BỤT CHÙA ... NGƯỜI  



THIẾU KHANH


Trong một tham luận tại Hội nghị quốc tế giới thiệu văn học Việt Nam ra nước ngoại tổ chức tại Hà  Nội vào đầu tháng Giêng 2010, một đồng nghiệp của tôi đề nghị đừng để người nước ngoài “can thiệp” vào bản dịch của mình.

Tham luận viết: “... có một việc rất không nên làm là các dịch giả, mỗi khi dịch xong một dịch phẩm thường đem ra cho các người ngoại quốc xem và sửa hộ.  Việc làm này trước nhất là biểu lộ tính không tự tin, tính ưa ỷ lại vào người khác, sau là biểu lộ việc luôn luôn coi người nước ngoài là giỏi hơn mình. Việc luôn luôn coi người nước ngoài là giỏi hơn mình về ngôn ngữ của họ là rất sai lầm. Đơn giản là một người nước ngoài nếu ít học, hoặc có nhiều học đi nữa, nhưng không thông thạo về lãnh vực văn chương chữ nghĩa, thì chắc chắn sẽ không giúp gì được ta và chắc chắn sẽ hại ta vì khi cho họ xía vào THÌ LẬP TỨC BẢN DỊCH SẼ CÀNG NGÀY CÀNG XA NGUYÊN TÁC. Lý do đơn giản là vì người nước ngoài, làm sao họ có thể hiểu rõ tiếng Việt như ta.” (tất cả chữ in nghiêng và chữ LỚN ở trên là do tác giả của tham luận).

Tác giả  tham luận phát hiện “7 điều hiểu lầm trong tổng số 78 trang của bản dịch” có ghi “revised by Allison Tr...” (được cô / bà Allison Tr... hiệu đính), và nêu ra một ví dụ trong số đó:

Trích:

Câu: “như khôn ngăn một xúc động lớn lao

Được dịch là: “Wisdom blocks strong emotions.” 

“Người ngoại quốc duyệt lại đã nhẩm chữ khôn (ở đây có nghĩa là không ngăn được) thành sự khôn ngoan nên mới dịch là wisdom” (hết trích),

Tuy tác giả tham luận “nói có sách mách có chứng” một cách cụ thể nhưng nghe như vẫn có vẻ gì đó cực đoan. Có thể có nhiều lý do để một dịch giả “mỗi khi dịch xong một dịch phẩm thường đem ra cho các người ngoại quốc xem và sửa hộ,” nhưng lý do dễ đoán trước tiên, có lẽ đúng như tác giả nói, là “thiếu tự tin” chứ chưa đến nỗi “ỷ lại vào người khác.” Mà thiếu tự tin đối với một ngôn ngữ không phải là tiếng mẹ đẻ của mình là điều có thể hiểu được. Khi một người dùng một ngoại ngữ nào đó như ngôn ngữ thứ hai thì khó có thể hoàn toàn thông thạo như một người bản ngữ, trừ khi anh ta đã “already gone native”, tức đã lớn lên hoặc đã sống lâu năm trong cộng đồng dân chúng tại đất nước của ngôn ngữ đó, và đã trở thành giống như người bản xứ, không những sử dụng ngôn ngữ đó lưu loát như tiếng mẹ đẻ, mà còn cảm nhận được những nét tinh tế về ngữ nghĩa và cả tính văn hóa tế nhị thấm nhập trong đó. Có lẽ không có nhiều dịch giả (nói riêng là “của ta” ở trong nước) có được kỹ năng vận dụng ngôn ngữ đích lý tưởng đến như thế. Cho nên nếu ai có nhờ một dịch giả người bản ngữ hỗ trợ cho mình, tưởng cũng không phải là quá đáng. Và điều này có lẽ vừa biểu lộ sự thận trọng và vừa cầu thị.

Ngoài ra, ngôn ngữ cũng tương tự một “vật thể” có sự sống: được sinh ra, phát triển và  biến hóa, già cổi và chết. Nếu một người bị  cách ly khỏi một ngôn ngữ cụ thể trong một thời gian dài thì khó tránh khỏi bị lạc hậu trong nhiều mặt sử dụng ngôn ngữ đó, thậm chi có trường hợp người ta quên mất cả tiếng mẹ đẻ. Trong tình huống như thế nếu không kịp tự “cập nhật” kỹ năng và kiến thức mới cho mình thì nhất thời có lẽ không thể không nhờ đến sự hỗ trợ từ một người bản ngữ có am hiểu để bài viết hay bản dịch của mình không bị... “stale.” Đây chỉ là tôi... suy bụng ta ra bụng người và có lẽ không đến nỗi khó chấp nhận.

Mười năm trước đây, một hôm tôi đến tòa soạn một tờ tạp chí Anh ngữ nhận khoản nhuận bút của mấy bài viết trước đó; trong khi trò chuyện, ông Chủ bút tờ tạp chí thân tình nhận xét tiếng Anh của tôi “đạo mạo” quá và, vì thế, hơi... cổ.

Tôi không tự ái vì ông ấy nói không sai. Biết làm sao được, tôi mới vừa trở về thành phố sau hai mươi bốn năm sống cuộc sống nông dân cuốc rẫy và “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”; về thành phố không có hộ khẩu, nhà thì mua chui, phải lao vào kiếm sống ngay mà không kịp có thì giờ “update” cho mình, cho nên thứ tiếng Anh của tôi lúc đó là của phần đầu nửa sau của thế kỷ trước. Giá như lúc đó có nhận thực hiện một tác phẩm nào quan trọng chắc chắn là tôi sẽ rất thiếu tự tin, và phải nghĩ đến việc nhờ một người nước ngoài nào đó có quen biết “revise” (duyệt) giúp bản dịch. Vì thế, có lẽ tôi không khắc khe với chuyện này.

Dù sao, tôi nghĩ, việc “chữa lành hóa què” mà bài tham luận nêu ra có lẽ chỉ xảy ra khi các tác giả nguyên tác không biết ngoại ngữ. Họ không biết ngoại ngữ mà lại có thêm tâm lý “Bụt chùa nhà không thiêng” nên sau khi đã nhờ một dịch giả chuyên nghiệp dịch tác phẩm của mình ra tiếng nước ngoài rồi họ lại đem đi “khấn đền này miếu nọ” xem bản dịch có “thiêng” không. Các đền miếu họ đến thường không phải là đền miếu hẳn hoi mà có khi chỉ là nơi họ tưởng là đền miếu, hoặc chỉ là... một miếu thờ vong tử nạn rải rác hai bên xa lộ chớ chẳng phải đền cao miếu lớn gì. Vì đâu phải ai cũng có điều kiện thuận tiện để có thể đến được các đền miếu nghiêm túc mà hỏi ý kiến một cách nghiêm túc. Một anh Tây ba lô nào đó thì dĩ nhiên của nã thường chỉ có thể giới hạn trong chiếc ba lô mà thôi. Kết quả như tác giả bài tham luận nêu ra là điều hiển nhiên.

Có lẽ  nên biết rằng một người Việt Nam dù không hề  đến trường lớp nhưng gần như rất hiếm khi nói sai tiếng Việt (không kể việc sai giọng do sự biến đổi ngữ âm tùy theo vùng miền). Không những thế họ sử dụng tiếng Việt với vô vàn tục ngữ, thành ngữ và điển tích một cách hết sức nhuần nhuyễn, tự nhiên và chính xác. Đó là điều mà có lẽ không một người Tây phương ít học nào có thể làm được đối với ngôn ngữ mẹ đẻ của họ. Khả năng đó đòi hỏi ở họ một trình độ đại học.

Khả  năng của một người tay ngang đối với ngôn ngữ của họ đã rất hạn chế như vậy thì họ không hiểu được tiếng Việt là đương nhiên. Mang bản dịch của một dịch giả chính thức đến nhờ họ “phán” thì không chỉ giống như “giao trứng cho ác” hay giao trâu lành để đổi lấy trâu què mà còn làm tổn thương người dịch tác phẩm cho mình, chưa nói đến việc chính mình tỏ ra thô thiển trong ứng xử.

Người đồng nghiệp tác giả bài tham luận mà tôi đề cập sở dĩ gay gắt với hiện tượng này vì bản thân ông, trong bốn thập kỷ làm công việc này, đã gặp một số tình huống “dở cười” như thế. Có lần một tác giả mang bản dịch tập thơ của mình do dịch giả nói trên thực hiện đi hỏi một ông “thầy giỏi tiếng Anh” nào đó, và được ông này “phán” bằng cách liệt kê ra cả chục trang giấy những điều mà “ông thầy” cho là thiếu sót của dịch giả. Không may, cả chục trang giấy trưng bày đầy đủ sự dũng cảm của người viết, khiến dịch giả nổi giận còn các bằng hữu của ông cười đến đau bụng và đên chảy nước mắt. Tôi nhớ trong những trang giấy đó con người dũng cảm ấy đã chê dịch giả nọ không biết dịch chữ “Chàng Trương Chi” là... Truong Chi guy!

Có người dũng cảm theo cách khác: sau khi được tác giả nguyên tác mang bản dịch đến nhờ “phán”, một ông bèn ghi thêm vào dưới tên dịch giả dòng chữ “edited by XYZ (được ông XYZ hiệu đính)! Tác giả tưởng cái tên ông XYZ đó bảo trợ cho giá trị của bản dịch mà mình đã tin cậy khi nhờ một dịch giả chuyển ngữ, nên “vô tư” đưa bản dịch lên trang web của mình với tên người “hiệu đính” làm tầm gửi ăn theo!

Kể chuyện những cây đa bonsai hoặc đang phát triển tự phong thần này thì không tới đâu trong khi sự mê tín “Bụt chùa người” không chỉ xảy ra nơi những người bình thường “thiếu tự tin” mà còn được một số cơ quan văn học trong nước thực hiện một cách chính thức.

Vào khoảng cuối năm 2009, nhiều dịch giả (trong cả nước ?) nhận được thư mời tham gia viết hoặc dịch các tác phẩm văn học cho một tạp chí văn học Việt Nam bằng tiếng Anh xuất bản ở HN. Thư mời có nói rõ bản dịch hay bài viết tiếng Anh sẽ được các editors người nước ngoài “hiệu đính”. Cứ cho là chuyện bình thường. Dù sao, thứ tiếng Anh của người Việt lớn lên trong nước, học hành trong nước viết ra dễ thành... Vietglish lắm, không thể bằng người bản ngữ được, hoặc ít ra cũng không thể bằng 100%. Để cho người bản ngữ “nhuận sắc”, chắc chắn là nó “looks and sounds English” - đọc lên nghe ra tiếng Anh hơn. Có điên mới cải vã chuyện này.

Nhưng đó  là về tiếng Anh thôi. Mà khi nhuận sắc bản dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh thì các editors người nước ngoài ấy cũng phải “rành” tiếng Việt nữa chớ? Họ phải hiểu thấu đáo tiếng Việt thì mới có thể biết câu văn dịch có chính xác hay không cái đã, trước khi “nhuận sắc” cho đúng kiểu cách cú pháp tiếng Anh.

Trong số  các tác phầm văn học tôi mang về từ cuộc hội nghị quốc tế ở HN hồi đầu năm có  quyển “Thơ Nữ Việt Nam Từ Xưa Đến Nay”, bản in lần thứ hai, là sách biếu của Nhà Xuất Bản Phụ Nữ. Đúng như tên sách, cuốn sách giới thiệu thơ của rất nhiều nhà thơ Nữ Việt Nam quen và... chưa quen (đối với riêng tôi) từ xưa đến nay. Sách có bài giới thiệu khá dài của Lady Borton, một tác giả mà tên tuổi có thể nói là không lạ trong giới văn học VN, nhất là trong giới dịch thuật. Ngoài các tác phẩm như Sensing the Enemy: An American Among the Boat People of Viet Nam; After Sorrow: An American Among the Vietnamese, Hồ Chí Minh: A Journey, Lady Borton đã dịch các tác phẩm của Tướng Võ Nguyên Giáp (Điện Biên Phủ: Rendez-vous With History), của tiến sĩ Lê Cao Đài (The Central Highland: A North Vietnamese Journal of Life on the Hồ Chí Minh Trail) của Phạm Hồng Cư (General Giáp: His Youth). Ngoài ra chị (cùng với nhà văn hóa Hữu Ngọc) là biên tập chính của hai mươi lăm đầu sách văn học Việt Nam xuất bản song ngữ trong nước. Chị cũng là biên tập viên phần tiếng Anh của cuốn sách Thơ Nữ Việt Nam… này.

Chừng đó cho thấy Lady Borton phải là một người rất thông thạo tiếng Việt, tưởng khó ai có thể nghi ngờ về khả năng am hiểu tiếng Việt của chị. Phải rất hiểu tiếng Việt trước khi nói đến hiểu và dịch văn học, nhất là thơ, Việt, huống hồ là làm editor “phán xét” bản dịch của các dịch giả khác trước khi in.

Bài giới thiệu của Lady Borton trong cuốn sách nói trên mở đầu bằng hai câu “đề từ”:

Ải Bắc quân thù kinh vó ngựa
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi.

Đó là hai câu trong bài thơ Trưng Vương của nhà thơ Ngân Giang được Lady Borton dịch ra tiếng Anh đặt ở đầu bài viết:

Her horse on the pass terrified the enemy;
Golden armor bands cooled her elephant’s head.

 Tôi rất ngạc nhiên với hai câu thơ dịch đó. Dường như dịch giả không nhận ra hết nội dung rất hàm súc của câu thơ nguyên tác, trong đó hai từ “Ải Bắc” xác định rõ danh tính quân thù của hai bà Trưng và của nhân dân Lạc Việt chớ không phải một quân thù chung chung và mơ hồ nào, nên câu thơ dịch của Lady Borton thành ra nhẹ hều: ngựa của bà trên con đường núi làm cho quân thù khiếp sợ.

Thêm vào  đó, có lẽ dịch giả không hiểu từ “khăn trở” trong câu thơ của Ngân Giang nữ sĩ có nghĩa là khăn tang, cho nên chị đã không nhận ra sự đối chọi của hai hình ảnh “giáp vàng’ và “khăn trở”, biểu trưng sự quyết liệt trong lòng người phụ nữ mang tang chồng đi đánh giặc. Trong câu thơ dịch của Lady Borton thừa một chữ bands nhưng thiếu từ khăn trở. Trong ngữ cảnh này ’bands’ không thích hợp với cái gì cả. Trước hết, bands có nghĩa là các ban nhạc, rồi những nhóm người, và những dải băng hay cái “băng đô” (bandeaux) buộc tóc của các cô gái. Mà dải băng hay cái “băng đô” thì không bao giờ là khăn tang. Có lẽ từ weed thích hợp hơn –tuy  với người Tây phương thì weed màu đen, còn với nhiều dân tộc Á Châu và người VN thì weed màu trắng.

Câu thơ  dịch của Lady Borton dễ khiến tôi ngờ dịch giả đã đọc khăn trở lạnh đầu voi thành ra “khăn” và... “trở lạnh” và chị đã dịch theo hướng đó. Dĩ nhiên không ai vì cái “Golden armor bands”  của chị mà nghĩ rằng dịch giả hiểu nghĩa câu thơ là… những nhóm người (lính) mang áo giáp bằng vàng, hoặc những ban nhạc mang giáp vàng (nếu vậy ắt chị đã viết “Golden armored bands”)  làm lạnh đầu voi! Càng không thể “áo giáp vàng (và) … những cái buộc tóc làm cho lạnh đầu voi” nếu chị hiểu khăn trở là những cái băng-đô. Vả lại, “lạnh đầu voi” mà chỉ là “cooled her elephant’s head” thì mot-a-mot quá, có lẽ không đáng cho một dịch giả cỡ như Lady Borton. 

Ngay từ hai câu thơ dịch dẫn ý ở đầu bài giới thiệu khiến tôi ngạc nhiên và... tò mò về cách dịch giả hiểu tiếng Việt trong các tác phẩm văn học mà chị dịch sang tiếng Anh nên tôi đọc tiếp những câu và đoạn thơ do chính chị dịch và được chị trích dẫn trong bài giới thiệu của chị. Tôi chỉ đọc những câu thơ chị dịch thôi, chớ không đọc toàn bài giới thiệu (vì tôi chỉ muốn biết khả năng thấu hiểu tiếng Việt của một dịch giả tầm cỡ như chị thôi). Đọc xong tôi lại nghĩ đề nghị của tác giả bài tham luận mà tôi đề cập trên đây là có cơ sở và có lẽ không có gì là cực đoan.

Với những câu của bài thơ Lời Thề Sông Hát:

Một xin rửa sạch thù nhà
Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

được dịch giả Lady Borton dịch là:

First pledge: Wash away the enemy;
Second pledge: Rebuild the Hùng Vương’s ancient karma.

Nghiệp xưa họ Hùng” chính là sự nghiệp của gia tộc họ Hùng dựng nên quốc gia đầu tiên của người Lạc Việt. Nghiệp đó phải được chuyển dịch bằng từ gần tương đương career (như sự nghiệp rực rỡ: glorious career), hay achievement (như sự nghiệp văn chương: literary achievement). Còn karma chỉ là một khái niệm trong Ấn giáo và Phật giáo nói về cái nghiệp (báo) mang tính nhân quả của con người trong cuộc sống này và đời sau. Viết “... Hùng Vương’s ancient karma” là một cách dịch ”mot à mot” thô thiển vì người dịch không hiểu ý nghĩa của tiếng Việt trong nguyên tác. Với một dịch giả tay mơ thì điều đó có lẽ không khiến người ta ngạc nhiên lắm, nhưng một người như Lady Borton vốn được nhiều người trong giới văn học Việt Nam tin tưởng và đánh giá rất cao và giữ trách nhiệm biên tập các tác phẩm văn học in song ngữ Việt Anh của nhà xuất bản thì đó là một điều rất đáng thất vọng.

Với bốn câu ca dao này:

Ru con con ngủ cho lành
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng

Hai câu sau được dịch giả Lady Borton dịch như sau:

When scalling mountains on your own,
Remember Bà Triệu, her elephant, her resounding gong
!

(Khi con tự mình leo lên đỉnh núi
Hãy nhớ Bà Triệu, con voi và tiếng cồng vang dội của bà) .

Đó là dịch giả sáng tác, nếu không muốn nói là viết bừa – có lẽ vì không hiểu nguyên văn – chớ không phải dịch. Hay dịch và... phản, traduttore traditore, là như vậy chăng?

Câu ca dao

Bao giờ cho đến tháng hai

mà được dịch là

. With the second month in sight

(thì... tháng hai đã đến rồi đó.)

Và 

Con gái làm cỏ con trai be bờ

thì bờ đây là bờ ruộng (bank) vì con gái làm cỏ ruộng thì con trai be bờ ruộng, không phải là bờ đê (dike), người ta đắp đê, chớ không ai be bờ đê bao giờ; cho nên be bờ nên là “to bank up, chớ không phải to build the dike như trong câu dịch của Lady Borton:

Girls weed out grass, boys build the dike.

hoặc :

Thân em như tấm lụa đào

được dịch:

My fate, a peach silk band

Tuy rằng silk band không thỏa đáng lắm, nhưng có lẽ nên thêm: My fate is like...

Có và  không có is like trong câu thơ dịch này ý nghĩa của nó sẽ khác nhau; mà đúng với câu ca dao tiếng Việt thì phải nói My fate is like = như, giống như.

Em thấy anh, em cũng muốn chào
Sợ anh chồng cũ đứng bờ rào hắn trông
Hắn trông thì mặc hắn trông
Đã quyết một lòng ta quyết lấy nhau

Bài dịch:

I saw you, I wanted to speak
But worried my husband had stood up to peek
Even if he was staring instead
You and I, dear, have agreed to wed.

To speak tuy không hẳn là chào, nhưng dịch giả muốn ép cho nó vần với to peek ở câu dưới, cho nên “thông cảm” được. Và chính ở câu thứ hai có những điều bất cập chứng tỏ người dịch không hiểu rõ nguyên văn câu tiếng Việt nên dịch sót. Không phải the husband had stood up to peek, mà là anh ta was standing there – by the hedge – to peek. Một trong hai từ mà dịch giả dịch sót là rất quan trọng: đó là từ – anh chồng cũ – my ex-husband. Thiếu tiếp đầu ngữ ex- ngắn ngủn này, người đọc bản tiếng Anh sẽ bối rối không hiểu được vì sao cô gái có chồng đang đứng nhìn kia mà còn đòi lấy nhau với người khác nữa!

Nhưng ở  đây phải viết “worried that” chớ (But [I’m] worried that my husband…), sao lại chỉ “worried” không thôi? (Đừng thấy chị là người bản ngữ viết như thế mà bắt chước viết theo chị là… trật đấy, không giỡn đâu.). Có thể là lỗi của người đánh máy vi tính.

Những câu ca dao:

Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé không nằm với tôi
....
Một rằng thương hai rằng thương
Có bốn cẳng giường gẫy một còn ba.

được dịch:

At fifteen, I was already wed;
Protective, my husband didn’t take me to bed.
....
Once we loved, twice, a spree –
Until we broke a bed leg, leaving three!

Ở Mỹ có luật bảo vệ người dưới mười tám tuổi. Giao hợp với trẻ dưới mười tám tuổi là một tội nặng. Có phải vì vậy mà dịch giả người Mỹ này đã tự ý “lái” cái việc “chồng chê tôi bé” thành ra vì bảo vệ tôi mà chồng không nằm với tôi không?

Trong tiếng Anh có expression “once bitten, twice shy” gần nghĩa với câu châm ngôn tiếng Việt “Một lần cho tởn tới già,” nhưng dĩ nhiên nó không ăn nhập gì với câu ca dao Việt “Một rằng thương hai rằng thương.” Biến chế “once bitten twice shy” thành một dạng tương tự “Once we loved, twice a spree” thì nó cũng... không ăn nhập gì luôn.

Hai câu 

Nữ nhi này đặng có thi
Ắt là tay thiếp kém gì trạng nguyên

được dịch thành:

This girl is taking the exam,
Like the best scholar, strength is at hand

Nếu dịch ngược hai câu tiếng Anh này của dịch giả Lady Borton trở lại tiếng Việt thì sẽ thành ra… nhất sao thất bổn ngay:

Cô gái này đang đi thi
Văn nhân đệ nhất, quyền uy sẵn rồi!

Với  “Khúc hát hái sen”:

Kìa kìa cô ả tóc xanh
Trong khi nhàn rỗi ra ghềnh hái sen
Dịu dàng kín đáo thuyền quyên
Miệng hoa chúm chím ngồi thuyền tập bơi

được Lady Borton dịch sang tiếng Anh như sau:

Yonder, a girl with black hair
Creates tiny whirpools as she leisurely gathers lotus
A young girl, sweet and reserved,
Paddling a dinghy among blossoms starting to bloom.

Rõ ràng là dịch giả không hiểu nguyên văn tiếng Việt nên “dịch” liều. Chị “sáng tác”  Creates tiny whirpools Paddling a dinghy among blossoms starting to bloom mà không vì một nhu cầu tu từ hay gì gì cả, và bỏ lơ không dịch câu “Miệng hoa chúm chím ngồi thuyền tập bơi”!.

Câu thơ  Chinh Phụ Ngâm “Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy”, chị dịch:

They both stare once again yet see nothing at all.

Stare once again không thể là trông lại được. Trông lại, trong ngữ cảnh này, là ngoái đầu nhìn lại, còn stare là nhìn chầm chập, trừng trừng người nào hay vật gì ở trước mắt.

Những câu thơ đầu trong bài thơ Vịnh cái quạt giấy của Hồ Xuân Hương:

Mười bảy hay là mười tám đây
Cho ta yêu dấu chẳng rời tay

được dịch:

Seventeen or eighteen you should be
Cherished, never leaving his hand.

Ta” chẳng chịu chủ động rời cái “vật ấy”, chớ có phải nó không chịu rời tay chàng nào đâu!

Trong câu dịch I try for the sticky rice, but it’s always stale, cụm từ I try for the sticky rice chưa diễn đủ cái ý “cố chịu đấm để được ăn xôi” trong câu thơ Hồ Xuân Hương “Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẫm”. Có lẽ dịch giả không hiểu thành ngữ “cố đấm ăn xôi” chăng?

Câu này nhà  thơ dịch giả John Balaban, người đã dịch thơ Hồ Xuân Hương – Spring Essence - diễn đạt dài dòng hơn, nhưng vẫn chưa “chuyển” được cái vị cay đắng của sự “cố (chịu) đấm”:

You try to stick to it like a fly on rice
but the rice is rotten.

Mấy câu thơ của nhà thơ “tiền thơ mới” Nguyễn Thị ManhManh:

Gió lọt phòng không
Tạt hơi đồng
Lạnh như đồng
Ngồi mơ tưởng
Ngày xưa phất phưởng
Dấy động tơ lòng

được Lady Borton dịch thành:

Wind slips into the empty room
Slashing fresh air from the fields
Cold as copper.
She sits dreaming –
The old days floating by;
Gossamer threads rousing the heart

Phòng không” trong thơ đâu phải là cái phòng trống không (empty room)! Đó là cảnh cô đơn của người phụ nữ vắng chồng ở nhà.

Hơi đồng” là cách nói tắt “hơi lạnh như đồng” chớ có phải… gió ngoài đồng ruộng thổi vào đâu mà dịch “Tạt hơi đồng” là Slashing fresh air from the fields!

Dịch giả  không hiểu khái niệm “tơ lòng” nên dùng thừa những chữ gossamer threads. Thực ra chẳng có những sợi (tơ / chỉ) nhỏ nào ở đây. Và chính nhà thơ ngồi mơ tưởng, chớ không có một nhân vật ngôi thứ ba “she” nào sits dreaming cả.

Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công

mà dịch là

One hapless step: Two chariots ravaged
The right opportunity: A victorious pawn

thì còn cách xa ý nghĩa của nguyên tác hơn cả cách dịch mot-à-mot. Lạc nước là đi sai một nước cờ, to have made a wrong go. Bỏ phí một vật gì thì vật đó vẫn còn nguyên trong tình trạng tốt, mà không có cơ hội để dùng đến, chớ không phải là bị phá hủy hay phá hỏng (ravaged). “A victorious pawn” không hề mang nghĩa “một tốt cũng thành công”.

Nếu dịch giả là một tay ngang không thông thạo cách diễn đạt bằng tiếng Anh, ta có thể gắng gượng bỏ qua cách dịch những câu “Lấy yếu chống mạnh, thường đánh bất ngờ / Lấy ít địch nhiều hay dùng mai phuc,” như thế này:

With unforseen tactics, the weak can defeat the strong
By using sodiers to ambush, a few can defeat the many.”

Unforeseen là đối với quân địch, những kẻ “failed to expect what would happen” – không dè trước, không lường trước những gì sắp xảy ra, cho đến khi chúng bị tấn công; còn đối với chủ thể chủ động tấn công thì làm sao mà unforeseen được? Phải là sự bất ngờ, chiến thuật bất ngờ “công kỳ vô bị” chớ!

…the weak can defeat the strong
…a few can defeat the many

chỉ  mới là các khái niệm. Còn “Lấy yếu chống manh / Lấy ít địch nhiều” là sách lượt mà Nguyễn Trãi đã thực hiện và thành công, chớ không phải chỉ là ý tưởng “có thể… có thể…”

Không tiện hỏi chị Lady Borton có con bao giờ chưa, vì  người Tây phương có thể coi đó là chuyện riêng tư, nhưng đọc những câu thơ Xuân Quỳnh được chị dịch dưới đây người ta có thể nghĩ chị vừa không hiểu rõ tiếng Việt, vừa hình như… chưa có con:

Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi
Con chơi với đất con chơi với hầm:

At three months you turn your head, at seven you crawl
You toy with the earth, you play with a bomb shelter.

“Lẫy” hay “lật” là đứa trẻ lăn người qua, chớ ba tháng mà mới biết xoay đầu qua lại (turn your head) thì đứa trẻ yếu quá, làm sau mà bảy tháng biết bò cho được. Nhưng crawl là bò, mà đứa con của nhà thơ Xuân Quỳnh bảy tháng đã ngồi được rồi đó. Ngồi với bò khác nhau chớ nhỉ?

Nhà thơ  sinh con trong hầm trú bom. Đứa bé lớn lên trong hầm, chơi trong cái hầm đó, cho nên có lẽ nó “play with the bomb shelter” chớ lẽ đâu lại “with a bomb shelter”. Hầm tránh bom có phải là món đồ chơi trẻ con đâu. Chẳng qua dịch giả không hiểu rõ nghĩa tiếng Việt nên sơ suất như thế.

Trời xanh các ngả ngoài kia
Cỏ xanh quanh những hàng bia trên mồ.

Chỉ  nhẹ nhàng thế thôi, trời xanh và cỏ xanh ngay bên ngoài miệng hầm tránh bom, mà dịch giả tưởng tượng thêm những chi tiết không cần thiết:

The sky is blue, but away over there
The grass is green on the ancient tombs.

Trong bài thơ có nói đến ngôi cổ mộ nào đâu! Cũng không phải do yêu cầu của vần điệu để dịch giả thêm vào but awayancient một cách vô cớ. Sau đây dịch giả còn vài dịp “bổ sung” ý mình vào tác phẩm của người ta như thế.

Những ngày không gặp nhau
Biển bạc đầu thương nhớ

The day they didn’t meet
The white-capped sea fill with longging.

“Đầu của biển” giả dụ vậy, trở nên bạc đi vì thương nhớ, hay vì thương nhớ mà biển trở nên bạc đầu, chớ không phải biển với sóng bạc đầu làm cho đầy thương nhớ. Những ngày trong nguyên tác thì nhiều và bất định, không rõ bao nhiêu ngày và bao giờ, tạo cảm giác miên man; the day trong câu dịch thì ít và khẳng định vào một ngày cụ thể đã xảy ra chuyện đó. Dịch giả hiểu rõ tiếng Việt và thận trọng hẳn không sai lầm như thế.

Nếu từ giã thuyền rồi
Biển chỉ còn sóng gió

If the boat should part without a farewell

Đâu nhất thiết phải “bổ sung” ý của dịch giả bằng cách thêm vào “without a farewell”. Trong tiếng Việt, “từ giã” đã hàm ý “having bid farewell to” rồi. Không chừng “ra đi không lời từ biệt” trong trường hợp câu thơ dịch này là ngoài ý muốn của nhà thơ Xuân Quỳnh, chỉ vì dịch giả không hiểu hết ý thơ của nhà thơ quá cố. Nhưng trong câu thơ nguyên tác thì biển từ giã thuyền, mà dịch giả lại đảo ngược thành … thuyền ra đi không lời từ biệt! Có lẽ thuyền rời biển thì hợp logic hơn, nhưng đây là dịch một bài thơ chớ có phải viết luận văn đâu. Nhà thơ có những lý do nghệ thuật khi nói biển từ giã thuyền – được hiểu là xa mất thuyền rổi, chớ không phải thuyền rời bỏ biển, mà dịch giả phải tôn trọng sự sáng tạo của tác giả thôi.

“Bổ sung” ý mình vào nguyên tác có lẽ là “thủ pháp” ưa thích của Lady Borton, như chị lại thực hiện một lần nữa khi dịch câu thơ của nhà thơ nữ Vi Thùy Linh:

Thơ cho những người phụ nữ thoát ảo ảnh cam chịu buông xuôi
Cự tuyệt vai trò thứ yếu.

được Lady Borton dịch:

Poems so women will escape illusion, resignation, descent
So they can reject a minor role in love.

Không những đã không “lột” được ý của nguyên tác, dịch giả lại còn thêm ý mình vào, thay tác giả đặt ra một sự xác định “in love” cho những người phụ nữ “cự tuyệt vai trò thứ yếu”.

Những thêm thắt như thế không những không lấp đầy lỗ hổng do thiếu thấu hiểu tiếng Việt gây ra mà còn phô bày rõ thêm khuyết điểm đó của người dịch.

Trên  đây là những vần thơ của một số nhà  thơ nữ Việt Nam được dịch giả Lady Borton dịch sang tiếng Anh và được chị trích dẫn trong bài giới thiệu của chính chị ở đầu cuốn sách Thơ Nữ Việt Nam từ Xưa Đến Nay. Ngoài bài giới thiệu dài 25 trang sách này, dịch giả Lady Borton còn dịch nhiều bài ca dao Việt Nam cũng in trong cuốn sách, nhưng tôi không đọc thêm. Những sai lầm kể ra trên đây chẳng phải là đã quá nhiều rồi sao? Hơn hai mươi điểm không chính xác trong số 31 đoạn thơ dịch được trích dẫn chỉ trong 25 trang bài viết, vị chi mỗi ba đoạn trích dẫn thì có đến 2 điều cần xem lại. Vị đồng nghiệp của tôi chỉ phát hiện có 7 lỗi trong 78 trang bản dịch mà đã giật mình rồi kia.

Tôi chỉ đọc tuần tự những đoạn thơ trích dịch của dịch giả Lady Borton để thấy mức độ chị hiểu tiếng Việt ra sao, ngoài ra tôi chưa biết rõ sự am hiểu văn hóa Việt Nam của chị như thế nào. Tuy nhiên, khi chị viết :

“only one poem by Nguyễn Thị Lộ remains extant, with these lines of advice to Nguyễn Trãi:
Draw on noblemen for you feeling,
Draw on saint and sages for your ethics,

Beware the offspring of saints and sages.”

(Chỉ còn lại một bài thơ của Nguyễn Thị Lộ với những dòng thơ khuyên nhủ Nguyễn Trãi:

Lấy quân tử làm lòng
Lấy thánh hiền làm đạo
….
Nghiệm xem con cháu thánh hiền sinh

– theo bản dịch của Xuân Oanh in trong sách )

thì tôi ngờ rằng chị chưa biết gì nhiều về tinh thần văn hóa truyền thống Á Đông nói chung, và có thể cả lịch sử và văn hóa Việt Nam nói riêng.

Nguyễn Trãi là một khai quốc công thần của nhà Lê, quân sư – tức là thầy – của vua Thái tổ Lê Lợi, làm quan đến chức Nhập nội hành khiển, tương tự như thủ tướng, hiện nay được tôn nhận là danh nhân văn hóa thế giới. Nguyễn Thị Lộ là “bậc” nào mà có thể “khuyên bảo” một “đại nhân” như Nguyễn Trãi bằng những lời đạo lý thô sơ căn bản như lời mẹ dạy con hay người trên răn bảo kẻ dưới như thế? Theo năm sinh ghi trong sách, Nguyễn Thị Lộ nhỏ hơn Nguyễn Trải đến mười tám tuổi, và được Nguyễn Trãi “nạp thiếp” khi còn nhỏ tuổi, có lẽ khoảng mười sáu (trăng tròn lẻ), nếu căn cứ vào câu thơ tương truyền bà đối đáp với Nguyễn Trãi. Tuy bà có làm thơ, về sau có được vời vào triều và được phong học sĩ để dạy lễ nghĩa cho cung nữ của Vua, nhưng với tuổi tác và địa vị thứ thiếp trong gia đình cộng với nghĩa “phu xướng phụ tùy” bà không phải là người có thể “khuyên bảo” đạo lý với một ông chồng Khuê văn Hầu tầm vóc như Nguyễn Trãi. Chẳng qua các văn nhân thời xưa coi văn chương là phương tiện chuyên chở đạo lý (văn dĩ tải đạo) nên trong thơ văn của họ luôn nói chuyện đạo đức lễ nghĩa thánh hiền như những lời bày tỏ chung chung vậy thôi.

Thật ra, tôi không có chủ ý vạch ra các sai lầm của dịch giả Lady Borton trong chuyện dịch thuật. Tôi cũng là dịch giả như chị. Lấy gì bảo đảm tôi có thể hiểu tiếng Anh tốt hơn chị hiểu tiếng Việt? Nếu mình không giỏi một ngôn ngữ nào đó ngoài tiếng mẹ đẻ cũng chẳng phải là chuyện tội lỗi gì cả, và có thể sửa chữa cho tốt hơn. Giá như tôi được đọc cuốn sách này sớm hơn, có lẽ tôi đã có dịp nói chuyện riêng với chị ở Hà Nội, như vậy thì hay hơn là viết ra thế này. Tôi nghĩ tôi có nhìn thấy dịch giả Lady Borton ở… dãy bàn đối diện trong buổi hội thảo về văn học cổ điển Việt Nam tại khách sạn Tây Hồ. Chẳng qua nghĩ đến việc mình giới thiệu văn học của dân tộc mình ra nước ngoài mà phải chịu sự “xem xét” của những “Bụt chùa người” mà sự thông hiểu của họ về ngôn ngữ, văn hóa và văn học Việt Nam là chưa có gì “bảo lãnh”, nếu không tiện nói là rất đáng ngờ, nên tôi lấy làm ngạc nhiên… và hơn thế nữa.

Nhiều thứ  hàng hóa ngoại “tốt” hơn hàng nội, nhưng không lẽ bao giờ Bụt chùa người cũng thiêng hơn Bụt chùa nhà, cả trong ngôn ngữ và văn học Việt Nam?

Chuyện  đó dường như đã rõ. 
 








© Cập nhật ngày 25.07.2010 trên Newvietart.com theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn
Sao chép, đăng tải lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com