MIÊN THẨM TÙNG THIỆN VƯƠNG


LÊ NGỌC TRÁC

Bài 4

TÙNG THIỆN VƯƠNG VỚI NHỮNG GIAI THOẠI


SỰ KIỆN ĐOÀN TRƯNG THAM GIA ĐẢO CHÍNH LẬT ĐỔ TỰ ĐỨC

Tháng 9 năm 1847, Vua Thiệu Trị qua đời. Nguyễn Phúc Hồng Nhậm, hoàng tử thứ hai được truyền ngôi, đặt niên hiệu là Tự Đức. Nguyễn Phúc Hồng Bảo là con trai trưởng nhưng không được truyền ngôi. Năm 1854, Hồng Bảo liên kết với một số cận thần và thông đồng với người nước ngoài âm mưu lật đổ Tự Đức để tranh ngôi Vua. Sự việc bại lộ, bị bắt giam vào ngục. Trong tù, Hồng Bảo uống thuốc độc tự tử. Con ông là Nguyễn Phúc Ưng Đạo được tha, phải đổi qua họ mẹ là Đinh Đạo.

Năm 1866, một phần đất nước đã bị quân Pháp chiếm đóng. Đời sống nhân dân vô cùng cơ cực, lúc này, Tự Đức lại xây dựng Vạn niên cơ (Khiêm lăng). Nhân dân và quân sĩ phải làm lụng khổ sở để xây dựng Vạn Niên cơ cho Tự Đức. Nhiều người oán giận!

Đoàn Trưng (còn có tên gọi là Đoàn Hữu Trưng) sinh vào năm 1844, người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên.

Đoàn Trưng nổi tiếng tài hoa, ông được Tùng Thiện Vương gả con gái là Thể Cúc (năm 1864). Đoàn Trưng sinh trưởng trong một gia đình nông dân, nên tuy làm rể Tùng Thiện Vương, ông vẫn giữ được mối liên hệ mật thiết với nhân dân lao động. Ông không phục Vua Tự Đức, đứng về phía những người chủ chiến, tích cực chống Pháp. Ông cùng hai người em của mình là Đoàn Hữu Ái và Đoàn Tử Trực, kết hợp cùng những người đồng chí hướng: Trương Trọng Hoà, Tôn Thất Giác, Tôn Thất Cúc, Phạm Lượng, Bùi Văn Liệu, Nguyễn Văn Quý bàn việc tổ chức đảo chánh, lật đổ Tự Đức, nhằm đưa Ưng Đạo (con của Hồng Bảo) lên làm Vua. Ngày 8 tháng 9 âm lịch (năm 1866), Đoàn Trưng và những người cùng chí hướng nổi dậy tấn công kinh thành nhằm lật đổ Tự Đức. Đoàn quân những người tham gia cuộc chính biến phần đông là binh lính, người dân bị bắt lao dịch để xây dựng Vạn niên cơ. Họ dùng chày vôi, dụng cụ lao động làm vũ khí chiến đấu nên sử triều Nguyễn gọi là "giặc chày vôi".

Nhưng cuộc đảo chánh thất bại. Cả nhà Ưng Đạo đều bị hại. Đoàn Trưng và hai người em của mình đều bị giết hại.

Trước sự kiện này, Tùng Thiện Vương cũng bị liên hệ. Mặc dầu ông không tham gia nhưng do chính con rể đầu chủ xướng đảo chính nên bị các quan đại thần triều đình Tự Đức gây khó dễ trong cuộc sống. Nhà riêng của ông bị lính triều đình bao vây, canh gác không cho ai thâm nhập, liên hệ một thời gian. Trong nỗi buồn gia đình và đất nước, Tùng Thiện Vương đã viết :

Cận lai hiếu sự vô qua ngã

Tự cổ đa tình chuyển lụy thân

(Vẫn biết kinh dinh là hiếu sự

Phải đeo hoạn nạn bởi đa tình)

Kể từ đó, Tùng Thiện Vương chuyên tâm vào văn học, nhưng vẫn bị triều đình "dòm ngó", vẫn bị một số quan đại thần gièm pha, một lần nữa vết thương lòng của Tùng Thiện Vương thêm nhức nhối:

Nỗi phẩn uất biết cùng ai tỏ

Lòng lo buồn khiến lại ngã đau

Lời xằng buộc tội thêm sâu

Nghiêm minh hợp vạch những câu ngược đời

(Trích bài Vận, bản dịch của Lương An). 

Chú thích:

Sau khi chết, Đoàn Trưng còn để lại một số tác phẩm. Trong đó có bài Trung Nghĩa ca, ông viết trong thời gian bị giam trong ngục chờ xử chém. Trung Nghĩa ca được Đoàn Trưng viết theo thể lục bát, dài 498 câu. Nội dung kể lại cuộc đảo chính (khởi nghĩa), phản ánh sâu sắc cuộc đấu tranh của người lao động và nghiêm khắc lên án triều đình Tự Đức bảo thủ, nhu nhược đầu hàng quân Pháp.

DẠY TỰ ĐỨC LÀM THƠ

Tự Đức là một ông Vua bị sử sách và người đời chê trách nhiều về chính trị, về bản lĩnh lảnh đạo đất nước. Nhưng là một ông Vua ham chuộng văn chương, hay chữ và rất mê sáng tác thơ ca.

Có lần, chính Vua Tự Đức tuyên triệu Tùng Thiện Vương vào cung để đàm đạo thi ca và nhờ ông dạy cách làm thơ. Tự Đức nhỏ nhẹ hỏi Thi Ông :

- Thi với ca khác nhau thế nào?

- Tâu: Thi tức là ca. Thi ca đều là những điệu nhạc cả.

- Ông đã tinh về âm điệu, tinh về thi ca. Ta mời Ông vào đây, nhờ Ông truyền nghề.

Thật lòng, trong thâm tâm Tùng Thiện Vương không muốn Tự Đức say mê thơ ca, bỏ bê việc triều chính trong lúc đất nước đầy rẩy những khó khăn. Ông nhẹ nhàng nói :

- Tâu : Nghề thơ, chỉ những người thanh nhàn, không có tâm cơ mới học được. Chúng tôi còn nhiều tục lụy, có muốn học, học mãi đến nay vẫn chưa thành nghề.

Tự Đức ngạc nhiên : Nghề thơ khó lắm sao?

- Không khó, nhưng mà ít người có đủ tư cách để học cho đến thành nghề, nổi danh.

- Như ta đây có đủ tư cách học chăng? Tự Đức hỏi với giọng không vui.

- Tâu không, vì nghề trị nước, ngày có vạn việc, trách nhiệm nặng nề, tâm không được nhàn, nên từ xưa,, các vị chí tôn dầu có làm thơ cũng chỉ là tiêu khiển nhất thời. Còn nghề thơ thì đã không học, mà cũng không nên học.

Tùng Thiện Vương khuyên Vua đừng làm thơ và không muốn dạy làm thơ. Nhưng Tự Đức vẫn cố ép Tùng Thiện Vương dạy mình làm thơ.

Thế là, Tùng Thiện Vương phải chìu theo ý Vua. Tự Đức thường sai người hầu cận tín cẩn, bí mật mang những bài thơ của mình sáng tác, nhờ Tùng Thiện Vương thẩm định.

Chẳng ai biết công việc Tùng Thiện Vương dạy Tự Đức làm thơ như thế nào. Nhưng sau khi qua đời vào năm 1883, Tự Đức đã để lại cho đời các tác phẩm như sau: Ngự Chế thi tập, Cơ Dự tự tình thi tập, Việt Sử tổng vịnh, Luận Ngữ diễn ca, Thập Điều diễn ca, Tự Học giải nghĩa ca…

BÀI THƠ TUYỆT MỆNH

…Ngày 17 tháng 3 năm Canh Ngọ (1870), Tùng Thiện Vương bỗng nhiên phát bệnh. Thời điểm này, quân Pháp đã đánh chiếm tỉnh Lạng Sơn. Tùng Thiện Vương nghe tin dữ, lòng nặng trĩu, buồn lo cho đất nước. Từ ngày 28 tháng 3 đến 30 tháng 3, bịnh tình của ông càng phát nặng, không còn nói được. Lúc này, ở bên cạnh ông có Nguyễn Phúc Hồng Phì (con trai của ông) và Nguyễn Trọng Hợp (học trò của ông). Sức khoẻ quá yếu, không còn nói được, Tùng Thiện Vương dùng ngón tay trỏ, viết lên trên không trung. Hồng Phì và Nguyễn Trọng Hợp nhìn theo ngón tay trỏ của ông để mà ghi chép, ghi được chữ nào, thì đọc lớn lên cho ông nghe, chữ nào sai, Tùng Thiện Vương viết lại. Bài thơ Tuyệt Bút từ của Tùng Thiện Vương làm trước khi mất gồm hai mươi tám chữ. Sau khi nghe xong toàn bộ bài thơ của mình, Tùng Thiện Vương tự duỗi thẳng hai tay, hai chân và thanh thản nhắm mắt:

Bán sinh học đạo thái hồ hồ

Thoát tỷ như kim nãi thức đồ

Tiến Sảng đình ba, Thiên Mụ nguyệt

Thủy hương lâm ảnh hữu nhân vô?

Dịch thơ:

Càng học đạo lại càng mê

Nhận chân khi cái chết kề, mới hay!

Trăng chùa, hương nước, bóng cây

Còn in bóng của ta ngày theo chơi?

(Bản dịch của Nguyễn Sĩ Đại)

Lờ mờ học đạo nửa đời người

Trúc dép, đường đi mới rõ mười

Thiên Mụ, Thánh Duyên trăng với sóng

Bóng rừng, hương nước, có còn ai?

(Bản dịch của Lương An)

Nửa đời học đạo vẫn mông lung

Trút dép như nay, mới thoả lòng

Thiên Mụ, Thúy Vân trăng với sóng

Bóng rừng hương nước nhớ ta không?

(Bản dịch của Ngô Văn Phú)

__________________________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO và TRÍCH DẪN :

- Từ điển nhân vật lịch sử của Nguyễn Q Thắng-Nguyễn Bá Thế (NXB Văn hóa 1999)
- Việt Nam sử lược của Trần trọng Kim (NXB VHTT1999)
- Tùng thiện Vương của Ưng Trình và Bửu Dưỡng (Lưu hành trong gia tộc,1970)
- Nguyễn phước tộc thế phả
- Thơ TÙNG THIỆN VƯƠNG (NXB Văn học1991)
- Thơ chữ Hán của CAO BÁ QUÁT (NXB Văn học1976)

© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 19.05.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Phan Thiết.