VĂN CAO 

(1923 – 1995)



Về Văn Cao , nhạc sĩ Phạm Duy nói:” Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều.” Quê gốc Nam Định của Văn Cao là một trong những nôi văn hiến của Việt Nam (chỉ sau Thăng Long). Tài năng âm nhạc của Văn Cao sớm bộc lộ. 16 tuổi, chàng trai Văn Cao đã góp mặt trong đời sống âm nhạc Việt Nam với Buồn tàn thu. Đầu thế kỷ 20 xuất hiện phong trào thơ mới và dòng văn học lãng mạn. Vài năm sau đó thì Tân nhạc Việt Nam hình thành. Tôi xin để Phạm Duy, tác giả Nhạc sử Việt Nam nói về Văn Cao:

“Văn Cao là người đẻ ra "Hùng ca Việt Nam". Dù loại nhạc này đã được Thẩm Oánh, Hoàng Quý hay Lưu Hữu Phước có công khai phá, nhưng thật là "Việt Nam" thì phải là Tiến quân ca, Chiến sĩ Việt Nam và Bắc Sơn.

Ngoài phản ánh trung thực tinh thần anh dũng của dân tộc thời kỳ đầu của cách mạng, với nhạc điệu và lời ca lạc quan và hào hùng, về phương diện nhạc ngữ, nhạc hùng ca của Văn Cao quyến rũ là vì nhạc sĩ thường chuyển đổi đột ngột từ chủ âm qua hạ át âm, một đặc tính của nhạc Việt. Sự chuyển cung trong loại nhạc hùng Văn Cao rất phong phú.

Văn Cao là người khai phá Truyện ca nhiều hơn ai hết. Tôi đã có nhiều dịp nói lên sự vĩ đại của Thiên Thai, Trương Chi, trong những bài viết trên báo hay trong sách. Hơi thở của thơ Đường trong sáng, của thơ trữ tình bình dân Việt Nam lồng lộng trong "Truyện ca" Văn Cao. Có nuối tiếc, có hận tình nhưng không bao giờ có tuyệt vọng. Tiếng ca lúc nào cũng phơi phới, "còn rền mãi nơi cõi tiên", "còn theo tiếng vỗ mạn thuyền", "còn riêng ta, ta ca trên trái đất"...

Văn cũng là người đẻ ra trường ca, còn tôi chỉ là người thừa kế. Trường ca sông Lô phải là đỉnh cao nhất của nhạc kháng chiến nói riêng, của tân nhạc Việt Nam nói chung. Sự dài hơi trong những câu nhạc trong bài chứng tỏ nhạc sĩ Văn Cao đã trưởng thành ngay từ lúc tân nhạc vừa mới ra đời”.

Văn Cao đa tài, ngoài sáng tác nhạc, ông còn làm thơ, vẽ tranh.Tháng 2 năm 1956, bài thơ Anh có nghe không của Văn Cao được đăng trên Giai phẩm mùa Xuân. Bài thơ này bị Xuân Diệu đánh giá là "lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì". Hai bức tranh của Văn Cao Người thổi sáo Cây đàn chủ nghĩa trưng bày trong một triển lãm bị coi là lai căng và có vấn đề về tư tưởng.

Nhạc sĩ Văn Cao đi vào lịch sử Việt Nam với bài quốc ca Việt Nam: Tiến quân ca. Tài âm nhạc đưa Văn Cao tới tột đỉnh của vinh quang. Hào quang ấy che lấp nhiều kẻ có tài. Họ trở thành địch thủ, ghen ghét hận thù ông. Họ không tiếc lời bôi nhọ Văn Cao.

Nếu tài âm nhạc mang lại cho Văn Cao vinh quang bao nhiêu, thì tài văn thơ hội họa lại dìm ông xuống gần đáy xã hội bởi những dèm pha mang tính thù nghịch của những địch thủ. Văn Cao hưởng, hứng chịu tất cả vinh-nhục mà một đời người vướng phải. Văn Cao ôm trọn câu thơ của Nguyễn Du “Chữ tài cùng với chữ tai một vần”.

Cuộc đời Văn Cao trải dài gần trọn thế kỷ 20. Cái bóng của Văn Cao trải dài hết con đường Tân nhạc Việt Nam. Văn Cao dặn con cháu phải NHẪN. Nhờ cái NHẪN mà Văn Cao giữ cân bằng được trong cuộc sống của mình, rồi ông cũng nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm. Trước khi chia tay cõi tạm, thiên hạ không quên ông, Đêm Văn Cao như lời chia tay ngọt ngào, để Văn Cao thanh thản về nơi vĩnh hằng. Tiến quân ca còn, Văn Cao còn.






_____________________________________________________________


(*) Nhạc sĩ Văn Cao tên thật là Nguyễn Văn Cao, sinh năm 1923 tại Hải Phòng trong một gia đình viên chức nghèo. Cha mất sớm, Văn Cao sống với mẹ và anh ruột tại một khu lao động nghèo cạnh bờ sông Hải Phòng, và trưởng thành trong cảnh đói khổ, thiếu thốn. Về đường học vấn, ông chỉ học đến năm thứ 2 bậc Thành Chung thì gia cảnh sa sút, phải bỏ học, lang thang mưu sinh nhiều nghề. Trong những năm tháng ấy, Văn Cao có dịp tự học thêm về âm nhạc và ca khúc đầu tay của ông, "Buồn Tàn Thu", đã ra đời năm 1939 khi tác giả mới 16 tuổi, đúng vào lúc nền Tân nhạc Việt Nam mới thôi thai.

Từ đầu thập niên 40, chuyển lên Hà Nội lập nghiệp, bắt đầu nhận vẽ tranh quảng cáo và sáng tác nhạc trong một căn gác nhỏ, ọp ẹp (số 45 Nguyễn Thượng Hiền hiện nay), nhìn sang phố Khâm Thiên và chứng kiến bao cảnh đời khốn khổ, tài năng thiên phú của Văn Cao nở rộ trên phương diện âm nhạc. Hàng loạt bản nhạc tình của ông ra đời, toàn bích và sang trọng cả về ca từ và nhạc điệu, như "Thiên thai" (1941), "Bến xuân" (1942), "Cung đàn xưa" (1942), "Suối mơ" (1943), "Trương chi" (1943)... đã đưa Văn Cao lên địa vị nhạc sĩ xưng tụng tình yêu bậc nhất của nền Tân nhạc Việt Nam thời ấy.

Ngoài âm nhạc, Văn Cao còn theo học hội họa 2 năm trên tư cách một bàng thính viên tự do tại Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương (Hà Nội) từ năm 1942; tranh của ông được các hoạ sĩ cùng lứa như Lương Xuân Nhị, Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ, Nguyễn Đỗ Cung đánh giá cao, đặc biệt là bức họa lập thể "Cuộc Khiêu Vũ Những Người Tự Tử", một trong ba bức sơn dầu rất lạ được báo giới đặc biệt khen ngợi và được treo ở chỗ tốt nhất tại phòng tranh của kỳ triển lãm Salon Unique năm 1943, do Nhà Khai trí Tiến Đức tổ chức. Nhà nghiên cứu nổi tiếng Thái Bá Tân, trong bài "Văn Cao - người đi tìm cái đẹp", đã nhận định: "Nếu âm nhạc và thơ là một bản thể tươi tốt của anh, thì hội hoạ là một tri thức sâu sắc. Cách nhìn thế giới của anh nghiêng về hội họa. Là bởi phép viễn cận của các thời đại hội hoạ, là tiềm thức sâu kín của phối cảnh xã hội, nơi Văn Cao tỏ ra những nhạy bén về xúc cảm, và tinh tường trong quan sát".

Bên cạnh hội họa, Văn Cao còn viết truyện ngắn, phóng sự và kịch; ông cũng là một nhà thơ với những cách tân trong thi ca, với những thi phẩm mang âm hưởng lạ và có phần mới hơn Thơ Mới như "Đêm mưa", "Một đêm đàn lạnh trên sông Huế", "Ai về Kinh Bắc", "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc"... Tài năng thiên bẩm của Văn Cao trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật đã khiến nhà thơ Thanh Thảo, một trong ba người được tác giả ủy thác biên tập và lựa chọn các thi phẩm để in trong tập "Lá" (năm 1988), phải thốt lên: "Trong một Văn Cao có quá nhiều Văn Cao: Văn Cao thơ, Văn Cao họa, Văn Cao hiệp sĩ, Văn Cao Quốc ca, Văn Cao rượu đế... Một Văn Cao đa tài, đa nguyên, đa nạn... Một Văn Cao lặng lẽ như chén rượu mỗi sớm, lặng lẽ như những dòng chữ lít nhít trong sổ tay, lặng lẽ như Thơ..."

(nhipcauthegioi.hu)


© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 21.07.2010 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com