HOÀNG DIỆU

Ngàn Năm Sáng Ngời Chính Khí


LÊ NGỌC TRÁC


      Kể  từ năm 1867, cả miền Nam nước Việt đã hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp. Năm 1873, Pháp đưa quân  đánh thành Hà Nội lần thứ nhất, Tổng thống quân vụ Bắc Kỳ Nguyễn Tri Phương thất trận phải tuẫn tiết. Ấy vậy mà triều đình nhà Nguyễn vẫn chưa đề ra được một sách lược nào khả dĩ để bảo vệ đất nước. Vua Tự Đức lúng túng, bất lực trước sự sống còn của đất nước và dân tộc. Nội bộ triều đình phân hóa sâu sắc, chia ra nhiều phái: Phái chủ hòa gồm những nhân vật chính yếu như: Trần Tiễn Thành, Nguyễn Bá Nghi, Lâm Duy Hiệp, Trương Quốc Dụng... ; Phái "bão hòa làm tay sai cho Pháp" gồm Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc, Đỗ Hữu Phương... Phái chủ chiến đánh Pháp đến cùng gồm các quan đại thần: Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm, Hoàng Diệu... Thời điểm này trong hàng quan lại của triều đình và sĩ phu trong nước đã rộ lên phong trào mang tư tưởng canh tân đất nước. Vào thời kỳ này, chủ nghĩa tư bản Pháp đã chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc, cần mở rộng thuộc địa, thông qua chiến thuật, chiến lược chiếm đóng, cai trị. Chính phủ Pháp quyết tâm xâm chiếm cả Đông Dương, bao gồm Việt Nam, Lào và Campuchia. Pháp đã lợi dụng tình hình chia rẽ trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn, chủ trương dùng vũ lực tiến đánh thành Hà Nội một lần nữa. Năm 1880, vua Tự Đức bổ nhiệm Hoàng Diệu làm Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình.

      Hoàng Diệu còn có tên là Hoàng Kim Tích, tự Quang Viễn, hiệu là Tĩnh Trai. Ông sinh vào ngày 10 tháng 2 năm 1829 tại làng Xuân Đài, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Năm 1848, Hoàng Diệu đỗ cử nhân, năm 1853 đỗ Phó bảng. Ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, rồi được thăng chức Tri phủ huyện Tri Viễn. Năm 1877, Hoàng Diệu được cử làm Tham tri Bộ Hình, Tham tri Bộ Lại, coi Viện Đô sát và được tham dự vào công việc Cơ mật viện. Ông cũng là người được triều đình cử giữ chức Phó toàn quyền đại thần để hiệp thương với sứ bộ Tây Ban Nha. Hoàng Diệu là người nổi tiếng công minh, thanh liêm và văn võ song toàn.

      Khi nhận chức Tổng đốc hai tỉnh Hà Nội và Ninh Bình, Hoàng Diệu đã thấy rõ vị thế  trọng yếu của thành Hà Nội. Ông tự nêu trong sớ tâu lên Tự Đức: "Thành Hà Nội như cuống họng của cả Bắc kỳ. Nếu một ngày tan tành như đất lở, thì các tỉnh miền Bắc lần lượt mất như ngói bung". Dự đoán thế nào Pháp cũng đánh thành Hà Nội, ngay khi trấn nhậm Hà Nội, Hoàng Diệu khẩn trương bắt tay vào việc đào hào, đắp lũy, tổ chức phòng thủ và sẵn sàng chiến đấu. Ngày 26/03/1882, Đại tá Henry Rivière chỉ huy hơn 600 lính Pháp và 3 pháo hạm tiến quân theo đường sông Hồng để tiến đánh Hà Nội. 5 giờ sáng ngày 25/04/1882, Henry Rivière gởi tối hậu thư cho Hoàng Diệu đòi phải triệt thoái quân đội, buộc quan quân phải tới dinh của hắn để trình diện. Hoàng Diệu tiếp tối hậu thư, phẫn uất trước thái độ ngang ngược của Pháp, ông liền phân công Án sát Tôn Thất Bá đi gặp quân Pháp để điều đình. Nhưng, đến 8 giờ 15 phút, Henry Rivière tấn công thành Hà Nội. Trước hỏa lực của quân cướp nước, Hoàng Diệu quyết liệt đối phó, ông chỉ huy quân sĩ chống cự ở phía Bắc. Trong khi ấy, Án sát Tôn Thất Bá chạy trốn và theo giặc Pháp. Khi đánh nhau, kho thuốc súng trong thành Hà Nội nổ. Bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Văn Trinh bỏ thành chạy. Thành vỡ. Một mình Hoàng Diệu vào hành cung thảo tờ di biểu gởi vua Tự Đức rồi đến trước võ miếu dùng khăn bịt đầu thắt cổ tự tử. Trong di biểu gởi vua Tự Đức và triều đình, Hoàng Diệu đã viết:

      "Tôi học lực thô sơ, trách nhiệm quá  lớn, được ủy thác giữ  cả một phương diện, trong khi ba cõi chưa yên. Một gã thư sinh vốn chưa quen việc chính trị, mười năm hòa ước, tin sao được lòng kẻ thù.

      Tôi từ khi vâng mệnh ra đây đã được ba năm, thường huấn luyện quân sĩ, sửa sang thành trì, không những chỉ  để củng cố đất ta, mà  còn để ngăn chặn loài lang sói nữa.

      Dè  đâu chim còn đang ràng tổ, thú  đã vội thay lòng, ngày tháng hai năm nay bỗng thấy tàu Tây tụ tập, đồn quân thêm nhiều, quân nó từ xa đến, lòng dân ta xôn xao.

      Tôi thiết nghĩ Hà Nội là  cổ họng của miền Bắc, mà  là đất trọng yếu của nước nhà, nếu một khi mà đổ sụp thì các tỉnh khác cũng tan rã theo, vì thế tôi lấy làm lo sợ, một mặt kíp tư cho các hạt lân cận, một mặt báo tin lên triều đình, xin cho thêm quân để kịp đối phó. Không ngờ mấy lần có chiếu xuống: Hoặc trách tôi là nắm binh quyền mà lòe nạt, hoặc kết tội tôi là xử lý chưa được thích nghi; cúi đọc lời phán truyền, thực nghiêm khắc hơn rìu búa! Kẻ dưới quyền thất vọng, khôn tính bước tiến lui.

      Vẫn biết rằng chuyên chế kém tài, đâu dám cậy cái nghĩa bậc  đại phu ra giữ bờ  cõi, chỉ nơm nớp tự  mình nhắc nhở, phải kính theo tấm lòng thờ vua của người xưa.

      Hằng ngày bàn bạc với đôi ba người chức việc, có  người bàn nên mở cổng cho chúng tự  do ra vào; có người bàn nên rút hết quân  đi, để chúng khỏi ngờ  vực. Những kế đó dù  tôi có phải nát thịt tan xương, cũng không bao giờ nỡ làm.

      Việc  điều động chưa xong thì  chúng liền giở mặt. Ngày mồng 7 tháng này, chúng hạ  chiến thư, ngày hôm sau là  chúng tiến đánh, quân chúng đông như kiến tụ, súng chúng gầm như  sấm vang; ngoài phố lửa cháy tràn lan, trong thành ai nấy táng đởm, tôi vẫn gượng bệnh đốc chiến, đi trước quân lính, bắn chết được hơn trăm tên, giữ thành được nửa ngày. Vì chúng nó sung sức mà quân ta kiệt hơi rồi, lại thêm tuyệt đường cứu viện, thế lâm đường cùng, quan võ thị sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt! Lòng tôi đau như cắt, một tay không thể duy trì. Đã không tài làm tướng, than thân sống cũng bằng thừa; thành mất cứu không xong, biết chắc chết không hết tội! Rút lui để tính toán về sau ư? Mưu trí đã thua Tào Mạt, cắt cổ để cho tắc trách, hành vi đành bắt chước Trương Tuần! Dám rằng trung nghĩa gì đâu, chẳng qua sự thế phải thế! Trung nguyên mà đắm chìm thành đất giặc, sống càng sạn mặt với nhân sĩ kinh kỳ, cô trung quyết sống thác với thành Rồng (Thăng Long thành) thì xin theo bậc tiên thần họ Nguyễn (Nguyễn Tri Phương) dưới chín suối!

      Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa trời, chỉ  mong rực rỡ đôi vầng, xét soi thấu tấc son là  đủ!"

              (Bản dịch của Hoàng Tạo)

      Qua nội dung di biểu gởi vua Tự Đức. Và, cũng là  lời cuối cùng của một tâm huyết cuối cùng của một người hết lòng vì nước, càng thấy rõ Hoàng Diệu là một con người cương trực, một lòng trung với vua, với nước. Hoàng Diệu đã phải đơn độc đấu tranh với những kẻ cơ hội đầu hàng. Ông một lòng quyết tâm đánh Pháp đến cùng để bảo vệ giang sơn. Càng thấy rõ triều đình và vua Tự Đức thiếu sáng suốt, không nhận rõ ai là trung thần, ai là nịnh thần sẵn sàng chạy theo làm tay sai cho Pháp. Hoàng Diệu là trung thần đơn độc giữa bối cảnh lịch sử rối ren thời bấy giờ.

      Thương tiếc và cảm kích trước sự hy sinh đầy bi tráng của Hoàng Diệu, nhân dân Hà Nội góp tiền mua áo quan, làm lễ mai táng Hoàng Diệu ở vườn Đốc học. 3 năm sau, gia đình ông ở Quảng Nam mới đưa hài cốt của ông về cải táng tại quê nhà.

      Trước sự hy sinh của Hoàng Diệu, một con người trung quân ái quốc, nhân sĩ Hà thành đã viết: "Hà thành chính khí ca" và "Hà thành thất thủ ca" ca ngợi Hoàng Diệu và lên án những kẻ tham sống sợ chết, đầu hàng làm tay sai cho giặc. Sĩ tử đất Hà thành đã làm thơ khóc Hoàng Diệu:

          Cô  thành độc thủ chích thân đan

          Khảng khái như công, thế sở nan

          Cựu lục thiên thu truyền tiết liệt

          Cô  thần nhất tử kiến trung can

          Thâu sinh thử nhật tâm do quí

          Nghịch tặc đương niên cốt dĩ hàn

          Thiên tải Nùng sơn tiêu chính khí

          Anh hùng đáo xứ lệ tương can.

          (Cô  thành chống giữ một mình thôi

          Khảng khái như ông được mấy người

          Sách cũ nghìn năm gương tiết rọi

          Cô  thần một chết tấm trung phơi

          Sống thừa ngày nọ tâm còn thẹn

          Giặc nghịch năm nao sợ rụng rời

          Nghìn thuở núi Nùng nêu chính khí

          Anh hùng đến đấy, lệ tuôn rơi).

              (Bản dịch của Chu Thiên) 

      Nghe tin Tổng đốc Hoàng Diệu mất, danh sĩ Nguyễn Cao –  người từng thi đỗ giải nguyên khoa thi năm 1867 đã viết bài thơ khóc Hoàng Diệu với nỗi đau của tấm lòng một người tri kỷ:

          Đế giản Long biên Hoàng chế đài

          Hốt văn âm tín động bi ai

          Thành tri nan thủ ninh chung nhật

          Tặc bất câu sinh thệ cửu hồi

          Chính khí khẳng dung Dương thủy mỗi

          Hùng tâm ưng đái Hải vân lai

          Hồi  đầu trấp lục niên tiền sự

          Tương đối luân tâm, hàn tửu bôi. 

          (Trấn giữ Long biên vua chọn dùng

      Tin đâu ngao ngán tiếc Hoàng công

          Biết thành giữ khó còn qua buổi

          Với giặc thề không chịu sống chung

          Nước rợ khôn nhơ vầng chính khí

          Đèo Mây đưa lại chí anh hùng

          Việc hai mươi sáu năm về trước

          Chén rượu đồng tâm bỏ lạnh lùng). 

          (Bản dịch của Hoàng Tạo) 

       Hoàng Diệu là tấm gương sáng về lòng yêu nước, một người có chính khí cao, sống mãi cùng đất nước.

 

__________________________________

Trong THƠ TUYỆT MỆNH CỦA NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC sẽ xuất bản




© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 30.05.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Phan Thiết.