MILTON FRIEDMANN
(1912-2006) 

GIẢI NOBEL KINH TẾ NĂM 1972



Con người buôn bán làm ăn từ thời thượng cổ, nhưng kinh tế học với tư cách là một khoa học lại xuất hiện rất muộn- vào thế kỷ 18. Kinh tế học khởi đầu với Adam Smith và kết thúc hiện nay với Milton Friedman.   Adam Smith (1723-1790) được coi là cha đẻ kinh tế học, là tác giả sách “Nguồn gốc của cải của các quốc gia” (The wealth of nation, 1776).  Sách này đến nay vẫn được coi là nguyên lý kinh tế học hiện đại.  Adam Smith cho rằng, cạnh tranh là nền tảng của kinh tế thị trường tự do. Thị trường tự nó quyết định loại và số lượng hàng hoá ở mức hợp lý.  Tác động này có lợi cho người tiêu dùng.  Theo ông,  giá sẽ tăng khi hàng khan hiếm, giá sẽ giảm khi hàng dư thừa, thị trường như “một bàn tay vô hình” nắn quá trình phân phối, định hướng hoạt động kinh tế.

Nhà kinh tế học John Maynard Keynes (1883-1946) nổi tiếng với sách “Lý thuyết chung về lao động, lãi suất và tiền tệ” (General Theory of Emploment , Interest and Money, 1936).  Đây là cuốn sách nói về kinh tế vĩ mô hiện đại.
Nhà kinh tế học Mỹ gốc Do Thái Milton Friedman  (1912-2006) cho ta thấy cần có sự thông thoáng cho môi trường kinh tế, chính trị qua sách  “Chủ nghĩa tư bản và tự do” (Capitalism and Freedom, 1962).  Đó là cố gắng của Milton Friedman trong việc thúc đẩy việc hình  thành một thị trường tự do và thị trường tiền tệ hiện đại, vì vậy Friedman đoạt giải Nobel về khoa học kinh tế năm 1976.
                             
Milton Friedman làm được gì ?
Những nhà kinh tế học có những ảnh hưởng vô cùng sâu sắc đối với thế giới. Họ đưa ra những ý tưởng, những nguyên lý kinh tế có ích cho xã hội.

Gíơi học thuật nhận xét:
-  Milton Friedman đã đóng ba vai trò trong đời sống tri thức thế kỷ 20:
1.  Người đã viết những phân tích mang tính kỹ thuật về hành vi của người tiêu dùng và lạm phát.
2.  Friedman người rao bán chính sách, người đã tham gia vận động cho chính sách trọng tiền trong nhiều thập kỷ . 
3. Một Friedman nhà tư tưởng, người truyền bá vĩ đại học thuyết về thị trường tự do.


    T. C. SCHELLING       R.J. AURMANN
         (1921 - …)                     (1930- …)



              GIẢI NOBEL KINH TẾ NĂM 2005

Robert J. Aurmann sinh ở  Frankfurt nước Đức.  Ông mang quốc tịch Mỹ-Israel, là giáo sư Trường ĐH Hebrew ở Jerusalem, Israel.  Ông nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 2005 khi 75 tuổi (sinh năm 1930).

Thomas C. Schelling là giáo sư thuộc Khoa Kinh tế Trường ĐH Maryland, giáo sư danh dự ĐH Harvard., nhận giải thưởng Nobel kinh tế năm 2005 khi đã 84 tuổi (sinh năm 1921).
Lý thuyết trò chơi là một nhánh của Toán học ứng dụng, nghiên cứu hành vi kinh tế học, sử dụng các mô hình để nghiên cứu các tình huống chiến thuật, trong đó các đối thủ cố gắng thu  được kết quả tối đa về phía mình. Khi đưa ra quyết định trong Lý thuyết trò chơi, người ta phải tính tới chi phí và lợi ích. Lý thuyết trò chơi còn được áp dụng cả trong Sinh học tiến hóa , Chính trị học, Chiến thuật quân sự.

Cái gì cũng cần lời lý giải!

Thomas C. Schelling và Robert J. Aurmann (tác giả Lý thuyết trò chơi)  nhận giải  Nobel kinh tế năm 2005. Lý thuyết trò chơi  đóng vai trò chủ chốt trong việc xây dựng những chiến lược “leo thang có kiểm soát” và “đánh bom trừng phạt”, “kiến giải xung đột kinh tế-chính trị, từ chạy đua vũ trang đến chiến tranh giá cả”.   Lý thuyết trò chơi:

-    Nâng cao hiểu biết của chúng ta về sự hợp tác và mâu thuẫn thông qua các phân tích lý thuyết trò chơi.  Nó giải thích tại sao một số cộng đồng thành công hon các cộng đồng khác trong việc quản lý nguồn vốn chung (trích tuyên dương của Hội đồng xét duyệt giải Nobel)


CÁC GIẢI NOBEL KINH TẾ TRONG THẾ KỶ 21 TỪ 2000 TỚI 2005

Năm 2000,    James J. Heckman Daniel L. McFadden (Mỹ): phát triển học thuyết giúp phân tích số liệu lao động và cách con người thực hiện quyết định công việc và di chuyển.
-    Năm 2001  George A. Akerlof, A. Michael Spence Joseph E. Stiglitz (Mỹ) với nghiên cứu kiểm soát thông tin ảnh hưởng đến thị trường.
-     Năm 2002   Daniel Kahneman (Mỹ- Israel) và Vernon L. Smith (Mỹ): những người tiên phong trong sử dụng kinh tế trải nghiệm và tâm lý học vào thực hiện các quyết định.
-      Năm 2003    Robert F. Engle (Mỹ) và Clive W.J. Granger (Anh) với đóng góp Các phương pháp thống kê cho chuỗi thời gian kinh tế.
-    Năm 2004  Finn E. Kydland (Na Uy) và Edward C. Prescott (Mỹ) với đóng góp Kinh tế vĩ mô động lực nói về thời gian chắc chắn của chính sách kinh tế và động lực của chu kỳ kinh doanh.




EDMUND S. PHELPS
(1933- ...)
GIẢI  NOBEL KINH TẾ NĂM 2006

Năm 1958, A. W. Phillips người Tân Tây Lan khám phá ra rằng,  ở Anh, khi thất nghiệp thấp thì lạm phát cao, nhưng khi thất nghiệp cao thì lạm phát thấp.  Chúng thể hiện trên biểu đồ là một đường cong lõm và được gọi là Đường cong Phillips.  Phillips chỉ dừng lại ở đúc kết trên cơ sở những con số thống kê, không đưa ra được một lý giải  nào, vì ông là kỹ sư điện.

Từ năm 1967 tới năm 1970, giáo sư kinh tế Edmund S. Phelps của Đại học Columbia Mỹ viết ba bài nghiên cứu gây chấn động giới kinh tế thế giới.  Ai trong nghề cũng tiên đoán Phelps xứng đáng được giải Nobel kinh tế, nhưng  những người dựa vào lý thuyết của Phelps như Lucas lại nhận giải từ năm 1995.  Tới năm 2006 Viện Hàn lâm Thụy Điển mới (nhớ tới “nhà kinh tế của các nhà kinh tế”)  trao Edmund S. Phelps giải Nobel kinh tế.  Trễ còn hơn không!

Theo Hội đồng trao thưởng, lý thuyết của ông đã giải thích một cách thấu tác dụng của chính sách kinh tế đối với lợi nhuận và phúc lợi xã hội. Lý thuyết của nhà kinh tế học Edmund S. Phelps có chiều sâu và tính ứng dụng rất cao, ông đã có thêm nhiều phát kiến từ một đề tài vốn đã được nghiên cứu và tìm hiểu rất kỹ càng từ các học giả khác.

Đường cong nguyên thủy Phillips mang tính thống kê

Theo Phelps, đường cong Phillips chưa tính đến hành vi của cá nhân hoặc doanh nghiệp, cũng không nói tới tính ổn định của thị trường lao động. Phelps nhận xét, cả lao động lẫn doanh nhân đều không có đủ thông tin, do đó thường sai lầm khi ước đoán tương lai.  Ông đặt câu hỏi, khi triển khai mô hình tân cổ điển phải tính đến việc  thế hệ này phải để lại cho thế hệ tương lai bao nhiêu vốn.  Ông than phiền việc không quan tâm đúng mức đến nền tảng đạo đức của xã hội: vấn đề công bằng xã hội và phân phối thu nhập.  Công trình nghiên cứu của  Phelps là  nghiên cứu về sự cân bằng của Chính sách kinh tế vĩ mô.

Phelps cho rằng, nếu thể chế thay đổi  (cải tổ thể chế) thì kỳ vọng về lạm phát của lao động và doanh nhân cũng thay đổi theo và suất thất nghiệp “tự nhiên” có thể giảm đi.  Phelps phản đối chính sách thuế của TT Busch (con).  Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của thể chế và cho rằng:

-   Thiếu cơ sở hạ tầng kỹ thuật thì “hàng đống tiến sĩ” cũng không làm kinh tế phát triển được.


© Tác giả giữ bản quyền .
. Cập nhật trên Newvietart.com ngày 10.07.2010 theo bản gởi của tác giả từ Sài Gòn.
Đăng tải lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com