TỔ TÔM VIỆT NAM



Phần Một

Lời Nói Đầu

Tổ tôm có 120 con bài. Nó khổ 2,4 cm x 9,7 cm ( chiều rộng bằng 1 đốt ngón tay và chiều dài bằng 4 đốt ngón tay ). Nó là trò chơi dân gian , cũng là một môn " thể thao" trí tuệ rất thịnh hành ở nhiều miền quê đồng bằng Bắc Bộ và cũng có lẽ người dân gôc Bắc sống ở mọi miền trên trái đất này. Tra cứu các từ điển thì thấy định nghĩa “ thuật ngữ/ danh từ tổ tôm như sau:
Từ điển 1772-1773 Dictionarium-Annamitigo-Latinum –MGR D,ADRAN trang 625 có chữ Tổ và Trang 629 có chữ Tôm ( Ngư+tâm); Huinh Tinh Paulus Cua - Đại Nam Quấc âm năm 1895-1896 trang 1063 định nghĩa tổ tôm : " Bài tổ tôm thứ bài nhiều môn món , lấy bài tới mà làm ra". Từ diển Dictionaire Annamite-Fransais ngày 15-12-1898 của Jean Bonet trang 322 có chữ Tổ và trang 327 có chữ Tôm ( gồm chữ Ngư+ tâm)’ Từ điển tân từ điển của Thanh Nghị Nhà xuất bản thời thế Sài Gòn năm 1951 , trang 12 34 định nghĩa tổ tôm như sau: “ Tổ tôm là lối cờ bạc chơi bằng 120 quân bài phải có 5 chân (NVH - người ?) Bảng tra chữ Nôm – Viện ngôn ngữ học năm 1976 thấy có 2 chữ Nôm : Tổ ( mã chữ 2973) và Tôm ( mã chữ 5795); Tự điển chữ Nôm của 1 ngwofi Nhật bản “ Yonosuke Takeuchi Nhà xuất bản Dâigkúyorin tháng 3-1988 , Trang 547 có từ Tổ và trang 548 có chữ Tôm ( tôm tép ) ( ngư + tâm ). Từ điển chính tả tiếng Việt ( những từ dễ viết sai) nhóm Như ý , Nhà xuất bản Giáo Dục Hà Nội , năm 1995 thất có cụm từ “ tổ tôm trước từ Tổ tiên và sau từ tổ tông… Đại từ điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính năm 1998 Trang 1304 có chữ Tổ và trang 1306 có chư2x Tôm ( Ngư + tâm hoặc Ngư + tam);

Về chữ trong 120 quân tổ tôm :

Người đánh thực ra chỉ cần học các chữ Hán sau đây :

Nhất (1),
Nhị(2),
tam(3),
tứ(4),
ngũ(5),
lục(6),
thất(7),
bát(8),
cửu(9)
và 3 chữ Văn , Vạnéách;
và 3 chữ hàng yêu
Chi chi
Thang Thang
Ông cụ;

Như vậy dù có 120 quân nhưng sự xuất hiện của chữ Hán cũng tổng cộng chỉ có 15 ( mười lăm) chữ ;
15 chữ người sáng dạ chỉ hướng dẫn qua là thuộc ngay mặt chữ trên các quân bài;

Về hình trong 120 quân tổ tôm

Hàng văn có 9 hình khác nhau ( mỗi con bài có 4 quân giống nhau);
Hàng vạn có 9 hình khác nhau (mỗi con bài có 4 quân giống nhau);
Hàng sách cũng có 9 hình khác nhau ( mỗi con bài có 4 quân giống nhau);
Và hàng yêu có các hình vẽ của :
Chi chi(4 quân giống nhau)
Thang thang( 4 quân giống nhau)
Ông cụ( 4 quân giống nhau);

Như vậy dù có 120 quân , nhưng theo hình cũng chi có tổng công ba mươi(30) hình khác nhau ( mỗi con bài có 4 quân giống nhau , vị chi là 30 x 4 =120 );
Nếu ai muốn nhớ hình trong 120 quân tổ tôm thực ra cũng chỉ cần phân biệt 30 hình khác nhau mà thôi;
Điều tồn nghi là hình vẽ trên 120 quân tổ tôm có là văn hoá Việt nam?
Câu trả lời cũng rất khó , ví dụ bát vạn chỉ vẽ con cá , trong khi đánh theo “ khẩu ngữ” , nhiều khi người đánh hô ;” Cá chép rán đây’, thì cả 5 người chơi đều hiểu là Bát vạn.
Hình "Bát Vạn" như nếu là "cá chép" thì nhiều nước có giống cá chép , vậy có thể của Việt , của Tàu, của "Nhật Bản hoặc Triều Tiên chăng? Dấu vết văn hoá Việt trong hình vẽ, chúng tôi thấy có lẽ
"Bát văn" đứa trẻ đi cà kheo trong trò chơi dân gian VN?
"Thang thang" mẹ cho con bú, tình mẫu tử cũng rất VN ?
"Lục văn" vẽ hình người chống cuốc/vồ, một công cụ cũng của nông dân Việt Nam?
"Bát sách" vẽ người ngỗi hút thuốc lá tẩu, hình ảnh này dễ thấy ở nước ta.
"Tam sách" vẽ người đội nón cầm sợi dây, nón rộng vành trùm vai đúng là kiểu nón Việt nam ?
"Ngũ sách" vẽ thuyền buồm , nước ta có nhiều sông ngòi, biển Đông , cảnh thuyền buồm này không xa lạ với VN chúng ta?
"Cửu sách "vẽ người vác đèn lồng chống gậy, cũng có thể thấy trong quy định của nhiều hương ước làng Việt: đi đêm phải cầm đèn?
"Nhất văn" vẽ cô gái múa quạt: điệu múa quạt rất thịnh hành trong lễ hội của người Việt?
"Ngũ văn" vẽ người đội nón trùm vai cầm tẩu hút thuốc, nón rộng vành chứ không phải mũ, cđúng là nón VN, đúng là vẽ cảnh người lao động nghỉ ngơi thoải mái , chúng ta thường gặp trong sinh hoạt người Việt.
Quân "Cửu vạn "vẽ ngưòi bố vác một kiện hàng trên vai.Quân bài "Cửu vạn" còn là 1 " thuật ngữ" được " khẩu ngữ " thông dụng chỉ những người bốc vác "thuê" dọc biên giới phía Bắc , họ làm công ăn lương và vô tình tiếp tay cho bọn buôn lậu tuồn hàng không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng nhái , hàng chất lượng cực kỳ thấp , thực phẩm hoá quả có hoá chất độc hại bảo quản hoặc tiền giả "tuồn" vào thị trường Việt nam. Hoặc dẫn đường cho bọn bán rẻ phụ nữ trẻ em VN qua biên giới , " Cửu vạn " một con bài tổ tôm đã sống động trong tâm thức người Việt để chỉ người khuân vác, họ Vô tình hay hữý ý , vì mưu sinh " miếng cơm ,manh áo " thường nhất " mà "cõng rắn cắn gà nhà"" nối giáo cho giặc", phá hoại thị trường nội địa VN , phá hoại sự tăng trưởng kinh tế VN và về mặt chính trị xã hội quấy động sự bình yên của từng gia đình VN ? "Nhất vạn" võ cảnh múa võ cũng rất quen thuộc với người Việt.
"Nhị vạn" vẽ cành đào có quả ,đào này ở phía bắc nước ta cũng có ?
"Ngũ vạn" vẽ tháp 3 tầng , hình ảnh này cũng không xa lạ với người Việt,
Tuy nhiên trong y phục của các quân tổ tôm thì không thấy " khăn xếp+ áo dài truyền thống " ! Nhưng có lẽ khăn xếp áo dài khẳng định là " quốc phục" cũng chỉ mới biết qua ảnh cụ Huỳnh Thúc Kháng trong chính năm 1945; Còn bài tổ tôm có lẽ ra đời trước năm 1945.

Trong ca dao tục ngữ :

" Tổ tôm " đã đi vào lời ăn tiếng nói trong dân gian , ví dụ khi một người quá mềm yếu trước đối phương thì được gán cho là " sao mà nhũn như con chi chi "( Tổ tôm có 4 con chi chi , nó thuộc hàng " yêu " ). Hoặc gặp một người hay tranh cãi không có tình có lý thì được gọi là loại người " đồ gàn" bát sách "( "Bát sách" là một trong những con bài quan trọng nhất trong cỗ bài Tổ tôm , nó có thể " ăn “ với “Cửu Vạn” “chi chi” để “ ù có cước sắc gọi là " "Lèo " , nếu ù 2 ván liền thì gọi " Thông lèo " hoặc "ù" to hơn nếu Thông Tôm Lèo ( ù liền có hai cước sắc đi kèm : Lèo ( Cửu vạn cửu sách + bát sách+ chi chi ) , tôm ( Thất văn + tam vạn + tam sách ).
Hoặc ai làm gì cũng thiếu suy nghĩ hoặc đổ vỡ thì bị gán là " đồ thất sách” .

Trong văn học viết :

Tổ tôm còn đi vào văn học Việt nam qua chuyện ngắn của Phạm Duy Tôm , các quan đi kiểm tra” hộ đê" , mải mê đánh tổ tôm đến mức quên cả tai hoạ thiên thiên bậc nhất " ( Thuỷ , Hoả , đạo tặc).
Tổ tôm không chỉ là trò giải trí trong lúc nông nhàn , mà nay là trò giải trí rất thích hợp với đông đảo ngưòi già đã nghỉ hưu ở nông thôn và thành thị .

Di cư vào Nam từ 1954:

Tôi có quen biết cụ Vũ Văn Kính ( tác giả cuốn Đại từ điển chữ Nôm ) gốc Hưng Yên , vì thời cuộc năm 1954 cụ di cư vào Nam , năm 2008 tôi vào thămcụ tại nhà riệng ở 205/39/48 Trần Văn Đang,Phường 12 Quận 3 TP HCM , trong khi trò chuyện tôi hỏi thăm Cụ hàng ngày cụ làm gì , cụ bảo hàng ngày vẫn đánh tổ tôm với các bạn già gốc Bắc hàng xóm . Như vậy Tổ tôm đã theo gót chân người Bắc vào tận Sài Gòn.
Tôi chưa có chứng cứ để xem xét liệu tổ tôm có theo gót chân Việt Kiều ra nước ngoài không?

Trong tâm linh người Việt:

Tuy đã nghiên cứu nhiều nguồn tài liệu Hán Nôm , tôi vẫn chữ hiểu tại sao ở quê tôi khi " liệm" người chết thì thường bỏ cỗ tổ tốm đã đánh( chơi) rồi vào quan tài , và có để ngoài quan tài một số quân, Cụ Nguyễn Văn Nhuận (năm 1983) thì cho rằng : " nên bỏ quân thất sách ". Vì trong dân gian ai làm cái gì cũng hỏng , cũng thất bài thì thường bị chê trách là " đồ thất sách “ , cũng có nơi thì bỏ hết quân " yêu’ ngoài quan tài ".
Có hôm , tôi đến mua hộp trầm ở cửa hàng bán đồ tín ngưỡng ở chùa Quán Sứ để đốt Tết Canh Dần ( 2010), nhân khi cô bán hàng hướng dẫn một Phật Tử nhớ vứt tiền kẽm vào huyệt cũ và huyệt mới khi "thay áo ", nam 7 đồng , nữ 9 đồng , có tiện thể tôi hỏi cô bán hàng : " Tại sao khi liệm người chết không bỏ quân Tướng -sỹ- tượng- xe- pháo- mã – tốt mà lại bỏ 120 quân tổ tôm vào vào áo quan ?". Cô trả lời tôi " Tổ tôm quân đồng hơn tam cúc”. Tôi thấy chưa thật thuyết phục, nhưng để vào ô " tồn nghi " trong đầu !
Như vậy "tổ tôm" đã vào tâm linh người Việt , cỗ tổ tôm đã chơi rồi là một trong những vật không thể thiếu khi nhập quan cho ngưòi chết !
Chắc là các quân tổ tôm sẽ bào vệ người chết khỏi sự "tấn công " ciủa ma quỷ dưới âm phủ ?
Ngày xưa nhà có đám thường tổ chức đánh tổ tôm để chia sẻ vui ( đám cưới ) và buồn ( đám ma) với gia chủ .

Phần 2

Tên gọi các quân tổ tôm

Tổ tôm có 120 quân đựoc chia như sau:

Hàng Văn thi có:
nhất(1) , nhi(2), tam (ba),tứ ( 4),ngũ(5) ,lục(6), thất(7) , bát (8), cứu(9);
Hàng Sách thi có :
nhất(1) , nhi(2), tam (ba),tứ ( 4),ngũ(5) ,lục(6), thất(7) , bát (8), cứu(9) ;
Hàng Vạn thi có:
nhất(1) , nhi(2), tam (ba),tứ ( 4),ngũ(5) ,lục(6), thất(7) , bát (8), cứu(9) ;
Hàng yêu
Thang thang , chi chi , ông cụ và tất cả nhất văn , văn , sách cũng thuộc hàng yêu .
Tổ tôm có 120 quân , nhưng mỗi con bài có 4 con giống nhau , cho nên 120 chia cho 4 chỉ có 30 quân khác nhau mà thôi .

Phần 3

Cách chơi

Muốn chơi tổ tôm có các đièu kiện sau:

- Thông thương cần có 5 ( năm ) người chơi, thực tế thiếu 1 người cũng được ( phần chơi thiếu người úp để dưới chiếu).
Người chơi phải thuộc mặt quân bài ( qua chữ Hán hoặc hình vẽ) , ví dụ tháng thang vẽ người phụ nữ cho con bú,nhị vạn vẽ cành có quả đào , bát van vẽ con cá ( dân chơi hay gọi là chép này khi đánh quân bài xuống chiếu) , bát văn vẽ chú bé đi cà kheo, , ngũ sách vẽ chiếc thuyền buồm,lục van vẽ người đàn ông chống cuốc; bát sách vẽ người ngồi bó gối hút tẩu thuốc;
Tìm cho đủ 5 người ý hợp tâm đầu, ví dụ như trong làng thì thường là anh em nội tộc hoặc học hàng phi nội tắc ngoại , có vậy chơi mới được lâu , bốn mùa xuân hạ thu đông chỉ cần chiếcư chiếc , không cần “ sân bãi " như các môn thể thao khác ở ngoài trời.
Trôn nhiều lần 120 quân, rồi chìa đều thành 6phần , 1 phần để ở đĩa giữa chiếu gọi là nọc.
Mọi người phải đếm quân xem thừa thiếu , nếu ai thừa thì phải úp bài xuống để làng rút ra một quân trả bài bài nọc hoặc nếu ai thiếu thì được rút quân ở trong bài nọc .
Ván đầu cử người cầm cái , người đó sẽ được thêm một quân lấy từ bài nọc . Ván thứ 2 trở đi ai thắng” ù" trước thì được cầm cái ( bài mọi người 20 quân , còn bài người cầm cái 21 quân).
Cũng có thể ghi điểm cho 5 người chơi để phâ cao thấp , Tuy quy định ở từng chiếu chơi mà ghi điểm ví dụ : ù thường , thông , tôm , lèo , thập hồng , bạch định , kính cụ, chi chi nẩy, kính tứ cố ( 4 cụ)…
Cách ghi điểm trong mỗi ván đánh tổ tôm;
Hồi còn bé , tôi còn nhớ nhà tôi là nơi tụ hội của cờ tướng và tổ tôm .
Cha tôi , anh trai tôi , bác tôi, chú tôi hoặc hàng xóm thường tụ tập ở nhà tôi , đánh cờ hoặc tổ tôm. Tôi học “ lỏm “ từ đó, khi chạy lên chạy xuống đun nước pha trà hầu hội tổ tôm , cờ tướng.
Lớn lên ra làm nghề , ở khu tập thể cũng đựoc hầu hạ chia bài tổ tôm cho các đồng nghiệp bậc cha chú. Tôi nhớ nhất là sau năm 1975, khi trực ở 59 Gia Long ( Lý Tử Trong Quận Nhứt TP.HCM, mấy anh em người Bắc xa nhà thường tu tập đánh tổ tôm . Khi thiếu “ chân’, tôi là loại "trẻ ranh" cũng đựoc các cụ cho chầu rìa chia bài hoặc cầm bài khi có một " chân " nào bị khuyết! Những cụ đánh tổ tôm hồi sau 1975 hầu như gần hết về chầu tiên tổ cả, Tôi còn nhớ cụ Lương Xuân Chương ( Kháng chiến chống Pháp hoạt động cách mạng ở Đà Lạt , sau làm vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ Bộ Nội thương, tôi còn nhớ cụ cao to , mặt hồng hào , đi làm bằng chiếc xe đạp nam “ thống nhất “ ở nhà xe số 9 Đinh Lễ quận Hoàn Kiếm Hà Nội) , Cụ khi cầm bài chỉ xoè ra xem qua, rồi úp bài xuống ngay, nhưng cụ nhớ từng phu bài , từng con bài bốc từ nọc , từng con bài " chân " khác đánh ra! Trong khi đến nay , tôi vẫn phải loay hoạy xếp “lưng’ , xếp phu cho "tròn bài" , chăm chăm nhìn vào con bài bôc ra từ nọc hoặc hàng xóm đánh ra , thế mà còn bị " què" để tẩy đi hoặc chờ quân ù!
Đến này , trong ký ức về đánh ttổ tôm tôi vẫn thực sự khâm phục cụ Lương Xuân Chương! Ngoài ra còn mấy cụ nữa cũng rất giỏi ví dụ như Cụ Lộ ,Cụ Phi,…
Cách tính điểm thường 25 hoặc 50 điểm thì tổng kết người cao thấp ; Hai người thấp điểm nhất thì phải chia bài;
Nếu trí nhớ của tôi không giảm sút thì " ù suống ‘ tính ít điểm nhất , còn ù cáo điểm là "Kính Tứ Cố"( toàn bài trắng có 4 ông cụ màu đỏ).
Đại loại chia điểm như sau : Suông 2 điểm, thông suông 3 điểm ,thông tôm 4 điểm, thông lèo 5 điểm,Thông bạch định 6 điểm, thông kính cụ 7 điểm, Thông thập hồng 8 điểm,thông kính tứ cố 11 điểm;
Ngoài ra còn thấy Thông thiên ù 4 điểm; Thông địa ù 4 điểm;;
Có khi có chiếu dân chơi còn đặt thêm điểm như 8 đỏ( bát hồng) , tứ chi chi ( cả bài trắng có 4 con chi chi màu đỏ), ù có thiên khai ( 4 con giống nhau ).
Nhưng trong tổ tôm tôi thấy các cụ sướng nhất là ù " chi chi nẩy’ , khi bố nọc lên thấy con chi chi , thấy người ù phát đến đét vào đùi người ngồi bên, rồi hét toáng lên : " Này chi chi nầy này. Cả chiếu lặng đi một lát và dán mắt vào con chi chi . Ù chi chi nẩy rất khó , chỉ có một nwocs chờ chi thôi , con bát sách không đựoc nối phu với ngũ ,lục,thất,batsachs Hoặc con cửu vạn không đựoc cặp cơqí cửu sách thang thăng hoặc nối với lục,thất,bát,cửu vạn.

Phần 4

Lưng của tổ tôm

Trong luật chơi tổ tôm thì quy định về “ lưng “ là quan trọng nhất . đây là một điều kiện “tiên quyết" để có thể hạ bài để “ ù "
Lưng gồm tối thiếu ba quân :
-Thiên khai( 4 quân giống nhau , người cầm cái hạ xuông chiếu trước khi đánh, hoặc người khác nếu khi cạm bài nọc thì phải hạ 4 uqqna giống nhau xuống chiếu);
- Nằm khàn: 3 quân giống nhau thì người chơi cho nằm úp xuống chiếu, nếu 1 quân ở nọc bôc lên giống thì phải dậy khàn , nếu "đãng trí" mà quên , khi ù mới dậy thì bị làng bắt là " khê khàn" hoặc sướng quá khi ù lại quên béng dậy khàn !
-Ba quân giống nhau ( trừ quân yêu : thang thang , chi chi, các con bài hàng nhất )
- Riêng nhất văn + nhị văn + tam văn cũng được coi là lưng.
Cửu văn + nhất sách+ nhất vạn.
Cửu sách + thang thang + ông cụ
Cửu vạn+ cửu sách+ thang thang
Cửu vạn +bát sách + chi chi ( gọi là "ù "có ‘ Lèo "
Bát văn + nhị sách + nhị vạn
Thất văn + tam sách + tam vạn ( gọi là "ù " có " Tôm "
Trong khi chơi , nhất thiết người chơi phải sắp xếp bài thật nhanh và thích hợp với từng quân đánh của “ làng " mà xoay cho bài của mình có " lưng" . Nếu ù không lưng thì không đựoc tính điểm mà còn khi " chê cười " là đánh thấp.

Phần 5

Cước sắc

Khi "ù " mà không "xuông " có " cước sắc" thì sẽ đựoc nhiều điểm hơn
Cụ thể như sau

Nếu hạ bài mà " ù" có :

1-Thất văn + tam sách + tam vạn ( gọi là "ù " có " Tôm "
2-Cửu vạn +bát sách + chi chi ( gọi là "ù "có ‘ Lèo ", nếu chỉ có một nước chờ con " chi chi " ở bài ;lọc " thì goi là " ù" " chi chi nẩy’
3- Trong bài có 10 con " đỏ “ thì gọi là thập hồng "
4- Trong bài trắng tinh , không có con bài đỏ nào thì gọi là " ù" " bạch định”
5- Ù mà bài trắng có có 4 ông cụ( đỏ) thì goi là "ù" " Kính Tứ ( 4) cố .dân gian nói khi gặp " kính tứ cố thì rất độc , ai mà gặp thì đều sợ không dám “ sướng “ Kính tứ cố. Thực tế cũng ítngười gặp . Sắc xuất trong cuộc dời một ngưòi đánh tổ tôm có khi không bao giờ gặp, sắc xuất bằng 0.
Thông thường hay gặp là "Tôm "hoặc "Lèo ", có khi là "thông tôm lèo ".

Phần 6

Chèo thuyền

Nếu hạ " ù " không đúng luật thì bị gọi là chèo đò".
Trong các trường hợp sau đây thì bị gọi là " chèo đò":
"Ù" thiếu/ thừa quân theo quy định . Thông thường 120 quân chia thành 5 phần , 1 phần để trên đĩa giữa chiếu làm " nọc/lọc" , còn lại 4 người đánh( nếu chỉ có 4 người đánh thì một phần bỏ trên chiếu không động đến quá trình chơi ) , khi "ù" thì phải đủ 21 quân . Nếu thiếu hoặc thừa đều bị phạm luật . Do vậy khi cầm quân trên tay , động tác đầu tiên , ai cũng phải " đếm bài " . Việc thừa thiếu là bình thường , vì người bị thua thường phải chia bài, mất tập trung trong lúc chia, quân bị kẹp nhau , hoặc có phần bị bỏ quên. Đây là lỗi rất dễ gặp khi chơi tổ tôm.
"Treo tranh": khi ăn một quân nào từ bài nọc , hoặc người ngồi liền kề đánh thì cũng phải hạ con bài ăn theo trên tay xuống chiếu , nếu quên thì bị làng " bắt bẻ" là treo tranh , ván ù sẽ không được chấp nhận.
" Kẹp cổ": ăn quân nào đều phải để trên cùng hoặc ngoài, nếu để giữa các quân thì bị gọi là " kẹp cổ".
" Bỏ ù"; Dây là lỗi rất hay gặp trong dánh tổ tôm , đây cũng chính là tiêu chí đánh giá “ thấp / cao “ trong chiếu tổ tôm. Người giỏi nghĩ thì tính được rất nhiều nước ù, còn người đánh thấp chỉ chăm chăm chỉ chờ duy nhất có 1 con bài để ù. Vì một con bài( văn , vạn sách ) có thể “ xếp “ ăn dọc theo số từ 1,2,3,4,5,6,7,8,9, những nó cũng có thể ăn ngang ví dụ Thất văn + tam sách + tam vạn ( gọi là "ù " có " Tôm " ; hoặc Cửu vạn +bát sách + chi chi ( gọi là "ù "có ‘ Lèo ", nếu chỉ có một nước chờ con " chi chi " ở bài ;lọc " thì goi là " ù" " chi chi nẩy’.

Phần 7

Cấm kỵ trong tổ tôm

Người chơi ( hoặc người gà"cố vấn" ngồi ké bên) Không nhìn trộm bài trên tay người khác. Không đựoc “ buôn cây “
Ví dụ Ăn thất văn đánh tam văn để có ( Thất văn + tam sách + tam vạn để có lưng là Tôm)
Ví dụ ăn bát văn đánh nhị văn để có lưng ( bát văn + nhị sách+ nhị vạn).
Không được đánh “ tẩy’ ba quân liền nhau ( 1 phu)
( ví dụ đánh liền ba con bát vạn đỏ , dể bài bạch định “trắng 100%”).

Phần bẩy

Mặt tiêu cực của tổ tôm

Thông thường đánh tổ tôm ở nhà quê, ai thua thì phải chia bài . Như thế cũng là vui lắm rồi. Những cũng có may rủi ( hên xui). Dù thông minh mấy những bài xấu , xoay mãi thì ‘hàng xóm’ đã ù trước mình. Thâm chí nhiều khi người cầm cái còn được “ thiên ù" , vì chia xong , đếm quân , xếpbài thì đã có lưng và các quân đều “ dọc ngang ‘ hết cả thì gọi là " Thiên ù’ , chưa hề động nọc ở đĩa giũa chiếu.Do vậy cũng không phải ai cũng bị chia mãi.Trong tổ tôm , nếu thua liền thì đi giải đen ( đi tiểu tiện).
Gia chủ của đám ma hoặc đám cưới có thể nấu nồi cháo gà bồi dưỡng cho hội tổ tôm ăn.
nếu đánh tổ tôm đêm.
Môn thể thao nào cũng có "trục trặc" như bóng đá còn có cá dộ , khán giả còn ném " vật lạ " vào trọng tài , hoặc quá khích như cổ dộng viên Hải Phòng.
Tổ tôm cũng có những tiêu cực của nó, ví dụ :
Nếu mê mệt không biết kiềm chế , thì rất dễ để vợ con chờ cơm vào bữa trưa hoặc bữa tối. Như vậy đến năm bà vợ khó chịu .
Nó là môn giải trí trí tuệ , nhưng cũng có thể những kẻ lợi dụng quá đáng để đánh "chắn" bỏ hết hàng "yêu’: 4 thang thang , 4 chi chi , 4 ông cụ , 4 nhất văn , 4 nhất vạn, 4 nhất sách) .

Phần 8

Kết Luận

Nên dưa tổ tôm vào thi đấu trong các lễ hội Làng như cờ tướng. Ngày xưa các cụ đã đánh tổ tôm điếm trong các lễ hội. Nếu loại trừ tiêu cực cờ bạc, ( như chống tiêu cực cá độ bóng đá ) Đây là nét văn hoá cổ truyền nên giữ gìn trong điều kiện hiện đại ./.

Phần Chín

Phụ lục

60 ván bài "ù" Tổ tôm
Dưới đây chúng tôi xin ghi lại 100 ván bài tổ tôm không trùng nhau , để minh hoa tính cực kỳ hấp dẫn của môn thể thao giải trí này :

1

Lưng : Bát văn ,nhị sách, nhị văn(2 quân);
Cửu sách, thang thang , ông cụ ‘
Bát sách, bát vạn, bát văn;
Tam , tứ , ngũ, lục , thất vạn;
Tam , tứ , ngũ văn;
Nhất văn;
Nhất vạn( 2 quân)

2

Lưng: 3 quân cửu vạn
Nhất , nhị , tam văn
Lục sách , lục vạn , lục văn ( 2 quân)
Thất , bát , cửu văn;
Nhị,tam,tứ vạn;
Nhất văn;
Nhất sách;
Tháng thang ( 2 quân)
Ông cụ;

3

Lưng: Cửu vạn , cửu sách , thang thang ( 2 quân);
Tam.tứ,ngũ vạn;
Lục,thất,bát,cửu văn;
Nhị, tam , tứ, ngũ ,lục văn;
Chi chi ( 2 quân ) ;
Nhất sách;
Nhất văn (2 quân);

4

Lưng :Cửu văn ( 2) , nhất vạn ( 2) nhất sách ( 2) ;
3 bát sách ;
3 tam sách ;
Ngũ sách, ngũ vạn , ngũ văn (3);
Nhị , tam , tứ vạn;
Ông cụ(2);
Chi chi (3);

5

Lưng: 3 bát vạn- bát văn- bát sách;
Lưng: 3 thất vạn;
Lưng: Bát văn, nhị sách, nhị vạn(3);
Thất, bát, cửu văn;
Ông cụ;
Thang thang;
Nhất văn;
Nhất sách;

6

Lưng: Nhất , nhị , tam văn;
Cửu văn , cửu vạn , cửa sách;
Tam, tứ, ngũ, lục sách;
Ngũ văn, ngũ vạn, ngũ sách;
Ngũ , lục , thất sách;
Nhất sách;
Nhất vạn(2)
Chi chi;
Ông cụ;

7

" Lèo "
Lưng: Bát sách , cửu vạn(2), chi chi;
Lưng : 3 lục văn ;
Lưng; 3 lục vạn;
Lưng: 3 tứ văn;
Nhất văn (2);
Nhất vạn;
Nhất sách (2)
Cửu sách(2),ông cụ, thang thang(2)

8

Cước sắc: "Kính cụ" ( có 1 ông cụ màu đỏ còn toàn bài trắng )
Lưng: Cửu văn, nhất vạn(2) , nhất sách(3);
Nhị văn, nhị vạn(4), nhị sách ;
Lục , thất , bát văn;
Ngũ văn(2) , ngũ vạn, ngũ sách ( 2);

9

Lưng: Nhất, nhị, tam văn
Lưng: 3 thất vạn;
Lưng: 3 tứ sách;
Tam, tứ,ngũ vạn;
Ngũ ,lục,thất sách;
Chi chi ( 3);
Nhất vạn;
Nhất sách;
Nhất văn;

10

Bài có 4 lưng trong đó có “ Tôm “ “ Lèo "
Lưng ( lèo): Cửu vạn ,bát sách ,chi chi;
Lưng ( tôm ) : thất văn tam sách ( 2) tam vạn(3);
Lưng: 3 ngũ vạn;
Lưng: nhất , nhị, tam văn;
Ngũ ,lục, thất sách;
Chi chi ( 3);
Nhất vạn;
Nhất sách,
Nhất văn;

11

Lưng: Cửu vạn, cửu sách , thang thang;(2)
Lưng: bát văn(2), nhị vạn, nhị sách;
Nhị,tam,tứ,ngũ,lục,thất vạn;
Tam,tứ,ngũ,lục,thất,bát văn
Ông cụ;
Chi chi(2);

12

Lưng cửu văn, nhất sách, nhất vạn(3);
Lưng:Cửu vạn, cửu sách, thang thang;
Tứ,ngũ,lục sách;
Nhị văn, nhị vạn(2), nhị sách ;
Ông cụ ( 2);
Nhất văn(1);
13 Lèo
Lưng ( lèo)
Cửu vạn , bát sách, chi chi ;
Tứ sách , tứ văn , tứ vạn( 2)
Tam văn , tam vạn, tam sách
Nhị văn , nhị vạn , nhị sách,
Ngũ vạn, ngũ sách , ngũ văn
Nhất văn(2);
Thang thang;
Chi chi;
Nhất vạn;

14

Lưng:Cửu sách, cửu vạn , thang thang
Nhị , tam , tứ ,ngũ văn;
Nhị,tam,tứ,ngũ,lục,thất sách;
Bát văn , bát sách, bát văn(3)
Ông cụ;
Chi chi;

15

Lưng
3 tam sách
Cửu sách , ông cụ, thang thang;
1,2,3 vạn;
Thất sách(3 có 2 quân ăn từ nọc ), thất vạn, thất văn(2);
Chi chi;
Nhất vạn;
Nhất sách(4);

16

3 nhị văn;
3 nhị vạn;
Tứ( văn, vạn(2z), sách( 2)
Ngũ(sách(2),văn(20,vạn)
6,7,8,9 sách;
Nhất vạn;

17

Lưng:
Thất văn, tam vạn, tam sách(2);
Cửu vạn, cửu sách, thang thang (2);
5,6,7 văn;
Bát văn(3), bát sách, bát vạn;
Ông cụ;
Chi chi;
Nhất vạn;
Nhất văn;

18

Lưng : nhất ,nhị, tam văn
3 lục văn;
Tam, tứ , ngũ văn;
Tam, tứ , ngũ, lục sách;
Thất , bát, cửu vạn;
Nhất sách;
Nhất văn;
Thang thang;
Chi chi;

19

Lưng (lèo)
Cửu vạn, bát sách, chi chi;
Bát văn, nhị vạn, nhị sách;
Nhất , nhị , tam , tứ, ngũ văn;
Nhất ,nhị,tam,tứ sách;
Thang thang;
Ông cụ;
20

Cửu sách, thang thang, ông cụ;
Bát văn , nhị vạn ( 2) , nhị sách;
Tứ , ngũ , lục, thất sách;
Lục,thất, bát , cửu vạn
Cửu văn(2), nhất vạn, nhất sách;
Nhất văn;

21

Lưng: bát văn , nhị vạn, nhị sách;
Tam văn, tam sách (2), tam vạn(3);
Bát sách, bát vạn(2), bát văn;
Ông cụ;
Nhất vạn;
Chi chi ;
Nhất sách;

22

Nhất , nhị, tam văn;
Bát văn , nhị vạn , nhị sách;
Ngũ,lục, thất , bát sách;
Tứ sách, tứ văn (2), tứ vạn(2);
Nhất vạn;
Nhất văn;
Nhất sách;
Ông cụ;
Thang thang;
Chi chi;

23

Lưng ( lèo ) Cửu vạn , bát sách, chi chi ;
Cửu văn ( 3), nhất vạn, nhất sách;
Cửu sách , thang thang , ông cụ;Tứ , ngũ , lục vạn;
NGũ, lục, thất vạn;
Nhất văn;

24

Lưng ( lèo) Cửu vạn, bát sách, chi chi (2); Nhất,nhị,tam văn;
Tứ, ngũ, lụcvăn;
Nhị , tam, tứ vạn;
Lục sách(2), lục vạn(2) ,lục văn;
Nhất vạn;
Nhất sách;
Thang thang;

25

Lưng Bát văn, nhị vạn , nhị sách;
Ngũ,lục,thất,bát,cửu sách;
Thất,bát,cửu vạn;
Ngũ văn , ngũ vạn , ngũ sách;
Tam vạn(2), tam sách, tam văn(2);
Nhất vạn;
Ông cụ;

26

Lưng: Cửu vạn, cửu sách, thang thang;
3 lục văn;
Tứ, ngũ ,lục vạn;
Nhị, tam, tứ, ngũc, lục, sách;
Nhất sách(2);
Nhất vạn;
Ông cụ( 3);

27

Lưng: nhất , nhị, tam văn;
3 nhị sách;
Thất văn, tam vạn, tam sách(2);
Ngũ,lục,thất,bát,cửu sách;
Nhất sách(2);
Chi chi(2);
Ông cụ;
Thang thang:

28

Lưng ( thiên khai) 4 bát văn ;
Lục , thất, bát vạn;
Thất văn, thất sách, thất vạn;
Nhị , tam, tứ vạn
Ngũ vạn, văn , ách ( 2);
Nhất vạn(2);
Chi chi;
Nhất văn;

29

Nhất, nhị, tam văn;
Nhất, nhị, tam vạn
Lục,thất,bát sách;
Tứ sách(2), tứ văn, tứ vạn
Bát vạn, bát sách, bát văn;
Nhất vạn;
Nhất sách;
Thang thang;
Ông cụ;

30

Lưng ( lèo)Cửu vạn(2), bát ách, chi chi(3)
3 ngũ sách;
3 tứ vạn;
Cửu sách , thang thang(2), ông cụ;
Cửu văn, nhất vạn, nhất sách(2)
Nhất văn;

31

Lưng ( lèo ) Cửu vạn(2), bát sách, chi chi ;
Cửý sách , thang thang , ông cụ;
Nhất, nhị , tam văn;
Nhất , nhị , tam , tứ , ngũ , lục văn;
Ngũ , lục,thất , bát vạn;
Nhất vạn;
32

Lưng ( lèo): Cưủ vạn(2), bát sách(2) ,chi chi;
Cửu vạn, cửu sách(2) , thang thang ;
Ngũ,lục,thất,bát vạn;
Tam,tứ,ngũ,lục,thất văn;
Nhất văn(2);
Nhất vạn;
33

Lưng ( tôm):Tam vạn (2), tam sách(2) , thất văn(2);
Cửu văn(2), nhất vạn, nhất sách(2):
Nhị, tam, tứ, ngũ văn;
Thất văn, bát văn, cửu văn;
Chi chi ( 2)
Thang thang;

34

Lưng ( tôm):Tam vạn(3)tam sách, thất văn ( 2);
Nhất văn, nhị văn , tam văn ;
Ngũ,lục,thất,bát sách;
Bát vạn(2),bát văn, bát sách;
Nhất văn;
Nhất sách(2);
Ông cụ;

35

Lưng ( lèo): Cửu vạn(2), bát sách , chi chi;
Tứ, ngũ ,lục văn;
Nhất, nhị, tam vạn;
Tam, tứ, ngũ sách;
Tứ văn , tứ sách, tứ vạn;
Thang thang( 2);
Ông cụ(2);
Nhất văn;

36

Lưng ( lèo ) : Cửu vạn, bát sách, chi chi;
Lưng ( tôm): Tam vạn(2),tam sách(2) ,thất văn;
Tứ,ngũ,lục,thất,bát vạn;
Cửu sách , thang thang ,ông cụ(3)
Nhất vạn;
Nhất sách(2);

37

Lưng: Cửu văn , nhất vạn, nhất sách;
Tứ văn(2), tứ vạn, tứ sách;
Ngũ,lục,thất, bát , cwur văn;
Tam,tứ,ngũ,lục vạn;
Ngũ vạn , ngũ sách, ngũ văn;
Ông cụ;

38

Lưng (lèo): Cửu vạn(2), bát sách, chi chi;
Nhị,tam,tứ,ngũ vạn;
Nhất, nhị , tam văn;
Thất vạn92), thất sách, thất văn93);

39

Lưng: Cửu vạn, cửu sách, thang thang;
3 tứ văn;
Ngũ ,lục,thất vạn;
Nhị, tam, tứ sách;
Nhất văn ( 3)
Nhất vạn(2)
Nhất sách;
Chi chi(2);
Ông cụ;

40

Lưng(lèo): Cửu vạn(2), bát sách, chi chi(3);
Cửu văn , nhất vạn, nhất sách;
Cửu sách, thang thang(2), ông cụ;
Nhất , nhị , tam , tứ văn;
Lục văn, lục vạn(2), lục sách;
41

Lưng : 3 lục văn;
Nhị,tam,tứ văn;
Nhị,tam,tứ vạn;
Ngũ văn(2), ngũ sách, ngũ vạn;
Thất vạn, thất văn; thất sách;
Nhất văn (2);
Nhất sách(2)
Chi chi;

42

Lưng (tôm) thất văn, tam vạn(2), tam sách;
Bát văn92), nhị sách, nhị vạn;
Ngũ,lục,thất,bát sách;
Cửu vạn, cửu văn; cửu sách;
Ông cụ(2);
Chi chi;
Nhất vạn;
Nhất văn;
Nhất sách;

43

Lưng( lèo): Cửu vạn, bát sách, chi chi;
Thất văn, tam vạn,tam sách;
Cửu sách, thang thang , ông cụ;
Lục,thất,bát vạn;
Nhị,tam,tứ,ngũ sách;
Nhất văn ( 2);
Nhất sách(2);

44

Lưng(lèo):Cửu vạn(2) , bát sách(2) , chi chi;
Cửu sách, cửu vạn, cửu văn(2);
Tứ, ngũ , lục sách;
Thất văn , thất vạn, thất sách;
Thang thang;
Ông cụ;
Nhất sách;

45

Lưng Cửu văn, nhất sáhc ( 2), nhất vạn( 4)
Nhị, tam, tứ văn;
Tam văn(2), tam vạn, tam sách;
Bát vạn, bát sách, bát văn;
Thang thang;
Ông cụ
Chi chi;

46

Lưng (lèo): Bát sách , cửu vạn,92) , chi chi;
3 tứ vạn;
Nhất, nhị, tam, tứ, ngũ , lục, thất văn;
Nhị , tam,tứ sách;
Thang thang(3);
Ông cụ:

47

Lưng:Bát văn, nhị vạn, nhị sách;
Tứ,ngũ,lục,thất,bát sách;
Nhị,tam,tứ văn;
Lục,thất bát vạn;
Chi chi(2);
Nhất vạn(3);
Nhất sách;
Thang thang;

48

Lưng ( lèo)
Cử vạn, bát sách , chi chi(3);
Cửu sách, thang thang , ông cụ(2);
Cửu văn, nhất sách, nhất vạn;
Nhất , nhị, tam, tứ văn;
Ngũ,lục,thất, bát vạn;

49

Lưng: Cửu vạn, cửu sách, thang thang;
Bát văn, nhị vạn, nhị sách;
Ngũ,lục,thất vạn;
Tứ,ngũ,lục sách;
Tam,tứ,ngũ sách;
Tứ văn, tứ vạn, tứ sách;
Nhất sách;
Nhất vạn
Nhất văn;
50

Lưng ( tôm ): Tam sách, tam vạn ( 2) , thất văn(2);
Bát văn, nhị vạn , nhị sách;
Cửu văn(2), nhất sách, nhất vạn;
Nhất văn (2);
Ông cụ(2);
Thang thang;
Chi chi;
Tứ, ngũ, lục văn;

51

Lưng: Cửu vạn(2), cửu sách, thang;
Cửu văn, nhất vạn, nhất sách;Tứ,ngũ,lục,thất,bát văn;
Tam văn93), tam vạn, tam sách;
Nhất văn 92);

52

Lưng(lèo) Cửuvạn, bát sách92), chi chi;
Cửu vạn, bát sách(2), cửu văn(2);
Nhất, nhị, tam sách;
Ngũ văn(2), ngũ vạn, ngũ sách(2);
Thang thang(2);
Nhất vạn;
Nhất văn;

53

Lưng Cửu văn, nhất vạn, nhất ách;
Cửu sách, thang thang, ông cụ(2);
Nhị văn, nhị vạn, nhị sách (2);
Tam,tứ,ngũ,lục sách;
Chi chi;

54

Lưng Bát văn(2), nhị vạn, nhị sách;
Tam,tứ,ngũ,lục,thất,bát vạn;
Thất,bát,cửu sách;
Thất văn(2), thất vạn,thất sách;
Nhất văn(2),
Nhất sách ;
Ông cụ;

55

Lưng: Nhất , nhị, tam văn;
Tam văn, tam vạn, tam sách;
Thất, bát, cửu vạn;
Tứ,ngũ,lục,thất sách;
Tứ, ngũ,lục văn;
Nhất văn;
Nhất vạn(2);
Chi chi(2);

56

Lưng : 3 cửu văn;
Nhất,nhị,tam vạn;
Lục,thất,bát,cửu vạn;
Bát vạn(2),bát sách, bát văn;
Nhất vạn(2);
Nhất sách92);
Chi chi;
Ông cụ;
Nhất văn;

57

Lưng(lèo):Cửu vạn, bát sách, chi chi;
Cửu vạn, cửu sách, thang thang;
Tứ vạn, tứ sách, tứ văn;
Nhị văn, nhị vạn , nhị sách(2);
Lục,thất,bát văn;
Tứ,ngũ,lục văn;
Nhất sách(2);

58

Lưng(tôm): Thất văn,tamvạn,tấmchs(3)
Nhất nhị,tamvăn;
Cửu sách, thang thang(2), ông cụ(3);
Thất,bát,cửu sách;
Tứ,ngũ,lục,thất vạn;

59

Lưng: Nhất ,nhị,tam văn;
Bát văn, nhị sách, nhị vạn 92);
Nhất vạn(20;
Thang thang
Ông cụ
Chi chi;
Nhất sách;
Cửu sách(3), cửu văn, cửu vạn(2)

60

Lưng: Cửu văn, nhất sách, nhất vạn;
3 ngũ vạn;
Lục,thất,bát,cửu sách;
Lục,thất,bát vạn;
Tam,tứ,ngũ sách;
Tứ văn, tứ vạn, tứ sách;
Chi chi;
Thang thang;


© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 01.06.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội.