thập niên 1870 trở về trước -chẳng hạn như phái La Haye, (gồm những họa sĩ nối kết kỹ thuật và chủ đề rút cảm hứng từ phái Barbizon, nhưng với một cái nhìn hoài cảm chọn lọc hơn). Những bức họa phái La Haye trong thập niên 1870 trở nên phổ biến suốt Âu Châu và nước Mỹ (đặc biệt được ưa thích bởi những nhà kinh doanh hội họa). Thông thường họ vẽ những con bò, những cái cối xay gió, các con kênh, các chiếc thuyền hay những cô gái quê; nhưng cái dấu ấn độc đáo của họ là sự sử dụng sắc sảo màu xám hay xám nhạt, tạo cho bức tranh cái vẻ huyền ảo mơ màng.

Trước khi tự nghĩ mình là một nghệ sĩ, Van Gogh đã tỏ ra rất ưa thích các bức họa như vậy. Trong phái La Haye, ông dành cảm tình đặc biệt cho hai anh em Maris & Anton Mauve (người Hòa Lan, 1838-1888), Josef Israels (người Hòa Lan, 1824-1911). Với phái Barbizon, Van Gogh chú trọng đến Jean Baptiste Corot (người Pháp, 1796-1875), Jean Francois Millet (người Pháp, 1814-1875), Jules Breton (họa sĩ-nhà văn Pháp, 1827-1906), Narcisse Diaz de la Pena (người Pháp-Tây Ban Nha, 1807-1876), Charles Daubigny (họa sĩ-điêu khắc gia Pháp, 1817-1878) và các môn đệ của họ; thêm nữa là với những bức về lịch sử của vài họa sĩ đương thời Pháp hay Bỉ. Nhưng trên tất cả, Van Gogh đặc biệt ngưỡng mộ Millet.

Dù rằng tham dự trực tiếp vào ngành buôn tranh ảnh, Van Gogh vẫn tự cách ly với những trào lưu hội họa thời ấy của Pháp và Anh, hoặc không lưu tâm đến những bàn cãi lý thuyết chung quanh các phái Hiện Thực (Realisme), Ấn Tượng (Impressionisme), Thẩm Mỹ (Aestheticisme) hay phái Biểu Tượng (Symbolisme).

Có điều quan trọng rằng, từ những bức phong cảnh hữu tình và các giao thiệp với những nghệ sĩ như vừa kể mà Van Gogh đã tự khai triển trong nội tâm một mối thắt chặt kỳ lạ với Thiên Nhiên --không bao giờ phai lạt; và tình cảm này được phơi tỏ như một đặc điểm chủ yếu trong các bức họa riêng ông 15 năm sau.

Giữa các nghệ sĩ phái La Haye, Van Gogh gần cận duy nhất với Anton Mauve, người đã đến sinh sống ở La Haye từ năm 1871 và cưới bà dì của Van Gogh làm vợ. Dù rằng khí chất u sầu, cô đơn và lớn hơn Van Gogh 15 tuổi, nhưng Mauve là người đầu tiên --trong số nhiều người--đã tận tình hướng dẫn Van Gogh đi vào con đường nghệ thuật. (Sau này lúc ở Anh, Van Gogh vẫn thường xuyên viết thư hỏi han sức khoẻ Mauve.)

Suốt bốn năm ở chi nhánh Goupil / La Haye trong phần việc gói và bán các bức tranh, Van Gogh tỏ ra rất siêng năng, hoàn tất bổn phận một cách lành nghề, gương mẫu. Cho đến lúc này, chàng tuổi trẻ vẫn chỉ như bao người khác: vào đời với một công việc làm thích thú và rất ít lo nghĩ; bị lôi cuốn bởi tất cả những điều mới lạ; say mê theo những học hỏi và phát triển của chính mình. Những người làm việc chung rất vừa ý trên Van Gogh, và chính họa sĩ về sau, trong một lá thư gửi Théo, cũng viết rằng thời gian này ông là một người buôn bán giỏi!



III

(5/1873 - 10/1874)

(Luân Đôn)

Cuối tháng 5/1873, vừa hai mươi tuổi, sau bốn năm làm việc ở La Haye, Van Gogh được chuyển sang chi nhánh Goupil & Cie ở Luân Đôn.

Có thể nói rằng năm đầu tiên ở Anh là thời kỳ thoải mái an bình nhất trong suốt cuộc đời họa sĩ. Trong những bức thư gửi từ Anh về cho Théo thấy chứa đầy những tò mò thích thú theo phong cảnh và đời sống Anh. Ngoài giờ làm việc, ông thường đi tản bộ, viếng các phòng tranh, đọc sách miên man và cũng rất say mê thi ca; học tiếng Anh tiếng Pháp đến độ hoàn hảo. Rồi cũng theo phong cách những thư ký thời bấy giờ ở Anh, ông thường đội mũ cao, mặc áo choàng, hút ống điếu. Ông cũng được nhận định là nhân viên làm việc đắc lực nhất trong công ty.

Cũng ở Luân Đôn, có được cơ hội nhìn ngắm nhiều bức tranh giá trị, Van Gogh đã để đầu óc miệt mài theo từng đường sơn nét cọ một cách tỉ mỉ. Khiếu thẩm mỹ của ông phát triển rộng hơn. Tuy nhiên, kết quả thật là tai hại khi mà ông chỉ tỏ ra ưa thích các bức có màu sắc u ám của Mauve, Ziem, Boldini, Meissoinier, Knaus, Israels, hay là một, hai họa sĩ tu hành bệnh hoạn. Nếu thảng hoặc có các tên tuổi như John Constable thì lại chỉ gợi nhắc ông nhớ về Narcisse Diaz de la Pena và Daubigny là những họa sĩ Pháp. Hoặc các bức của John Everett Millais (họa sĩ Anh, 1829-1896) cũng chỉ khiến ông nhớ đến những bức của phái Barbizon vẽ các bãi hoang hay đầm lầy. Điều vừa kể có nghĩa rằng Van Gogh bị lôi cuốn bởi những đề tài được chọn mà không phải bởi giá trị nghệ thuật của họa sĩ, và mối bận tâm duy nhất chỉ là tìm hiểu về nội dung bức tranh.

Ông cũng ngắm nhìn kỹ lưỡng ba bức triển lãm của James Tissot (họa sĩ & điêu khắc gia Pháp, 1836-1902) trong cuộc Triển Lãm Mùa Hè của Trường Mỹ Thuật Hoàng Gia. Nhiều bức của họa sĩ này cũng được bày bán tại công ty Goupil. Nhưng trên hết, sự lưu ý của Van Gogh chỉ là dành cho những bức của các họa sĩ Hòa Lan. Trong sự tò mò trên bậc thang thứ nhất dẫn vào con đường nghệ thuật, điều nói trên phải gọi là điểm nổi bật nhất trong ông.

Tháng 8/1873, Van Gogh dọn đến ở trọ trong nhà góa phụ Sarah Ursula Loyer. Tại đây, ông dùng những ngày cuối tuần vào việc vẽ tranh rồi gửi những bức này về cho mẹ và Théo, xem đó như thú vui khiêm nhường đơn giản. Buổi tối, ông thường bàn luận những gì đã đọc với các phụ nữ trong nhà trọ. Đối với Van Gogh, những buổi tối này mang một ý nghĩa hoàn hảo bởi vì trong ấy có một nàng con gái dáng vẻ trong sáng như thiên thần, được bao quanh bởi đám trẻ học trò do chính nàng dạy dỗ. Thật vui thú làm sao khi nhìn nàng giữa đám con nít! Nàng là Eugène Loyer, con gái bà chủ nhà trọ. Van Gogh bắt đầu mơ mộng đến một mái gia đình ấm cúng... Trong các lá thư gửi về nhà, ông đã vẽ ra cho các người thân thấy cuộc sống đơn giản hạnh phúc của mình tại Luân Đôn.

Sau sáu tháng lưu lại đây, sự an ổn trong tâm tư Van Gogh bắt đầu đổ vỡ. Từ bấy lâu, Van Gogh âm thầm nuôi dưỡng một tình cảm câm nín cho cô Eugène Loyer. Đến lúc ông có can đảm thú nhận mối tình ấy ra với người con gái thì mọi sự đã trễ. Một thanh niên khác đã tỏ tình trước và được cô ưng thuận hứa hôn.

Tháng 7/1874, sau khi biết rằng không có hy vọng gì trong mối tình đơn lẻ, Van Gogh lập tức rời khỏi nhà trọ để trở về nhà cha mẹ, tâm trạng buồn chán, thần kinh suy nhược và không cảm thấy ưa thích gì nữa những thú vui bình thường. Có thể nói, sự kết tủa đầu tiên cho chứng điên của Van Gogh chính là từ mối tình bị từ chối ấy.

Chàng trai vô tư lự bỗng dưng biến thành một con người khác, hay trầm tư mặc tưởng, tự xa lánh xã hội để vùi đầu vào chuyện đọc sách. Người con gái chẳng có gì đáng trách. Van Gogh không hề mang ý nghĩ xấu nào về nàng; trái lại, ông còn biết ơn nàng bởi vì sự thất vọng vô tình nàng tạo ra đã đẩy ông sang một con đường khác. Khuynh hướng tu hành khổ hạnh bắt đầu hiện ra trong ý tưởng ông.  

IV

(10 - 12/1874)

(Paris lần I)

Từ tháng 10 đến tháng 12/1874, do sự yêu cầu của ông bà Théodorus, Van Gogh được người chú tên Vincent đem sang Paris phụ giúp công việc trong chi nhánh công ty Goupil & Cie. Tuy nhiên, bộ dáng bề ngoài với cái đầu xương xẩu được bao phủ dưới lớp tóc màu cà rốt, đôi mắt nhỏ chói sáng dưới vành trán rộng, hai gò má nhô cao, cặp môi cong lại như cái bẫy kềm giữ tất cả những lời nói, đã làm bất lợi cho ông. Mỗi khi Van Gogh phát biểu điều gì thì giống như đang gầm gừ một loạt những lời lộn xộn không mạch lạc.

Trong sự giao dịch thương mại, Van Gogh cũng không biết cách cư xử. Thay vì cố bán cho được các bức tranh thì ông lại chỉ nói chuyện tôn giáo với các vị khách, tuôn ra những lời lẽ triết lý về tình thương nhân loại. Ông thường phê phán khiếu thẩm mỹ của khách hàng, và chính những người khách cũng bất bình vì không muốn được tiếp đãi bởi "một tên nông dân Hòa Lan!" Các nhân viên làm việc chung không có thiện cảm với Van Gogh khi ông thẳng thừng tuyên bố cùng họ rằng "Nghệ thuật được tạo ra để vinh danh Thượng Đế, nhưng sự buôn bán nghệ thuật thì lại chỉ giống như một tổ chức ăn trộm!"

Tháng 1/1875, Van Gogh từ giã Paris trở lại Luân Đôn.  
 

V

(6/1875 - 4/1876)

(Paris lần II)

Giữa tháng 5/1875, Van Gogh đến Paris lần thứ hai và được thu nhận trở lại vào chi nhánh Goupil & Cie. Nhưng dù làm việc với công ty Goupil & Cie, rõ ràng thái độ sống của Van Gogh đã thay đổi. Ông tỏ ra không ưa thích công việc, cũng chẳng mảy may để ý đến thành phố đẹp nổi tiếng nhất Âu Châu thời bấy giờ, hoặc không màng đến bất cứ trào lưu hội họa nào nữa. Dù rằng có thăm viếng phòng tranh của Durand-Duel để nhìn những bức vẽ của Millet, thì Van Gogh cũng không lưu tâm tới bức nào của Monets, Pissarros hay Renoirs đang được trưng bày ở đó.

Đối với Van Gogh, biến cố nghệ thuật chính của Paris là cuộc triển lãm tưởng niệm Corot vào năm 1876 và một cuộc bán đấu giá các bức vẽ của Millet tại Hotel Drouort. Dịp này, ông mua những bức "Mẹ Maria" in lại của Millet cho Théo và cho cả chính ông.

Trong các ngày chủ nhật, ông đến bảo tàng viện Louvre để miệt mài nhìn ngắm hàng loạt tranh của các họa sĩ Pháp, chủ yếu là những họa sĩ cổ điển bậc thầy như Rembrandt; hoặc đến phòng tranh Luxembourg xem nhiều bức mới của trường phái Barbizon. Những gì ông biết được về nghệ thuật có lẽ hạn chế trong các tờ báo về hội họa hoặc những tạp chí có nhiều tranh ảnh. Trong các lá thư gửi Théo thời gian này, đã không thấy đề cập gì đến những quan tâm của Van Gogh theo các điều ông đã nghe hay nhìn thấy tại Paris. Trong khi đó, nhiệt tâm về tôn giáo của Van Gogh lại được phát triển như một nỗi ám ảnh dai dẳng. Thoạt tiên, ông sống một mình tại khu Montmartre, buổi tối đọc các tiểu thuyết bằng tiếng Anh hay tiếng Pháp, hoặc những tác phẩm tôn giáo đương thời như cuốn "Cuộc Đời Chúa Cứu Thế" của Renan.

Qua tháng 9/1875, ông kết bạn với một gã trẻ tuổi xấu xí vụng về người Anh, tên Charles Gladwell, con trai một nhà buôn tranh ở Luân Đôn và cũng đang học việc tại công ty Goupil & Cie - Paris. Người này này đến chung sống cùng nhà với Van Gogh ở khu Montmartre, mỗi buổi sáng nấu súp cho ông ăn, (lương thực được cung cấp bởi người cha của Gladwell). Hai con người khốn khổ cùng cầu nguyện hay thảo luận về tôn giáo nhiều giờ không dứt và thường xuyên đi đến một ngôi nhà thờ Ăng Lê. Ý nghĩ dâng hiến đời mình cho kẻ khốn khổ xâm chiếm càng lúc càng nhiều trí não ông.

Mùa Giáng Sinh là mùa bận rộn nhất trong việc buôn bán của công ty Goupil & Cie, vậy mà Van Gogh lại bỏ trở về nhà cha mẹ nghỉ lễ. Khi trở lại Paris, ông bị người chú đuổi khỏi công ty ngày 1/4/1876.  
 

VI

(4/1876 - 12/1876)

(Anh quốc)

Ông Théodorus Van Gogh tìm đến Paris thăm con, vạch ra những kế hoạch làm việc, nhưng chẳng kế hoạch nào được Van Gogh lưu ý. Théo khuyên anh nên đi sâu vào hội họa, nhưng ngay đến ý tưởng đã từng chiếm ngụ đầu óc Van Gogh, bấy giờ cũng bị khước từ. Vốn liếng văn hóa nông cạn và lộn xộn, cá nhân ông không thích hợp được với những công việc bình thường.

Tháng 4/1876, 24 tuổi, sau khi bị đuổi khỏi công ty Goupil & Cie ở Paris, Van Gogh đi sang nước Anh và được nhận vào chức vụ giáo sư dạy vỡ lòng Pháp ngữ, Đức ngữ và Toán học trong một trường có chừng hai mươi lưu trú sinh xanh xao vì thiếu dinh dưỡng, đặt dưới quyền coi sóc của một nhà mô phạm lố bịch tên William Port Stokes, tại tỉnh Ramsgate nằm trên bờ Bắc Hải, tỉnh Kent (phía bắc nước Anh). Nơi đây Van Gogh chỉ được trả lương bằng sự ăn, ở, ngoài ra còn có nhiệm vụ đi thu học phí từ các vị phụ huynh sống trong những ngôi nhà chật hẹp. Từ công việc này mà Van Gogh có được cái nhìn thấu suốt về cảnh sống của những người nghèo khó. Vì vậy, ngay từ lần thứ nhất làm phận sự, ông không nỡ mở miệng đòi tiền các vị phụ huynh, nên chẳng đem được gì về cho chủ. Ngay sau đó, tháng 6/1876, Van Gogh bị đuổi khỏi trường học ở Ramsgate.

Ông bèn bỏ đi đến Isleworth, một tỉnh gần Luân Đôn và được nhận vào làm việc trong một trường nội trú khác, điều hành bởi một người thuyết giáo Méthodist tên Reverend T. Slade Jones. Với người này, Van Gogh có thể thảo luận sâu hơn về các vấn đề thuộc tâm linh. Ngoài các giờ dạy hằng ngày, Van Gogh còn được ông này khuyến khích nhận thêm các lớp thuyết giảng Chủ nhật trong nhiều nhà thờ Methodist khác nhau.

Tư tưởng muốn an ủi những kẻ bất hạnh ngày càng trở nên mạnh mẽ trong tâm hồn Van Gogh. Các lá thư gửi Théo tháng 11/1876 thấy ghi đầy các câu trích từ Thánh Kinh hay các lời văn đầy sùng kính ca tụng Chúa.  

VII

(12/1876- 4/1877)

(Dordrecht, Hòa Lan)

Mùa Giáng Sinh 1876, bất thần Van Gogh từ bỏ nước Anh để đến Etten, nơi cha mẹ ông hiện đang cư ngụ trong một nhiệm sở mới. Ông Théodorus khuyến giục con trai nên lưu lại hẳn trong Hòa Lan. Nhưng suốt thời gian nghỉ lễ, Van Gogh vẫn tỏ ra buồn bã cực độ, đến nỗi khi ông từ giã lên đường, gia đình ông mới có thể thở ra nhẹ nhõm.

Tháng 1/1877, do sự giới thiệu của ông chú Vincent, Van Gogh được nhận vào chân đứng bán hàng trong một tiệm sách ở Dordrecht (Hòa Lan), nơi mà công ty Goupil cung cấp các ấn bản tranh cho họ. Trong bốn tháng, Van Gogh làm nhiều giờ hơn những nhân viên khác nhưng vẫn tỏ ra không thích thú với bất cứ điều gì của công việc hiện tại. Thỉnh thoảng, ông đọc và giảng Thánh Kinh cho khách hàng nghe. Thời kỳ này, Van Gogh sống như một nhà tu khổ hạnh, mặc toàn áo quần của người đạo Quaker, không đọc bất cứ sách gì ngoài Kinh Thánh, tất cả mọi mong muốn chỉ là được dâng mình cho Chúa. Trong nội tâm, Van Gogh ao ước giống như cha: sống cuộc đời bình thản công bằng và được mọi người yêu mến. Ông Théodorus chỉ là một giáo sĩ ở thôn quê không có gì quan trọng, nhưng ông là người trong sạch đạo hạnh và trên dáng dấp như toát ra cái vẻ vô cùng thánh thiện.

Đối với nỗi ao ước của con trai, ông Théodorus không thể từ khước. Sự thật, có thể ông hài lòng vì một người con của mình đã được Chúa chọn. Nhưng tất cả những điều Van Gogh làm vì đạo giáo đã thể hiện rõ rệt tính chất dữ dội. Càng ngày ông Théodorus càng thấy khó khăn hơn trong việc chuyện trò về tôn giáo với con trai. Van Gogh tỏ ra từ chối hết thảy mọi ngăn trở trong sự ham muốn được đến gần Chúa -như thể Chúa đang đợi chờ ông đâu đó! Người cha thật sự kinh hoảng vì những ý tưởng mãnh liệt trong đầu Van Gogh; nhưng không thể ngăn cản ý hướng tu hành của con.

Dù với những trạng thái buồn phiền u uất, thỉnh thoảng Van Gogh vẫn còn nghe thích thú theo cảnh vật chung quanh và phác vẽ những bức tranh về chúng. Sự vẽ tranh lúc ấy đối với Van Gogh cũng giống như các bài hát mà lữ khách thường huýt sáo một mình khi đi trên con đường làng hiu quạnh. Hiển nhiên, những hiểu biết về hội họa trong ông quãng đời này còn rất hạn hẹp, đến nỗi một tượng Chúa vô giá trị đặt tại công viên Gethsémani ở đây, đúc bởi Ary Scheffer, lại là điều duy nhất khích động được lòng hâm mộ của ông. Tuy vậy, Van Gogh không lưu lại lâu trong Dordrecht. Lúc bấy giờ ông đã quyết định sẽ trở thành một tu sĩ. Vì vậy, điều cần thiết là phải lấp đầy học vấn trình độ đại học mà ông thiếu sót.  
 

VIII

(5/1877- 6/1878)

(Amsterdam, Hòa Lan)

Một giải pháp tốn tiền và dài hạn được gia đình họp lại để cung ứng cho những ước muốn của Van Gogh.

Để sửa soạn cho cuộc thi vào khoa Thần Học kéo dài trong hai năm tại đại học Amsterdam, Van Gogh phải đến ở trọ trong nhà người chú góa vợ - Đô đốc Hải quân Johannes Van Gogh--tại Amsterdam để học tiếng Latin và tiếng Hy Lạp dưới sự chỉ dạy của một học giả nổi tiếng, Dr. Mendes da Costa do người chú là mục sư tên Stricker tìm cho. Tại đây, dù không thích bộ dáng và kỷ luật nhà binh của chú nhưng trong 13 tháng, Van Gogh cũng đã tận tình học hỏi hai thứ ngoại ngữ đó. Tuy nhiên, sự học không mấy tiến bộ. Ông Mendes da Costa nói với ông Théodorus rằng con trai ông không thích hợp với những lề lối giáo khoa như vậy. Thế là Van Gogh được giải thoát.

Cũng theo lời ông da Costa, thời gian này, Van Gogh thường hay lấy roi tự quất vào mình, ngủ ngoài trời mùa đông không có chăn đắp, để tự trừng trị mình sự kiện đã không tiến bộ trong việc học. Nhưng rồi chẳng bao lâu, ông nhận thức ra rằng mục đích ông muốn đạt tới không phải là văn phạm tiếng Latin hay Hy Lạp, mà là sự làm điều lợi ích cho kẻ khác. Chẳng phải rằng ông Théodorus không cần biết đến một thứ ngoại ngữ nào cũng có thể an ủi các nông dân nghèo khổ hay sao?  
 

IX

(7/1878 - 12/1878)

(Bruxelle, Belgique)

Tháng 7/1878, Van Gogh bỏ, không học nữa. Và rồi từ một quyển sách địa lý nhỏ, ông được biết đến vùng mỏ than Borinage thuộc tỉnh Mons, miền Tây nước Bỉ. Những con người sống dưới mặt đất sâu trong những hầm mỏ cần ánh sáng nhiều hơn bất cứ ai khác. Tư tưởng muốn an ủi kẻ nghèo sống dậy càng mãnh liệt hơn trong óc Van Gogh.

Ông lại cầu cứu đến sự giúp đỡ của cha. Nhưng để được chứng nhận vào chức vụ truyền giáo, Van Gogh phải trải qua một khóa học hai năm trong Trường Truyền Giảng Phúc Âm Cho Người Nghèo tại Laeken, gần Bruxelles, với chi phí ăn ở tự đài thọ.

Một lần nữa, con người đảo điên nổi loạn ấy lại phải giam mình giữa các bức tường kỷ luật của trường lớp. Lần này, để đạt mục đích, Van Gogh phải chịu đựng. Ông học rất siêng năng. Nhưng dù tỏ ra là người xuất sắc nhất trong số ít ỏi các học viên thì sự cư xử thô lỗ, bề ngoài lôi thôi cùng cách nói chuyện khó khăn trước công chúng đã khiến ông bị đánh rớt sau ba tháng học tập (từ tháng 8 đến 11/1878). Dẫu vậy, Van Gogh vẫn được phép đi rao giảng Thánh Kinh như một nhà truyền giáo độc lập bằng tiền túi riêng tại Borinage, thuộc tỉnh Mons, miền Nam nước Bỉ.  
 

X

(Mùa đông 1878 - Mùa hè 1880)

(Mons, Belgique)

Ngày 26/12/1878, Van Gogh đi đến Borinage, vùng mỏ than đen tối thuộc tỉnh Mons(2) với cảm nghĩ như đang bước vào vùng đất Thánh.

Thời gian ở Anh, Van Gogh từng nhận ra phương hướng của mình là sự dấn thân vào giữa đám người nghèo; hoặc khi còn ở với gia đình, đã từng nhiều dịp nhìn thấy những nông dân, các đầy tớ hay các người lao động nghèo khổ trong giáo khu của ông Théodorus; nhưng phải kể rằng trong bốn năm làm việc ở Borintage, những người thợ mỏ tại đây mới đúng là đối tượng trực tiếp đầu tiên mà Van Gogh gần gũi. Phản ứng trong ông là một sự xúc động không kềm nén. Ông cảm nghe thân mật ngay với nơi cư ngụ mới, như thể trước đó ông chưa hề biết đến bất cứ nơi nào khác trên quả địa cầu. Ông lập ra các lớp học Kinh Thánh, thăm viếng nhiều người bệnh và an ủi những kẻ đau khổ. Những con người đơn giản ở đây đón tiếp ông một cách nồng nhiệt. Dưới lớp bụi than dơ bẩn, các đường nét mạnh mẽ, kết quả của bao hiểm nguy và khốn khó trong đời sống, đã in dấu rất rõ trên khuôn mặt họ. Qua cách giao tiếp, tuy họ có lỗ mãng tục tằn, nhưng trong bản chất lại tỏ ra không hề giả dối. Ngay từ lần đầu tiếp xúc, Van Gogh đã không bị họ đánh giá thấp bởi cái bề ngoài lôi thôi xốc xếch. Mọi buồn phiền u ám trong nội tâm tan biến hẳn. Sự thoải mái vui thích đã thật sự hiện ra trên Van Gogh và cả trên những con người bất hạnh như ông.

Tháng 1/1879, hội đồng thuyết giáo nhóm họp lại và đưa ra quyết định không chấp thuận Van Gogh vào hàng ngũ giáo sĩ, lý do là Van Gogh không tuân theo những lề lối họ đặt ra và đã tự hạ giá mình quá trước các tín đồ, chia xẻ đời sống đau khổ với những nông dân nghèo khó!

Dù thế, sau lời cầu xin và hứa hẹn của Van Gogh, hội đồng tôn giáo ở Bruxelles chấp thuận cho ông thêm 6 tháng thử thách tại Wasme, một làng cũng thuộc Borinage. Ở đây, có những con người còn nghèo hơn cả chính Van Gogh. Họ đau khổ, đói ăn và chẳng có áo quần để mặc. Van Gogh quên hết mọi lời khuyến cáo của hội đồng tôn giáo, quên cả những lời mình đã hứa, mà chỉ nhớ duy nhất đến những gì Chúa dạy về tình thương nhân loại. Để rồi cũng như lần trước, ông đắm mình hoàn toàn vào công việc, đem hết tất cả vật dụng hiện có ban phát cho người nghèo. Ông ngủ trên sàn đất lạnh trong một cái lều nhỏ; đi đây đi đó bằng chân, không mang vớ dài; khoác trên mình cái áo choàng của lính; hành trang được cuộn lại vỏn vẹn thành một gói nhỏ. Ông giúp đỡ tận tình những bệnh nhân trong một cơn dịch sốt phát ban lan tràn khắp xứ. Ông cũng thuyết giảng Thánh Kinh, dù cái duyên ăn nói đã không được Thượng Đế phú cho. Ông săn sóc an ủi những người thợ mỏ khi họ kiệt sức trở về nhà sau 12 tiếng đồng hồ làm việc trong hầm, hay khi họ bị thương bởi những tiếng nổ bên dưới mặt đất. (Mùa hè năm 1879, tại Wasme có một tai nạn hầm mỏ khủng khiếp làm thiệt mạng nhiều người, đã ghi dấu rất nặng nề trong tâm hồn Van Gogh.) Ông ăn những thức ăn tồi kém chẳng có gì bổ béo, vì vậy mà trở nên rất gầy ốm. Tuy nhiên ông không tự cho phép dừng lại giữa đường và vẫn đắm mình trọn vẹn vào công việc xã hội từ thiện, giống như cây thánh giá được vác trên vai đến ngọn đồi chết Golgotha mà ông đã chọn từ lâu.

Mặc dù là giáo sĩ nhưng chính ông Théodorus cũng không hiểu được các hành động tích cực của con trai. Ông đến thăm, cố gắng làm dịu bớt tư tưởng phải gánh chịu khổ nạn để vui lòng Chúa trong tâm hồn Van Gogh, tìm cho con chỗ trọ học trong nhà một người làm bánh. Ngay cả đến hội đồng tôn giáo tại Bruxelles cũng lấy làm kinh hoảng vì "sự nhiệt tâm quá độ" của Van Gogh.

Cuối cùng, có thể vì cái điều Van Gogh đã tỏ bày lòng nhân ái nồng nàn chân thật quá, và cũng có thể chẳng bao lâu sau vụ nổ mùa hè 1879 ở Wasme, các người thợ mỏ kêu gọi đình công, mà Van Gogh bị khiển trách nặng nề. Rồi với lý do không chính đáng là vin vào sự thuyết giảng không được lưu loát của ông, hội đồng tôn giáo ở Bruxelle bãi nhiệm ông hẳn sau khi giao kèo 6 tháng thử thách đã hết.

Nhưng, Van Gogh vẫn lưu lại trong Borinage trọn cả mùa đông năm 1879, giữa những con người rất nghèo, với không một công việc nào nhất định, mà chỉ sống vào sự cung cấp ít ỏi của cha và Théo.

Thời gian này ông sáng tác một loạt các bức màu nước, vẽ cảnh sống những người thợ mỏ. Đây cũng là lúc bắt đầu một sự vật lộn gay go giữa khát vọng tôn giáo và khuynh hướng nghệ thuật trong nội tâm ông. Sự mâu thuẫn được tỏ bày khi trong một lá thư cho em trai, ông đã kêu lên rằng: "Chúa là nghệ sĩ cao cả nhất trong số những người nghệ sĩ", đồng thời, trong một lá khác, ông lại tâm sự: "Anh luôn luôn muốn sống với hội họa." Rốt cuộc, sau rất nhiều dằng co nội tâm, nghệ thuật đã thắng.  
 



... CÒN TIẾP ...












© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác giả chuyển từ Hoa Kỳ ngày 08.08.2010.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net
. Đăng tải lại yêu cầu ghi chú rõ nguồn Newvietart.com .