HOÀNG CẦM - HỒN THƠ ÁNH SÁNG

Một Không Gian Mưa



MAI THỤC


Kỳ Thứ 4

 

 Một Không Gian Mưa :

      

        Đọc thơ Hoàng Cầm, ta thấy một vùng Kinh Bắc lúc nào cũng Mưa. Hạt mưa, tiếng mưa rơi, khi vô hình, khi hữu hình, gắn với cảnh sinh hoạt đời sống, lịch sử, văn hoá, tâm trạng, tâm linh…

       Không gian Mưa là một lăng kính nghệ thuật làm sống dậy cuộc sống, con người Kinh Bắc trong sự biến thiên của lịch sử. Nhà thơ tưới lên một không gian nghệ thuật bằng Mưa. Tiếng mưa rơi xuyên năm tháng. Không bến bờ. Mưa và Mưa. Mưa từ tiền sử đến bây giờ. Mưa vẫn Mưa.

      Mưa trong cung đình, phủ chúa. Mưa ngoài đồng. Mưa bến sông. Mưa trong chùa vắng lặng. Tiếng mưa lẫn tiếng mõ, tiếng chuông, từng giọt, từng giọt rót xuống lòng ta. Mưa rơi!

      Mưa trong lòng người, từ hoàng hậu, cung phi, mỹ nữ, cung tần, đến cô cắt cỏ, cô hái dâu, cô lái đò, ni cô, Phật tử, người vợ, người mẹ, người yêu và nấm mộ cô em gái… Mưa cứ rơi và rơi.

        Một phần ba số bài thơ ở tập Mưa Thuận ThànhBên kia sông Đuống có tiếng Mưa rơi. Tiếng Mưa khi to, khi nhỏ, khi nhẹ nhàng, thánh thót, khi ào ào, xối xả, khi sầm sập, khi tuôn trào như nước mắt. Mưa rơi!

         Bài Mưa Thuận Thành cầm nhịp Mưa rơi cho cả tập Mưa Thuận Thành.

       Nhịp Mưa thấm nhẹ trong mắt người yêu:

              “Mưa Thuận Thành

                Long lanh mắt ướt”

        Mưa chạm khẽ êm đềm trong hoa lá cỏ cây như vuốt ve, âu yếm, tự tình:

             “Mưa chạm ngõ ngoài

                 Chùm cau tóc xoã”

         Mưa chạm nhẹ môi cười thiếu nữ, nâng nàng lên ngôi Hoàng hậu:

             “Cung vua mưa lơi

                Lên ngôi Hoàng Hậu”

          Mưa rơi như tiếng tơ nhạc, mịn như nhung, mơn man như khói, dẫn dắt lứa đôi vào hạnh phúc:

                “Mưa còn khép nép

                  Nhẹ rung tơ đàn

                   Lách qua cửa hẹp

                   Mưa càng chứa chan”

           Nhịp mưa nghiêng nghiêng, xuyên suốt thời gian, không gian, nối liền quá khứ và hiện tại bằng những giọt mưa Ánh sáng:

            “Ngời bến Luy Lâu

              Tóc mưa nghiêng đầu”

         Tiếng Mưa khi vui như tiếng chim nhảy nhót trong không gian “Hạt mưa chèo bẻo”, khi lại rơi từng giọt, từng giọt, xát muối lòng người. Mưa rơi trong màn đêm:

                   “Hạt mưa hoa Nhài

                      Tàn đêm kỹ nữ”

         Lại có nhịp mưa xối xả, dữ dội, tung sức mạnh tàn phá cả vạn vật vùng Kinh Bắc:

                   “Hạt mưa sành sứ

                     Vỡ gạch Bát Tràng”

       Dai dẳng nhất vẫn là nhịp mưa tầm tã nỗi nhớ thương, tiếc hận, mong chờ, đợi tình yêu khắc khoải, mỏi mòn trong hồn người phụ nữ Kinh Bắc:

                “Mưa gái thương chồng

                    Ướt đầm nắng quái

                    Sang đò cạn sông”

         Mưa như tiếng gọi tình yêu sự sống, hoà nhịp trong tiếng chuông chùa bảng lảng lúc hoàng hôn, làm thức dậy khát vọng yêu thương tưởng chừng đã chết, từ trong trái tim những ni cô:

                  “Mưa chuông chùa lặn

                   Về bến trai tơ

                    Chùa Dâu ni cô”

        Những giọt mưa có hình, có bóng, ẩn hiện khắp đồng quê, ẩn thân mình thiếu nữ, gọi trở về với sự sống yên vui, dân dã, trong lành:

                     “Mưa ngồi cổng vắng

                       Mưa nằm lẳng lặng

                       Nhớ lụa mưa hè

                       Sồi non yếm tơ”

         Bài thơ Mưa Thuận Thành là một bản nhạc Mưa nổi lên giữa Một Không gian Mưa.

          Bản nhạc Mưa vang lên nhiều cung bậc, lúc êm dịu, khi trầm lắng, khi ào ạt, dạt dào, lúc thăm thẳm xót thương, khi buồn nhớ cô lieu, khi sầm sầm rung trời đất. Bản nhạc Mưa hay tiếng lòng Mưa trong, đục ấy, gắn với sự sống, với từng thân phận con người Kinh Bắc từ hồng hoang đến bây giờ, trong một cấu trúc ngôn ngữ hàm súc, giàu nhạc điệu, ngân rung, réo rắt, đa tầng, đa nghĩa, có mối liên tưởng ngang, dọc:

               “Hạt mưa> Hoa Nhài

                 Tàn đêm> Kỹ nữ”

          Hoa Nhài và Kỹ nữ. Một thân phận mỏng manh! Một đêm Mưa. Những đêm Mưa.

        Hạt Mưa khi ôm chứa một điển tích, đựng cả một câu chuyện lịch sử, một không gian, thời gian cổ tích, huyền thoại, một chuyện tình vua chúa với nàng hái dâu Kinh Bắc:

               “Giọt mưa chưa đậu

                 Vai trần Ỷ Lan”

         Tuy vậy, Mưa trong tập Mưa Thuận Thành chỉ là một không gian ảo, không gian tâm linh, chưa có màu sắc, đường nét của sự sống thực:

           “Nhìn mắt anh, ao mưa nhoà nắng”

           “Còn lại giếng Mưa Ngâu”

           “Gõ nhịp giọt gianh bên thễm vắng”

           “Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng”

           “Rũ mưa lồng chăn lẻ chiếc”

            “Bập bồng phun mưa”

          Nhưng tập Bên kia sông Đuống là những giọt mưa thực sự rơi từ trời rơi xuống thân phận bao người đẫm nước mưa. Mưa hiện liền thẫm ướt từng mảnh đời, từng thân phận, từng cảnh sinh hoạt, làm lụng, trong sự đói no, khốn khó, giặc cướp, hay trong những tâm trạng tuyệt vọng, đau buồn, và cả phút yêu đương say đắm.

     Đó là những giọt mưa được quan niệm trong tư duy khoa học, nó có tác động về mặt sinh thái, môi trường, hay trong tâm thức.

          Những giọt mưa tạo ra sự khốn cùng, vất vả của mẹ, của người em gái:

                     “Mẹ ta lòng đói dạ sầu

            Đường mưa trơn lạnh, mái đầu bạc phơ”…

                      “Tiếng em cắt cỏ hôm xưa

                  Hiu hiu gió rét mịt mù  mưa bay”

       Mưa ngâm bầm nát người nằm dưới mộ:

                   “Mồ tháng giêng mưa ướt sũng”

       Nhưng cũng đôi khi ta bắt gặp màn mưa huyền diệu khoảnh khắc khoan hoà, tạo một không gian mờ ảo, chắp cánh cho tình yêu bay lên. Mưa chan chứa Tình yêu tự tình:

                  “Mưa nhung áp má bồi hồi

             Nghe khô từng sợi mưa dài lặng im

                    Nằm trong mắt bão tuyệt trần

               Mưa nhung tung cánh trắng ngần em bay”

       Và cuối cùng Mưa Thuận Thành, Mưa Kinh Bắc chính là giọt nước mắt của nhà thơ:

                 “Mưa đi về Anh, mưa thành nước mắt”

                 “Giọt mưa phương Nam, lệ nhoà qua mi”

                 “Về mắt Anh, thành chan chứa mưa rơi”

         Mưa nước mắt nhà thơ, thấm từng dòng, từng chữ, từng âm điệu, câu thơ nhạt nhoà tuôn chảy về Kinh Bắc. Không năm tháng.

         Đó là biển nước mắt “Muối mặn gừng cay”, tung trong sóng bể bạc đầu nỗi thương nhớ con người, thương nhớ thời gian, không gian đã mất. Thương nhớ cái đẹp của một thời đã mất. Đó là giọt nước mắt thương mẹ nhọc nhằn một kiếp trầm luân chưa kịp đáp đền. Giọt nước mắt khóc cho tình yêu đã mất, những khát vọng không thành. Giọt nước mắt của cái tâm yêu thương dâng về Đất Mẹ.

       Trong các nhà Thơ Mới, Huy Cận hay làm thơ Mưa. Với ông, mưa là một môi giới của nội tâm và ngọai cảnh gặp nhau. Sự gặp nhau giữa vô thể và hữu thể (mưa không định hình, chuyển hoá trong vũ trụ, được nội tâm hoá). Mưa xoá phủ đi mọi vật, làm nhoà không gian, chỉ còn tâm trạng mờ mờ lãng đãng, tan theo nhịp mưa:

                       “Đêm mưa làm nhớ không gian

                        Lòng run thêm nỗi lạnh làm bao la

                        Tai nương nước giọt mái nhà

                        Nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn”

                                                       (Buồn đêm mưa)

        Với Hoàng Cầm, Mưa là một không gian vũ trụ đang chuyển vần, tương hợp với sự sống con người, hiện ra một không gian xã hội. Mưa trong thơ Hoàng Cầm hiện hữu cái nhìn trực giác của nhà thơ về thời gian, không gian và sự sống của con người, vạn vật hoà đồng, Thiên- Địa- Nhân hợp nhất.

            

               Một không gian hội hè 

        Thơ Hoàng Cầm âm vang không khí hội hè của làng quê Kinh Bắc, của văn hoá thôn làng Việt Nam. Một không gian hội tụ các hoạt động văn hoá, tinh thần, nghệ thuật đặc sắc của nhân dân, là một sinh hoạt cộng đồng có khả năng đáp ứng được nhiều mặt nhu cầu văn hoá của con người:

                               Mở hội hôm nay

                               Đồi rộng cỏ thơm

                               Sánh giọng so lời

                               Mắt giếng sâu nhìn nhau đằng đẵng

                               Quan họ lại bắt đầu

            Nhịp thơ bay bổng tiếng hát hội hè làng quê của Hoàng Cầm khẳng định hội làng là lễ hội sinh động, lôi cuốn cả làng vào cuộc sống chung, náo nức, tự nguyện và say mê, trong một thời điểm mưa thuận, gió hoà, lòng người thanh thản.

         Hội làng thường mở theo mùa trồng cấy, khi lúa đã cấy xong hoặc khi vụ chiêm đã xanh chân mạ, kết thúc vòng quay của bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Nhất là lúc sang xuân, người ta mở hội đón vòng quay mới của vũ trụ.

      Thơ Hoàng Cầm tưng bừng Ánh sáng hội làng dân dã, đã ăn sâu trong tiềm thức người Việt, đời này sang đời khác. Lễ hội chở theo lối nghĩ, lối sống, nguyện vọng, niềm vui của mọi người trong cộng đồng làng xã, vừa lo dựng làng, giữ nước, vừa đau khổ suy tư trong lo âu và khát vọng sống yên bình, no đủ trong tình yêu, hạnh phúc.

       Không gian hội hè trong thơ Hoàng Cầm là một không gian mở. Quá khứ và hiện tại đồng hiện, gợi đến những không gian khác nhau của lịch sử, văn hoá, tình yêu, tâm linh…

        Bài thơ Hội đền tám vua triều Lý dựng lên cả một không gian quá khứ xa xưa từ những pho tượng rỗng, những thớ gỗ khắc hình rồng phượng, những nét chạm hoa văn tài hoa của ngươì thợ còn lưu trong đền Lý Bát đế:

                 “Hội đền tám vua triều Lý

                 Còn đau thớ gỗ phượng rồng chen chúc

                  Khoảng trời thương nhớ tạnh thời gian

                  Tám tượng ngồi vê tà áo mỏng

                  Để thạch sùng vào bụng rỗng

                  Chép miệng vàng son ngút khói tan”

        Hội hè chỉ là cái cớ để gợi trong cái nhìn của nhà thơ về lịch sử.

           Vàng son vua chúa một thời, giờ đây cũng tan theo làn khói mỏng.

         Nhưng dấu ấn tư tưởng của một thời đại còn lưu mãi với thời gian và phải chịu quyền phán xử của các thế hệ sau:

                 “Đôi lính Chiêm Thành canh cửa Việt

                   Quê hương, quê hương xa không về

                   Tù binh gửi máu vào tay chạm

                    Đứng cửa còn trông thấy đất nung

                    Khép gió chân trời ngồi lặng tênh”

        Từ nét chạm trổ tài hoa của người lính Chiêm Thành trong chùa Lý Bát Đế, nhà thơ liên tưởng đến đất nước Chiêm Thành đã bị mờ trong lịch sử. Thời Lý chiến thắng quân Chiêm Thành, những tù binh Chiêm Thành được đưa về kinh đô Thăng Long, trong đó có những người thợ mỹ nghệ, đã góp phần sáng tạo một kiểu điêu khắc, kiến trúc trong các đền, chùa thời Lý một dáng dấp nghệ thuật Chiêm Thành. Và nỗi nhớ quê hương, nỗi buồn đau vì xa nước của người lính Chiêm Thành đã gửi vào từng nét chạm “Tù binh gửi máu vào nét chạm”.

          Hoàng Cầm thương yêu mọi kiếp người, dù họ ở chân trời, góc bể nào, dù khác tiếng nói, màu da, chính kiến. Ông là thi sĩ của thế nhân. Ông sinh ra để cất lời ca yêu thương thế giới người trần. 

          Trong thơ Hoàng Cầm, ngôi đền Lý Bát Đế ở Đình Bảng đậm không khí hội hè, nhưng vẫn gợi lên không gian khác. Không giam trầm luân, bọt bể của những thân phận ông hoàng bà chúa:

              Hỡi ơi! Chiêu Thánh sao không nói

              Người ta lo dựng nghiệp lâu dài

              Ai lo việc cưới chồng công chúa mồ côi!

               Ví như không có Trần Thủ Độ

               Mắt dại vua bà biết chọn ai?

               Quân cờ chí chát  đêm Kinh Bắc

                Mấy ngón tay tính nước vào ra

                Vân vê vẹt lõm cạnh ngà

                Tròn lăn cung cấm trẻ con chơi”

        Đấy là cảnh đời đen bạc của công chúa Lý Chiêu Hoàng- Vua Bà Lý Chiêu Hoàng. Trần Thủ Độ đưa cháu mình là Trần Cảnh lên tám tuổi vào cung phục vụ vua Bà Lý Chiêu Hoàng cũng vừa lên tám. Trần Thủ Độ đã mưu mô gả Trần Cảnh cho Lý Chiêu Hoàng để đoạt ngôi vua từ tay nhà Lý về nhà Trần.

       Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng. Nhà thơ đau đáu thương vua Bà nhỏ dại, bị biến thành “quân cờ” trong tay quyền lực.

         Lễ hội dân gian bắt nguồn từ tín ngưỡng dân gian hay tôn giáo sơ khai. Càng lui về quá khứ xa, các loại tôn giáo sơ khai này càng có vai trò quan trọng như một nền tảng tư tưởng của lễ hội. Lịch sử tư tưởng của loài người cho biết chỉ khi tiến đến xã hội thị tộc, tôn giáo mới xuất hiện. Cùng với mức phát triển tư duy, lại phải ứng phó với môi trường, con người đã có những niềm tin ngây thơ, hư ảo và đã sáng tạo ra nhiều tôn giáo: tín ngưỡng vật, ma thuật, phù thuỷ, sùng bái giới tự nhiên, tín ngưỡng thờ tổ tiên…

      Trong việc sùng bái tự nhiên thì biểu hiện rõ nhất là tục thờ đá, thờ mặt trời, thờ nước. Bởi vì ánh sáng, (ánh mặt trời) và nước là hai yếu tố không thể thiếu trong nghề trồng lúa. Đặc biệt, tín ngưỡng phồn thực cũng xuất hiện cùng với nội dung cầu mùa nông nghiệp: con người, gia súc, cây trồng phải luôn sinh sôi nảy nở, sinh hoa, kết trái, cân bằng Âm- Dương.

          Nghiên cứu Folklo và cổ tích Việt Nam, chúng ta bất ngờ trước yêu tố phồn thực của người Việt. Không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới, kể cả Ấn Độ.

       Việc tôn thờ thần nhân đã xuất hiện. Ý thức về nòi giống, và cộng đồng dẫn tới việc trước nhất là sùng bái tổ tiên. Sự sùng kính, tôn thờ những anh hùng văn hoá, anh   hùng chiến trận, cũng là một hoạt động tín ngưỡng trong lễ hội dân gian.

        Song nhà thơ Hoàng Cầm nhìn vào lễ hội không phải với cái nhìn tôn giáo, tín ngưỡng, mà là cái nhìn xuyên thời gian, không gian, nâng không gian lễ hội cổ xưa vốn có ấy lên một tầm tư tưởng mới, một quan niệm triết học nhân sinh.

       Ông nhìn vào các trò vui hội hè hay đúng hơn là nhìn vào gương mặt những người đi hội.

       Mỗi người đi hội đều như nhận được những điều an ủi. Họ xúc động và giải thoát thực sự. Họ như quên đi cái thân phận mong manh, đau khổ, lo âu ngày thường.

       Niềm hạnh phúc thoáng qua ấy, gắn kết con người hoà vào cộng đồng. Nam giới dự thi vật, tung cầu, kéo co, thi chạy, đua thuyền, đốt pháo, chơi cờ… Các cô, các chị thì thi dệt vải, nấu cơm, làm bánh, làm cỗ… Vui nhất là những trò  nam nữ cùng chơi: nhún đu “Đôi hàng chân ngọc duỗi song song” (Hồ Xuân Hương), khoác vai nhau cùng bắt chạch trong chum, hát đối đáp, giao duyên, hát ví, trống quân, quan họ…

                 Hai mươi gái trai

                 Thả một con thuyền

                 Song song mười đôi

                 Mắt nhìn trong mắt

                 Nón nghiêng tăm tắp

                Ngày mai ai chắc được gần ai.

                                            (Quan họ mở đầu)

        Nhìn ánh mắt những đôi trai gái say đắm nhau trong đám hội, nhà thơ phát hiện ra niềm mơ yêu tận đáy sâu tâm hồn họ. Ứớc mơ tình yêu vẫy gọi nồng nàn, sâu kín và cảm xúc cũng đằm sâu trước khung cảnh hội hè.

          Hội Gióng được dựng lên trong thơ Hoàng Cầm với tiếng ngựa lồng, tiếng gươm thần phun lửa, tiếng hò hét tập trận của một trăm đôi nam thanh, nữ tú… Không gian đó là không gian chiến trận oai hung trong tinh thần thượng võ của dân tộc, nhưng trong mắt nhà thơ, đó là cuộc giao duyên đầy tính văn hoá, nghệ thuật, là khát vọng xoá đi những bi kịch tình yêu từ ngàn đời nay.

            “Chú bé lên ba là tướng võ nhà giời

               Ai ngờ đã bốn nghìn năm manh mối

               Xuân đến lụa the

               Cầm gậy tre đi xe duyên cô Tấm, ông Hoàng

               Vớt Trương Chi về gấm đỏ lầu Tây” 

        Hội Phù Khê độc đáo hơn. Bản thân nó đã là ngày hội của tự do yêu đương. Đêm hội, người ta tắt đèn để trai gái tìm nhau:

            “Nửa đêm tắt đèn

              Trong ba hồi trống dầm dề

               Nhẩn nha thôi ôi tiếng cuối vang âm

               Tay không rời tay người đang nói thầm

               Bốn mắt thắp đèn từ đêm trước

               Tìm nhau mà nín câm”

       Rồi những cuộc thi đánh đu như một sự trao gửi tình yêu giữa thanh thiên bạch nhật, giữa trời cao mây gió, nâng hồn bay cao trong không gian tự do:

                “Luồn tay ôm say

                 Giấc mơ lay đỉnh núi

                 Tuột hàng khuy lơi yếm tóc buông mành”

      Cuộc Thi hát đúm huyền ảo dưới ánh trăng mờ, trăng tỏ, trăng vàng, trăng mơ  là một sự giải phóng bản thể:

             “Trăng khuya các bờ sông

               Thương soi đôi mái đầu”

        Đêm hội Lim cũng là sự giải thoát bằng nhạc, bằng thơ cho những lứa đôi ngày thường phải sống trong vòng cương toả của lễ nghi, đạo đức Khổng giáo:

               “Tiếng hát quan họ

                Và trai gái quê tôi trẻ  đẹp vô cùng

                 Nhảy khỏi vòng nia

                 Nhảy sang vòng nong

                 Những vòng cong cong

                 Từ hòn đá ném ao vòng tròn rộng mãi”

                                              (Tìm đến chân trời của mẹ)

        Không gian hội hè của Hoàng Cầm là một không gian sáng lấp lánh ánh mặt trời, rộng bao la, nhiều tầng, nhiều âm vang sự sống, khát vọng tình yêu.

            Những âm vang của con người hoà ca cùng vũ trụ. Âm vang tiếng hát, tiếng cười, tiếng trống chiêng rộn rã. Âm vang màu sắc cờ ngũ sắc, võng lọng, quần áo đỏ, vàng, xanh, trắng.

            Những âm vang đó là sức sống bất diệt của văn hoá, hồn người, nghệ thuật, tôn giáo, thẩm mỹ của Kinh Bắc, của làng quê lúa nước Việt Nam.

         Cả Đất- Trời- Đồng quê bừng sáng giữa hội hè. Những ngôi đình, đền chùa, miếu… thầm lặng ngày thường bỗng sáng tưng bừng bởi muôn màu cờ, sắc áo. Không gian im ắng của đồng quê bỗng rộn ràng biết bao âm thanh hấp dẫn: trống, chiêng, kèn sáo… và đoàn người kéo dài với đủ kiểu trang phục, đủ màu sắc hoà theo tiếng nhạc đồng quê… cùng các nhân vật đặc biệt của trò diễn (hoá trang, mặt nạ, chú Tễu…) dấy lên một khung cảnh lộng lẫy, hoành tráng. Không gian sôi động Ánh sáng nghệ thuật, tâm linh lôi cuốn người dân lành hiền, lam lũ vào hết trò vui này đến trò vui khác, trong một cộng cảm tinh thần cao cả, đẹp tươi, kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật và tự nhiên, trang trọng và bình dị, thiêng liêng và trần thế.

        Đó cũng là bản hoà tấu ca ngợi sức sống của cộng đồng trong mối quan hệ ba chiều: cá nhân- cá nhân; cá nhân- cộng đồng; cộng đồng- cá nhân. Đó là cái “tôi vô danh” hoà nhập vào “cái ta chung”. Người đi chơi hội là một sự “hoá thân” và “nhập thân” với người khác, với thần linh, với vũ trụ và vạn vật.

             Không gian hội hè trong thơ Hoàng Cầm còn là một không gian siêu thực. Nhà thơ không mô tả không gian tự nhiên của lễ hôị: gò, đống, bến sông, bãi cỏ, bìa rừng, ven đê… hay không gian nhân tạo: chùa, đền, miếu, đình làng, mà gợi đến một không gian tinh thần thiêng liêng qua truyền thuyết: (Trương Chi, cô Tấm) qua lịch sử (Lý Chiêu Hoàng, bè lông ngỗng) và cả sự bừng tỉnh tâm linh:

                  “Chợt bừng nghìn cây nến đỏ

                    Sững sờ nghìn tội một bàn tay

                    Tê dại khắp người”

                                                         (Hội Phù Khê)

        Không gian tâm linh thảng thốt cảm giác thực đó, để lại ấn tượng thẩm mỹ cao quí đối với lễ hội dân gian. Nó là mạch nguồn làm cho lễ hội sống mãi với dân tộc đời này qua đời khác.

         Không gian lễ hội trong thơ Hoàng Cầm tràn Ánh sáng sắc màu dân tộc, có sức gợi cảm mãnh liệt đến thế giới văn hoá, tinh thần của dân tộc. Có thể nói, trước Hoàng Cầm, chưa có một nhà thơ nào gợi đến lễ hội dân gian đa chiều, độc đáo và sâu sắc như ông. Bởi thế người ta gọi Hoàng Cầm là nhà thơ dân tộc.



... CÒN NỮA

 
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản của tác gỉa gởi từ Hà Nội ngày 25.05.2010.

Trích đăng lại vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com