Cây Trong Văn Chương


TUỆ CHƯƠNG
HOÀNG LONG HẢI


 

     Trong bài Hoa Phượng tôi có nói rằng “cây bàng gỗ  cứng, chịu đựng được sức nặng, lại có tàn rộng, che nắng cho người. Có phải đó là  tính chất của các võ tướng.” vì vậy mà  người xưa trồng bàng ở Võ Thánh.

      Nói như thế có “cương” quá chăng, chưa nói là cương ẩu?

    Thật sự, tôi không cương bậy. Tiếc là tôi chưa tìm ra được câu thơ nào, bài văn nào nói về cây bàng phù hợp với ý tưởng tôi trình bày ở  trên.

   Khác với vùng Đông Bắc Mỹ là nơi tôi đang cư  ngụ, về mùa thu lá cây vùng nầy thay màu rất đẹp. Ở Việt Nam, miền trung cũng như miền nam, tôi chưa từng thấy cảnh lá cây thay màu nhiều và rõ, ngoại trừ một vài cây như sầu đông thì chẳng còn chiếc lá nào khi đông đã tới - nên người ta mới gọi nó là sầu đông - Cây bàng tuy không rụng hết lá nhưng khi mùa lạnh bắt đầu thì lá bàng chuyển từ màu xanh sang mầu đỏ trước các cây khác. Lá bàng đã to mà lại thay màu trước, khi lá các cây khác còn xanh nên dễ gây ấn tượng cho mắt người, nhất là tại những công viên, những thành phố trồng nhiều bàng như Hà Nội. Đọc “Nhặt lá bàng” của Nhất Linh hay nghe hát “Cây bàng lá đỏ” trong Nhờ Mùa Thu Hà Nội của Trịnh Công Sơn, người ta có thể đoán ra điều ấy.

“Bàng được trồng trong khu vực nhiệt đới như là một loại cây cảnh hay để lấy bóng râm nhờ tán lá lớn và rậm. Quả ăn được và có vị hơi chua. Gỗ có màu đỏ, rắn chắc và chống thấm nước, khá tốt; tại Polynesia người ta dùng nó để đóng các loại xuồng.”

     Phần trên là tôi trích lại vài lời giải thích về  cây trong “Việt Nam Toàn Thư”.

  Trong tính chất của cây bàng như nói ở trên, nếu tôi có cương, quý độc giả cũng không cho rằng tôi cương ẩu.

    Thật ra, trong văn chương, ngoài hoa thường được dùng để ví  với giai nhân, với người đàn bà mà hoa thì  bao giờ cũng là hoa đẹp, dù hoa đồng nội, không có hoa độc bao giờ, thì cây lại được dùng để ví với đàn ông.

    Bài thơ Vịnh Cây Vông (Đồng) của Nguyễn Công Trứ  có mấy câu như sau:

 

Biền, nam, khởi, tử chẳng vun trồng
Cao lớn làm chi những thứ  vông.
Càng lớn càng già càng xốp xoáp,
Ruột gan không có, có gai chông.

 Biền là một loài cây gỗ cứng, không rõ có phải là biến âm của chữ bàng hay không. Gỗ cây biền cứng nên thường dùng để làm cung. Cung bằng gỗ biền bắn mũi tên đi được xa và mạnh.

    Nam là cây chò, loại gỗ tốt, dùng để đóng bàn, ghế, giường, tủ… thường dùng trong nhà.

    Khởi hay khải là cây giai, tên chữ là hoàng liên, một loại gỗ tốt.

      Tử  là cây tử, nôm na là cây thị. Cây kiều cao mà  ngữa lên, tuợng trưng cho người cha. Cây tử thấp mà tàng cúi xuống, tuợng trưng cho người con. Hai cây nầy tượng trưng cho tình cha con. Vì vậy, trong truyện Kiều, đoạn cô Kiều ở lầu Ngưng Bích, nhớ cha mẹ, có câu:

 

  Có  khi gốc tử đã vừa người ôm.

     Tất cả bốn thứ cây nói trên gỗ đều cứng cáp, mạnh khỏe, tượng trưng cho người đàn ông, con trai, có  trung có hiếu, còn như cây vông là thứ  cây gỗ chẳng ra gì, tượng trưng cho kẻ tiểu nhân. Kẻ tiểu nhân thì chẳng có giá trị, gỗ càng già càng xốp - như ông bình vôi trong Nhân Văn Giai Phẩm, càng già, ruột càng đặc -  bụng chỉ toàn gai chông, chỉ muốn ám hại người khác.

     Tôi cũng đã trình bày trong bài Hoa Phượng, cây thông tượng trưng cho người quân tử. Trong bài cây thông, Nguyễn Công Trứ viết:

 

Ngồi buồn mà trách ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Giữa trời, vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thời trèo với thông.

    Theo nhà Phật thì con người có nhiều kiếp. Kiếp sau xin làm cây thông, làm người buồn quá chăng? Nhưng làm cây thông đứng một mình cheo leo giữa trời mà  ru với gió bằng một điệu nhạc u trầm thì  có vui gì? Mùa đông trời lại rét, thông đứng một mình vừa cô đơn vừa rét mướt thì đời lại càng buồn hơn. Tuy vậy, dù cô đơn, dù buồn, cây thông vẫn đứng thẳng giữa đời như người quân tử. Ai muốn làm quân tử hãy chịu rét mà trèo với thông.

 

      Có  lẽ người Tầu cũng như người Việt chúng ta ngày trước - Ngày trước là vì bây giờ quan điểm có khác đi không! - đều ví cây trúc, nôm na là tre, tượng trưng cho người quân tử. Truyện cổ tích kể rằng ngày xưa ông trạng Mạc Đỉnh Chi đi sứ bên Tầu. Khi vua Tầu tiếp ông trong điện, ông thấy có một bức tranh thêu đẹp lắm, hình một con chim sẻ đậu trên cành trúc. Tưởng là con chim sẻ thật, ông vói tay định bắt. Ai nấy cười ồ vì sự ngộ nhân của ông. Nhanh trí, Mạc Đỉnh Chi liền chụp bức tranh thêu xé mất. Ai nấy ngạc nhiên trước hành vi phạm thượng của ông, dám xé bức tranh trong điện vua Tầu. Ông trạng Mạc Đỉnh Chi giải thích:

   - “Muôn tâu! Chim sẻ tượng trưng cho tiểu nhân, cây trúc tượng trung cho quân tử. Tiểu nhân đứng trên quân tử sao được. Vì vậy nên hạ thần phải xé bức tranh nầy đi.”

    Biết ông ta chạy tội, nhưng ai nấy đều công nhận ông nói phải, là người thông minh, nhanh trí.

    Dưới chế độ Ngô Đình Diệm, tất cả các khuôn dấu của cơ quan chính quyền, kể cả khuôn dấu của tổng thống đều có bình bụi trúc ở  hình tròn nhỏ phía trong.

   Bụi trúc, nói theo cách Tầu là “Tiết trực tâm hư”, có nghĩa là tiết tháo (hoặc đoạn, khúc giữa hai mắt tre) ngay thẳng, vì dân vì nước, không xiên xẹo; tâm có nghĩa là lòng thì trống rỗng, không có gì riêng tư cho bản thân. “Tiết trực tâm hư” tượng trưng cho tấm lòng của người quân tử. Ông Ngô Đình Diệm cai trị nhân dân theo cung cách của một người quân tử nên ông lấy cây tre, bụi trúc làm biểu tượng, làm lời nhắc nhủ cho công chức, cán bộ.

 

   Cùng với ý nầy, thi sĩ Đông Hồ, có mấy câu thơ khí khái như sau:

 
 

Cơn mưa vừa mới tạnh
Cành trúc ngã bên đường
Quân tử nghiêng mình xuống
Đi qua ta cúi đầu

Đông Hồ

      Khi còn trẻ, Tôn Thọ Tường cùng cắp sách đi học một thầy với Phan Văn Trị. Cả hai cùng thi đổ cử  nhân, nhưng vì thời thế đổi thay, thực dân Pháp  đô hộ miền Nam. Cử Trị không chịu ra làm quan với Pháp, lui về ở ẩn. Cử Tường ra hợp tác với chế độ mới, bị người đời chê là bất trung, không ai muốn giao thiệp.

      Trong cảnh sống cô đơn vì bạn bè xa lánh, ông làm bài thơ vịnh cây mai để bày tỏ tấm lòng của mình.

     Cây mai Tôn Thọ Tường ví von ở đây chính là  cây Bạch Mai, trồng ở chùa Cây Mai, kế bên  đường Hậu Giang, con đường từ Chợ Lớn  đi về miền Tây.

   Sau khi đánh chiếm đồn Kỳ Hòa, thực dân Pháp  đóng đồn ở chùa Cây Mai, nên chùa Cây Mai có  tên mới là Đồn Cây Mai. Rồi từ trại lính Pháp, nơi nầy trở thành căn cứ quân sự của quân  đội Việt Nam Cộng Hòa. Có khi nơi nầy là trung tâm huấn luyện tình báo của quân đội, nên nó lại biến thành Trường Cây Mai, học viên ngành tình báo theo học các khóa Cây Mai (ngụy danh).

      Sau khi Pháp đóng đồn, sư sãi bị đuổi đi. Buổi chiều, thay vì tiếng kinh kệ thì lại là tiếng kèn Tây thổi báo giờ cho binh lính. Độc giả đọc bài thơ nầy, sẽ thấy Tôn Thọ Tường mô tả tiếng kèn lạ khi trời chiều ngã bóng:

 

Cây Mai

Cám cảnh Cây Mai cách dưới đèo
Mười phần trong sạch phận cheo leo
Sương in tuyết đóng cành thưa thớt
Xuân tới thu về nỗi quạnh hiu
Lặng lẽ chuông quen con bóng xế
Tò le kèn lạ mặt trời chiều
Những tay rượu thánh thơ thần cũ
Trông cảnh bao nhiêu, tiếc bấy nhiêu!

(1) Bạch Mai hay Mù u

    Nguyễn Công Trứ cũng có làm bài thơ vịnh cây cau, ví cau nhờ được ơn chúa vung trồng, vươn cao lên trời, chẳng kể sương gió, không ngại gió bão, vững chải, mở rộng tàn lá xanh che nắng, cho trái cau (kèm với trầu) để mời chào khách:

 

Vịnh Cây Cau.

Ơn chúa vun trồng kể xiết bao,
Một ngày càng một rấn lên cao.
Lưng đeo đai bạc sương nào nhuốm,
Đầu đội tàn xanh nắng chẳng vào.
Buồng chất cháu con khôn xiết kể,
Nhà nhiều quan khách dễ khuyên chào.
Kình thiên một cột giơ tay chống,
Dẫu gió lung lay cũng chẳng nao.

Nguyễn Công Trứ

    Rất nhiều thi sĩ làm thơ vịnh hay mô tả một cái cây, ví nó như một cái gì đó, một hạng người, một tấm lòng. Ví dụ:

 

Cây hoa gạo

Cây hoa gạo đầu làng sao rồi em
Chỗ em tiễn trời xanh trôi tới
Anh sẽ về, còn em mãi đợi
Bóng nắng tròn trong tay áo bà ba
Tựa như máu dễ nào phai mất
Đỏ khôn nguôi hoa ríu bàn chân
Mỗi độ đường tháng ba vẫy gọi
Gió qua làng thổi dọc đoàn quân
Hoa gạo ơi đừng vừa rơi vừa đợi
Mỗi xuân đi gom nhặt sắc lặng im
Em nghe thấu lời nhớ cây nhức nhối
Rằng anh sẽ về như em đã tin...

Lê Thị Mây

    Phùng Quán mô tả cây dứa, (người miền trung gọi cây thơm, người nam gọi là khóm), một loại cây lá có gai, trồng ở đất nào cũng được, ngay ở các bãi cát khô, trái chín ngọt, người ta thường dùng để giải khát:

 
 

Cây dứa

Cao Bá Quát
Cả một đời chỉ cúi lạy hoa mai
(Nhất sinh đê thủ bái mai hoa)
Tôi, tôi nghiêng mình trước cây dứa.
Bao giờ tôi cũng kinh ngạc
Như đứng trước sức sáng tạo của thiên tài
Ngắm cây dứa tốt xanh trên đất cằn sỏi đá
Với những tầu lá dài màu cỏ dáng gươm.
Và lấp lánh ở giữa, một bình vàng
Ăm ắp mật dịu trăm cơn nắng lửa
Dứa ơi!
Người hãy dạy tôi
Cách chắt lọc từ khô cằn sỏi đá
Chất mật mát lành dịu nắng lửa trăm cơn
Để từ cuộc sống gian lao, bất trắc khôn lường
Tôi vẫn viết được,
Dâng tặng đời
Những trang văn đấy ắp mật

Phùng Quán

    Cây vạn niên thanh là một loại cây lá lúc nào cũng xanh, sống bằng những dưỡng chất đạm bạc: nước lã, khí trời. Phùng Quán xem nó như một biểu tượng cho sức sống mãnh liệt:

 

     Vạn-niên-thanh
      Ơi cây Vạn-niên-thanh!
      Cả  một đời tôi chỉ khiếp phục anh!
      Anh uống độc khí trời
      Anh xơi độc nước lã
      Anh vẫn tràn trề sức lực xanh tươi
      Vẫn tặng được cho đời chất thơ của sắc lá!
      Vạn-niên-thanh
      Ơi cây Vạn-niên-thanh
      Cả  một đời tôi chỉ khiếp phục Anh  

Phùng Quán

 

        Cây xương rồng

        Cây chi cây lạ lùng
      Không cành cũng không lá
      Toàn những thân với thân!
      Mà  thân thì dựng ngược
      Như  gậy gộc nghĩa quân
      Toàn những góc với cạnh
      Lại tua tủa gai chông!
      Nhựa  độc hơn bọ nẹt
      Gai buốt nhọn hơn gươm
      Người nghèo đem luộc kỹ
      Ăn lại lành thay cơm!
      Mọc lên từ cát lửa
      Hồn vẫn xanh mát trong
      Che chở người lương thiện
      Trộm cướp đều ngại ngùng
      Tên như một biểu tượng
      Đời gọi cây xương rồng...
      Xương Rồng ơi Xương Rồng!
      Anh có thật xương rồng?
      Hay xương người nghĩa khí
      Ngã  xuống rồi hoá thân?...

     Sống trong chế độ  Cộng Sản, lại từng là  nạn nhân, bị đàn áp trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm, Phùng Quán vẫn tiếp tục nói lên tiếng nói “Chân thật! Chân thật trọn đời…” như ông xác định trong bài “Lời Mẹ Dặn”. Tuy nhiên, khôn khéo hơn, ông biểu thị chí khí đó qua hình ảnh những loại cây thanh đạm như vạn niên thanh, không xa hoa, phung phí, sang trọng nhờ tham nhũng, tâm hồn ông vẫn xanh tươi mãi ngàn vạn năm như Vạn niên Thanh, hay cứng cáp vững chác như cây xương rồng.

     Tuệ  Sĩ, đặc biệt hơn, con người tu hành ấy, nghèo khổ  ấy vừa “Vá áo chép kinh” vừa làm thơ, mô tả ông như một loài cây khô:

 

       Cây Khô  

Em xõa tóc cho cây khô sầu mộng
Và cây khô mạch suối khóc thương nhau
Ta cúi xuống trên môi cười chín mọng
Cũng mơ màng như phố thị nhớ rừng sâu.

Tuệ Sĩ.

     Hoàng Cầm, vẫn lãng mạn như trong bài “Lá diêu Bông” nhưng ở đây, cây của ông không phải là một loại thực vật mà lại chính là một cây… bài. Cây bài Tam Cúc:

 
 

Cỗ bài tam cúc mép cong cong
Rút trộm rơm nhà đi trải ổ
Chị gọi đôi cây!
Trầu cay má đỏ
Kết xe hồng đưa Chị đến quê Em
Nghé cây bài tìm hơi tóc ấm
Em đừng lớn nữa Chị đừng đi
Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì
Đứa được
chinh truyền xủng xoẻng
Đứa thua
Đáo gỡ ngoài thềm
Em đi đêm tướng điều, sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em
Năm sau giặc giã
Quan Đốc đồng áo đen, nẹp đỏ
Thả tịnh vàng cưới Chị
võng mây trôi
Em đứng nhìn theo, Em gọi đôi.


_______________________________________

      (1)- Khoảng sau tết Tý (năm 1960), ở Saigon xuất hiện trên báo chí, một số bài tranh luận về hoàng mai và bạch mai. Thông thường, vào dịp tết, người Bắc ưa chưng trong nhà hoàng mai hay đào, người miền Nam ưa bạch mai. Có phải vì miền nam ít có hoàng mai? Người cực đoan thì cho rằng hoàng mai mới thật là mai, còn bạch mai không phải là mai.
  Do cuộc tranh luận đó, bài thơ Vịnh Cây Mai được đem ra bàn. Người ta xác nhận cây mai ông Tôn Thọ Tường vịnh trong bài thơ chính là cây mai ở trên chùa Cây Mai hay Đồn Cây Mai vậy. Cũng có một nhà vạn vật học, tới gặp trung tá (cấp bậc vào lúc ấy) Phạm Văn Sơn, sử gia, đang làm chỉ huy trưởng trường Cây Mai để quan sát cây mai ấy, rồi “phán” một câu rằng, cây mai ở đồn Cây Mai không phải là cây mai thật. Đúng ra, đó là cây mù u. Tội nghiệp ông Tôn Thọ Tường, tưởng là cây mai, ai ngờ lầm mà đem tâm sự gởi cho cây mù u. Ông Tôn đã lầm cây mai, cũng như ông cũng đã lầm khi theo phò Pháp Lang Sa, để cái tiếng xấu cho hậu thế!


© Cập nhật theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hoa Kỳ ngày 10.07.2010.
. Đăng Tải Lại Xin Vui Lòng Ghi Rõ Nguồn Newvietart.com