VÀI MẨU CHUYỆN VỀ NHÀ THƠ HỮU LOAN

Hữu Loan là tác giả bài thơ nổi tiếng “Màu tím hoa sim” viết năm 1949. Ông tên thật là Nguyễn Hữu Loan, sinh năm 1916 tại Thanh Hóa. Nhà nghèo, nhưng chăm học nên ông cũng đỗ được bằng Tú tài I thời Pháp thuộc.

Ông tham gia cách mạng từ năm 1936, trong phong trào Mặt trận Bình dân. Cách mạng tháng tám thành công, ông làm Ủy viên văn hóa trong Ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa. Từ những ngày đầu kháng chiến, ông phụ trách tờ báo “Chiến sĩ” của Quân khu 4. Năm 1948 ông làm Trưởng ban Tuyên huấn sư đoàn 304 đóng ở Thọ Xuân, Thanh Hóa. Năm 1954, tiếp quản thủ đô ông được mời ra làm trong ban biên tập báo Văn nghệ. Năm 1956 ông gia nhập nhóm Nhân văn Giai phẩm.

* ĐƯỢC TIN VỢ MẤT, LÀM THƠ

Theo nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ Núi đôi nổi tiếng - thì năm 1948, ông và Hữu Loan cùng làm báo Chiến sĩ ở Quân khu bốn. Một hôm hai người cùng ngồi trong một quán nhỏ ở Thanh Hóa, Hữu Loan đột ngột báo cho ông biết cô Lê Đỗ Thị Ninh vừa mới mất. Bàn tay Hữu Loan cầm cốc nước run lên bần bật, nước bắn tung tóe xuống bàn, mặt ông tái xanh. Và sau này, ở Việt Bắc, Vũ Cao mới được nghe:

Ba người anh từ chiến trường Đông Bắc
Biết tin em gái mất trước tin em lấy chồng.

Câu thơ thật như cuộc đời có thật.

Hữu Loan âm thầm ôm nỗi đau ấy sang năm 1949, khi vào Nghệ An chỉnh huấn mới được viết thành thơ. Bài thơ được viết trong hai tiếng đồng hồ vào một buổi trưa vắng, không phải sửa chữa gì. Bài thơ viết ra rồi cất trong ngăn kéo chứ không dám phổ biến vì thời ấy là thời chiến tranh ác liệt, người chiến sĩ phải nén tình thương, dồn hết tâm sức cho cuộc kháng chiến.

Một hôm Hữu Loan đi vắng, Vũ Tiến Đức, biên tập viên cũ của ông ở báo Chiến Sĩ, tình cờ thấy bài thơ, bèn cầm về đọc cho bà Ngọc Chất – mẹ Lê Đỗ Thị Ninh – nghe, sau đó là bè bạn rồi nhanh chóng được lan truyền rộng rãi vì thơ hay. Năm 1956 Nguyễn Bính đăng bài thơ ấy trên tờ báo Trăm Hoa ở Hà Nội mà tác giả không hề hay biết. Một lần nữa, bài thơ được phổ biến rộng rãi cho đến ngày nay.

* HỮU LOAN LÀM CÂU ĐỐI VIẾNG NHẠC MẪU

Khoảng năm 1937-1938 Hữu Loan làm gia sư tại nhà ông Lê Đỗ Kỳ, sau này ông là đại biểu quốc hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Vợ ông Kỳ là bà Đới thị Ngọc Chất rất thương yêu Hữu Loan, nhận Loan làm con nuôi và gả con gái yêu là Lê Đỗ Thị Ninh cho ông. Cô này chết đuối năm 1948 khiến ông xúc động làm bài thơ “Màu tím hoa sim” . Bà Ngọc Chất cưu mang Hữu Loan suốt đời, ngay cả sau khi con gái mình đã mất. Hữu Loan cũng rất quí mến bà, xem bà như mẹ đẻ vì bà là người hiểu mình nhất, có thể coi như tri kỷ mặc dù lúc trẻ tính ông ngông ngạo khác thường.

Lúc bà mất, gia đình bối rối lo việc tang ma nên không điện cho ông về kịp. Khi ông hay tin, vội vã về đến nơi thì bà đã mồ yên mả đẹp. Ông thương xót vô cùng và trách móc mọi người quá vô tình đối với ông, coi ông như người ngoài khi cô Ninh – vợ ông – không còn nữa. Thật ra không phải như thế.

Để tỏ lòng thương tiếc và biết ơn nhạc mẫu, ông tự tay viết đôi câu đối dán lên bàn thờ của bà. Đôi câu đối như sau :

“Rể khôn đền, phận gái ngắn sao đền, ơn cứu, ơn mang, ơn đoán giữa một tương lai nhân cách,
Sống khó gặp, chết vì sao không gặp, khóc người, khóc núi, khóc ai cùng đương đại loạn thiên lương”.

* HỮU LOAN VỚI HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM

Hữu Loan là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam, nhưng ông đã ngưng sinh hoạt Hội từ năm 1958. Kỳ đại hội Hội nhà văn lần thứ tư, ông cũng ra Hà Nội. Nhiều bạn quen hỏi ông có phải ra để dự đại hội không, ông chỉ cười. Họ hỏi thế vì thấy Hoàng Cầm, Trần Dần, Hoàng Yến, Lê Đạt, Phùng Quán, Phan Vũ… cũng bỏ sinh hoạt như ông nhưng nay đã về dự đại hội. Thì ra những người này trước đó đã gửi thư yêu cầu đến Ban Chấp hành Hội Nhà văn và Ban Chấp hành xét cho sinh hoạt trở lại.

Còn Hữu Loan lúc ra Hà Nội mải lo đi chơi với các bạn thơ nên không gửi thư cho Ban Chấp hành, vì thế mà không có giấy mời. Ban Chấp hành biết chuyện ấy nhưng đại hội sắp gần kề, ban trù bị bận trăm công nghìn việc nên không thể giải quyết hội tịch cho ông, nhất là ông chưa có thư yêu cầu.

Hữu Loan bèn viết thư nêu thắc mắc và trách Ban Chấp hành. Thường trực Ban Chấp hành Hội Nhà văn cho người đến giải thích và nói với ông rằng sau đại hội, ông cứ viết thư yêu cầu thì sẽ được sinh hoạt trở lại thôi. Người này cũng thay mặt Ban Chấp hành mời ông đến dự đại hội như một khách mời, nhưng Hữu Loan trả lời rằng có mời ông với tư cách hội viên sáng lập thì ông dự, còn khách mời thì không.

Nhưng Ban Chấp hành cũng phải giữ những nguyên tắc của Hội, không làm khác được, vì thế Hữu Loan không đến dự đại hội.

Sau khi họp xong, có người bạn thân đến thăm ông, nói cho ông biết thiện ý của Ban Chấp hành, những nguyên tắc mà Ban Chấp hành phải tuân theo và sự quí mến của anh em đối với ông, ông liền hết giận và viết thư yêu cầu được sinh hoạt trở lại. Lẽ tất nhiên đề nghị của ông được chấp thuận ngay bởi vì ông là hội viên sáng lập.

* TÍNH CÁCH CỦA HỮU LOAN

Nhà thơ Vũ Cao – tác giả bài thơ “Núi Đôi” nổi tiếng - kể rằng :

“Tôi gặp Hữu Loan từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Anh phụ trách tờ báo ‘Chiến sĩ” của Quân khu bốn, còn Nguyễn Đình Tiên và tôi lo bài vở. Hồi đó chưa có những chức danh Tổng biên tập, Biên tập viên như bây giờ, cần việc gì thì chúng tôi cứ phân nhau mà làm. Hữu Loan là một tính cách đặc biệt, rất mạnh mẽ nhưng cũng rất đa cảm. Anh dễ rơi nước mắt trước một cảnh khổ cực, nhưng cũng dễ giận dữ trước những điều làm anh bất bình. Có lần anh quát Nguyễn Đình Tiên khiến Tiên phải bỏ chạy ra bờ sông Lam. Và cũng có lần anh quát tôi suốt buổi khiến tôi mất ăn một bữa. Nhưng Tiên và tôi không bao giờ oán trách anh, phần vì anh lớn tuổi hơn bọn tôi, phần vì chúng tôi hiểu anh chỉ nóng nảy lúc đó, sau lại cười vui, độ lượng. Nhưng chúng tôi không sống chung với anh được lâu. Sau đại hội văn nghệ toàn quân lần thứ nhất, Tiên và tôi lên Việt Bắc, còn anh ở lại quân khu”.

Theo nhà thơ Vũ Cao thì Hữu Loan viết những câu mà ông nhớ mãi :

“Gió rét cắn người nghèo như chó dữ”

hay:

“ Nửa đời không vợ con”

Phần lớn những suy tư của Hữu Loan vẫn dành cho con người, cảnh vật và cuộc sống ở nông thôn. Tả mối tình của cô thôn nữ, ông viết :

Người trai quê biết đâu
Những đêm dài em khóc
Đầy như tiếng mưa,
Câm như bồ thóc
Trăm năm dù lỗi hẹn hò….


(Hoa lúa – 1955)

Và mối tình quân dân đẹp biết bao :

Thương chiếc áo xanh
Rách lâu chưa vá
Tay em quê mùa vụng đường kim chỉ,
Lần đầu tiên em vá áo đàn ông.

Rồi người chiến sĩ ra đi để lại bao bâng khuâng nhung nhớ :

Em hỏi bâng quơ
             hai bên láng giềng :
-“Bộ đội về đâu
             đi từ nửa đêm?”


(Những làng đi qua – 1950)

* HỮU LOAN BỊ NGỰA CHƠI XỎ

Năm 1946, có dịp vào miền Trung, Hữu Loan choáng ngợp trước cảnh hùng vĩ của Đèo Cả. Ông có bài thơ “Đèo Cả” rất nổi tiếng. Đèo Cả ở miền Đại Lãnh, phía Đông Nam Tuy Hòa là nơi giáp giới của hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, hồi đó rất hiểm trở, đi lại khó khăn lắm.

Hữu Loan cho biết chuyến đi vào Đèo Cả năm ấy (1946) là lúc Nam bộ đã kháng chiến rồi nhưng chiến tranh chưa lan ra toàn quốc. Giặc Pháp rập rình ở bên kia Khánh Hòa, còn Đèo Cả thì do Vệ quốc quân và dân quân trấn giữ. Hoang vu lắm, sốt rét đến kinh khủng, lại đói nữa, rất đói, cứ có gì ăn nấy :

Nhà văn Ngô văn Phú kể:“ Dạo ấy Hữu Loan làm báo “Chiến sĩ”, được một người bạn là Thu Sơn, Trung đoàn trưởng trung đoàn 79, cấp ngựa cho đi đến Đèo Cả. Nhưng ngựa thuần thì người ta dùng hết cả rồi, chỉ còn một con ngựa đực rất dữ. Hữu Loan vốn cũng có máu tráng sĩ nên nhận cưỡi con ngựa ấy.

Vừa ra khỏi thị xã Phú Yên, gặp mấy ả ngựa cái, chú ngựa đực bắt đầu phá bĩnh, Hữu Loan cố sức kiềm chế và thúc ngựa đi được, nhưng bị ngựa trả thù. Nó cứ nhè gốc cây mà cà người cưỡi vào. Phải thật nhanh chứ không thì bị nó xô ngã như chơi. Một lần nó đã chơi xỏ được nhà thơ. Nó tông Hữu Loan vào một cành cây. Áo móc vào cành nhọn, treo người Hữu Loan lơ lửng ngang vách đá, nhưng “tráng sĩ” đã nhanh nhẹn đu cành mà gỡ ra được. Hú vía”.

* HỮU LOAN VÀ TƯỚNG NGUYỄN SƠN

Theo nhà văn Đào Bích Nguyên thì tướng Nguyễn Sơn rất mến anh em văn nghệ khu bốn. Chính nhờ ông giúp đỡ mà văn nghệ sĩ khu bốn làm được nhiều việc và trở thành một lực lượng mạnh chẳng kém gì các địa phương khác như khu ba, Việt Bắc, khu năm và Nam bộ.

Sau này ông đi Trung quốc để sang giúp Bắc Triều Tiên đánh Mỹ, anh em văn nghệ sĩ cứ tiếc mãi. Có lần Đào Bích Nguyên hỏi Hữu Loan :

- Có phải Thiếu tướng Nguyễn Sơn thấy bài thơ “Màu tím hoa sim” của anh có những câu làm nhụt chí chiến đấu nên không cho phổ biến?

Hữu Loan đáp :

- Làm gì có chuyện ấy ! Chỉ vì tôi thấy việc khóc vợ nó riêng quá, in ra lại đau cho mình nên không in thôi. Sau này, đến hết cuộc kháng chiến chống Pháp mới in.

Đào Bích Nguyên kể :

- Tướng Nguyễn Sơn rất quí Hữu Loan vì một lần có mấy tay thầy dùi nịnh ông, đề nghị viết một cuốn sách về cuộc đời hoạt động của ông. Ông cũng thích và bảo cứ viết. Khi viết xong, ông bảo họ đưa cho Hữu Loan đọc và duyệt hộ. Hữu Loan đem sách trả cho tướng Nguyễn Sơn và thẳng thắn nói :

- Tôi không nhận đọc cuốn sách của anh đâu !

- Sao vậy?

- Tôi thấy không nên in.

Tướng Nguyễn Sơn khó chịu, nhíu đôi lông mày :

- Thì mình đi hoạt động cách mạng, có gì viết nấy. Chúng nó đặt tên mình là “Sa-pa-ép” Việt Nam chứ mình có dám nhận đâu.

Hữu Loan nói :

- Còn thiếu gì lúc viết, nhưng bây giờ thì chưa nên vì còn đang thời kỳ kháng chiến.

Nguyễn Sơn im lặng, không nói gì. Ít lâu sau , ông được lệnh sang Trung quốc, bàn giao quân khu lại cho người khác. Hôm ấy Hữu Loan đang ghé vào một hàng phở ngon là “Phở Tàu Bay” ở Hậu Hiên, ăn xong sắp trả tiền thì tướng Nguyễn Sơn đến. Ông liền níu Hữu Loan lại :

- Hãy ngồi xuống đây đã! Anh em đã chuyển đến địa điểm mới rồi, sao Hữu Loan chưa đi?

- Vì tôi rất nhớ anh.

- Tôi cũng vậy. Tôi phục anh lắm! Hồi ấy nếu không nghe anh mà cho in ra cái quyển sách ấy thì bây giờ có khi lại điều nọ tiếng kia, phiền phức biết bao!

Hữu Loan không nói gì. Nguyễn Sơn siết chặt tay Hữu Loan rồi từ biệt.

* DỊCH THƠ CHỮ HÁN – GỌI KIỀU LÀ EM

Hữu Loan rất thích dịch thơ Đường, nhưng dịch rất ít, chỉ bài nào thích ông mới dịch, mà dịch rất ngông. Hiện nay còn lưu lại mấy bản dịch của ông như bài Đề động Từ Thức của Lêê Quí Đôn, Thu hứng của Đỗ Phủ và Vịnh Kiều của Phạm Quí Thích. Vịnh Kiều là một bài thơ rất nổi tiếng:

Giai nhân bất thị đáo Tiền Đường,
Bán thế yên hoa trái vị thường.
Ngọc diện khởi ưng mai thủy quốc,
Băng taâm tự khả đối Kim lang.
Đoạn trường mộng lý căn duyên liễu,
Bạc mệnh cầm chung oán hận trường.
Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy,
Tân thanh đáo để vị thùy thương.

PHẠM QUÍ THÍCH

    佳 人 不 是 到 錢 塘
    半 世 煙 花 債 未 償
    玉 面 豈 應 埋 水 國
    冰 心 自 可 對 金 郎
    斷 腸 夢 裏 根 緣 了
    薄 命 琴 終 怨 恨 長
    一 片 才 情 千 古 累
    新 聲 到 底 為 誰 傷

    范 貴 適

Tác giả tự dịch, một bản dịch rất hay:

Giọt nước Tiền Đường chẳng rửa oan,
Phong ba chưa trắng nợ hồng nhan.
Lòng tơ còn vướng chàng Kim Trọng,
Gót ngọc khôn đành chốn thủy quan.
Nửa giấc đoạn trường tan gối điệp.
Một dây bạc mệnh dứt cầm loan.
Cho hay những kẻ tài tình lắm
Trời bắt làm gương để thế gian.

Hữu Loan chưa hài lòng với câu cuối bản dịch. Ông nói :“Tân thanh đáo để vị thùy thương mà Truyện Kiều để lại đến nay, rốt cuộc thì thương ai? Thương Nguyễn Du hay thương nàng Kiều? Hay thương cả hai? Và ông dịch bài thơ ấy rất ngông như sau:

Giai nhân há phải đến sông Tiền,
Nửa kiếp khói hoa nợ chửa đền.
Mặt ngọc nhẽ đâu dìm nước vạn (*),
Lòng băng há phụ nghĩa chàng Kim.
Đoạn trường tỉnh giấc, căn duyên hết,
Bạc mệnh im đàn rú hận lên.
Một mảnh tài tình thiên cổ lụy,
Khúc này đứt ruột phải vì em.

Rồi ông nói: Mình là con cháu Nguyễn Du mà gọi Kiều bằng em kể cũng thú vị đấy chứ!



(Tổng hợp từ tư liệu của Ngô Văn Phú, Vũ Cao, Nguyễn Sĩ Đạt và Đào Bích Nguyên)

______________________________________

(*) Vạn: là vạn chài, làng đánh cá.

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 10.07.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .