NHỮNG  CÂU  ĐỐI  HAY,  VUI,  LẠ

 Ở Việt  Nam ta, cũng như ở Trung Hoa, các nhà nho, ngoài cái thú cầm kỳ thi họa, còn có thú chơi câu đối. Nghĩ  được một đôi câu đối hay thì thật là thích thú, nghĩ ra một vế đối hắc búa không ai đối được hoặc đối được một vế xuất hiểm hóc thì không còn gì khoái trá cho bằng. Từ xưa đến nay, trong văn chương đã lưu lại biết bao câu đối hay, vui, lạ, dù đó là chuyện thật hay giai thoại chăng nữa, thì ta cũng cần gìn giữ nâng niu như là những tác phẩm quí báu để lưu lại cho con cháu sau này.

   * LÊ VĂN HƯU (1230-1322), nhà sử học Việt Nam đời Trần, quê Phủ Lý, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thuở bé , một hôm ông đi học ngang qua lò rèn thấy thợ đang rèn dùi sắt, muốn xin một chiếc để đóng sách vở. Bác thợ là người có học, bảo hễ đối được một câu thì cho. Rồi bác đọc:

          Than trong lò, lửa trong lò, sắt trong lò, thổi phì phò rèn nên dùi sắt (hay sắc?)

    Cậu bé Lê Văn Hưu đối ngay, không cần suy nghĩ:

            Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi thi đỗ khôi nguyên.

   Bác thợ thấy cậu bé thông minh, mẫn tiệp thì  khen ngợi mãi và tặng cậu một chiếc dùi xinh kèm theo ít tiền để mua giấy bút.

    Khoa Đinh Mùi (1247) dưới đời Trần Thái Tông, Lê Văn Hưu thi đỗ Bảng nhãn, được phong chức Viện sĩ Viện Hàn lâm. Ông là tác giả bộ Đại Việt sử ký (1).

   *  MẠC ĐĨNH CHI  (1272-1346) quê làng Lan Khê, huyện Bình Hà, lộ Lạng Giang, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đỗ Trạng nguyên khoa Giáp Thìn (1304) dưới đời Trần Anh Tông, làm quan đến chức Thượng thư Tả bộc xạ kiêm Trung thư coi việc quân dân.

  Một hôm, trên đường đi sứ nhà Nguyên, chiều tối khi đến quan ải thì cửa đã đóng rồi. Quan giữ cửa ải biết là sứ bộ Đại Việt, bèn ra vế đối để thử tài:

   Quá  quan trì, quan quan bế, nguyện quá  khách quá quan

        (Tới ải trễ, cửa quan đóng, xin quí khách cứ qua).

     Vế  đối rất khó vì có đến bốn chữ  quan, ba chữ quá, không dễ gì đối được nên đành phải đối mẹo:

    Xuất  đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên  đối

    (Ra đối dễ, đối đối khó, mời tiên sinh đối trước)

    Quan giữ ải thông cảm, cửa ải rộng mở và sứ bộ được tiếp đãi rất trọng hậu.

   * GIANG VĂN MINH (1582-1639) quê làng Mông Phụ (Kẻ Mía), huyện Phúc Lộc, tỉnh Sơn Tây, đỗ Thám hoa khoa Mậu Thìn (1628) dưới triều vua Lê Thần Tông. Năm 1637 ông được cử làm chánh sứ cùng với bốn phó sứ sang triều cống nhà Minh. Vua Minh Sùng Trinh chần chờ không chịu sắc phong, bắt sứ bộ phải chờ đợi hơn một năm. Một hôm, muốn thử tài sứ giả, nhà vua ra một vế đối:

               Đồng trụ chí kim đài dĩ lục

        (Cột đồng đến nay đã  đóng rêu xanh)

 Câu này hàm ý nhắc lại chuyện Mã Viện đánh bại hai bà Trưng rồi sai chôn cột đồng để ghi công. Trên cột đồng có sáu chữ “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” nghĩa là “Nếu cột đồng gãy thì dân Giao Chỉ bị tiêu diệt”. Trước sự ngạo mạn của vua Minh, sứ thần Giang văn Minh hiên ngang đối lại:

     Đằng giang tự cổ huyết do hồng

      (Sông Đằng từ xưa máu vẫn còn đỏ)

   Vế  đối rất chỉnh, nhắc lại trong quá khứ quân  Đại Việt ta đã ba lần đánh tan quân xâm lược Trung Hoa trên sông Bạch Đằng. Vua Minh nổi giận, sai mổ bụng ông xem to gan lớn mật dường nào mà dám ngang nhiên chống lại thiên triều như thế. Thi hài ông đưa về nước được làm lễ quốc tang rất trọng thể. Chuyện xảy ra năm 1639.

   * ĐOÀN THỊ ĐIỂM (1705-1748) hiệu Hồng Hà, quê làng Giai Phạm, sau đổi là Hiến Phạm, huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Biết có đoàn sứ giả nhà Thanh sang nước ta, cô Điểm giả làm cô hàng nước ở bến đò để lòe sứ giả rằng ở nước Nam, đến cô hàng nước cũng hay chữ. Sứ giả đến nơi, thấy cô hàng nước xinh đẹp bằng trêu cợt bằng một vế đối:

             AnNam nhất thốn thổ, bất tri kỷ nhân canh (2)

             (Một tấc đất nước Nam không biết mấy người cày)

    Vế  đối có ý xỏ xiên, sứ giả tin rằng cô hàng nước thế nào cũng bí. Không ngờ cô bình tĩnh đối lại, mà vế đối của cô phúng thích rất cay, khiến viên sứ giả phải hổ thẹn mà lặng lẽ rút lui:

          Bắc quốc chư  đại phu giai do thử đồ xuất (3)

      (Các đại phu phương Bắc  đều do đường ấy mà ra cả).

     Vế  đối hay ở chỗ nếu giảng thanh thì ra thanh, giảng tục thì ra tục.

    *  LÊ QUÝ ĐÔN (1726-1784) hiệu Quế Đường, người làng Diên Hà, trấn Sơn Nam, nay là tỉnh Thái Bình, đỗ Bảng nhãn năm 1752 dưới đời vua Lê Cảnh Hưng. Lúc mất được truy tặng Thượng thư bộ Công.

    Vì  cậy mình học giỏi, đỗ cao nên tự kiêu, ông sai treo trước nhà tấm biển ghi mấy chữ “Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn” nghĩa là “Ai có chữ gì không biết, hãy cứ đến mà hỏi”.

    Khi thân sinh ông là cụ Tiến sĩ Lê Phú Thứ mất, linh cữu còn đang quàn trong nhà bỗng có một cụ già đầu tóc bạc phơ chống gậy bước vào, tự xưng là bạn cố tri của cụ Lê đến viếng. Lê Quý Đôn lễ phép mời vào và hỏi tính danh. Ông cụ nói:

      - Cháu còn nhỏ không biết đâu, bác đây là  bạn học của thân sinh cháu nhưng thi mãi không đỗ, nhà  lại nghèo nên ít đi lại. Hôm nay nghe tin thân sinh cháu mất, nghĩ tình xưa nên đến viếng, có câu đối phúng cụ nhà. Hãy đem nghiên bút ra đây, bác đọc cho mà viết.

     Nghiên bút giấy đem ra, cụ đọc:

    - Chi.

   Lê  Quý Đôn không biết chữ chi nào vì trong Hán tự có nhiều chữ chi: chi là chưng, chi là chân tay, chi là nhánh sông, chi là cành cây, chi là chén rượu…. nên còn ngần ngừ không viết, chờ các chữ tiếp theo. Ông cụ lại đọc:

     - Chi.

     Bấy giờ Lê Quý Đôn mới rụt rè hỏi:

      - Bẩm cụ chữ “chi” nào ạ?

     Cụ  già thở dài rồi nói:

  - Trời ơi! Cháu đỗ đến Bảng nhãn mà chữ “chi” cũng không biết. Thế có ai hỏi đến chữ này thì cháu trả lời sao?

   Lê  Quý Đôn xám mặt, các quan sửng sốt nhìn ông cụ, bấy giờ cụ mới đọc một hơi câu đối:

        Chi chi tam thập niên dư, Xích huyện Hồng châu kim thượng tại

          Tại tại sổ  thiên lý ngoại, Đào hoa Lưu thủy tử  hà chi?

             (Thấm thoát hơn ba mươi năm, Xích huyện Hồng châu nay còn đó,

         Hỡi ơi xa ngoài ngàn dặm, Đào hoa Lưu thủy bác về đâu?).

    Câu  đối rất hay và rất lạ, Lê Quý Đôn và  các quan đều giật mình. Bấy giờ cụ già  mới phủ phục trước linh sàng cụ Tiến sĩ  họ Lê khóc lóc:

     - Ới anh ơi là anh ơi! Anh bỏ đi đâu để con anh đỗ đến Bảng nhãn mà chữ “chi”  là “chưng” nó cũng không biết. Ới anh ơi là anh ơi!

  Khóc xong, cụ già lặng lẽ chống gậy ra về, ai năn nỉ mời mọc thế nào cụ cũng không ở lại. Ngay hôm ấy, Lê Quý Đôn sai gỡ tấm biển xuống. Hẳn ai cũng biết cụ già muốn dạy cho Lê Quý Đôn một bài học về đức khiêm tốn chứ chẳng quen biết gì với cụ Lê Phú Thứ cả (4).

     * VÂN ĐÀI và ĐOÀN PHÚ TỨ

   Nữ  sĩ Vân Đài (1903-1964) là nhà thơ nhưng cũng có viết văn. Bà có một tác phẩm nhan đề Thanh lịch. Đoàn Phú Tứ (1910-1989) là nhà văn có viết nhiều kịch bản, trong số đó có vở kịch Ngã ba xuất bản năm 1943. Hai người sống cùng thời, Đoàn Phú Tứ nhỏ hơn Vân Đài 7 tuổi.

   Để trêu Vân Đài, Đoàn Phú Tứ có vế đối:

          Thanh lịch Vân  Đài thanh lịch…kịch

     Tưởng đâu Vân Đài chịu thua, không ngờ bà chẳng phải tay vừa nên đối lại:

         Ngã  ba Phú Tứ ngã ba…hoa.

   Ba hoa đối lại lịch kịch !

     * Trong dân gian đến nay còn lưu truyền một vế đối dân dã rất hay:

             Vợ  cả, vợ hai, hai vợ  đều là vợ cả

    Chữ  vợ cả ở đầu câu chỉ người vợ lớn trong nhà.; chữ vợ cả ở cuối câu có nghĩa: tất cả đều là vợ. Có người đối lại:

             Con nuôi, con đẻ, đẻ con há cậy con nuôi

     Đối thì chỉnh, nhưng không xứng với vế xuất.

   * Viết đến đây, tôi chợt nhớ tới một vế đối rất hay mà xưa nay chưa ai đối được:

      Cha con thầy thuốc về  quê, gánh một gánh hồi hương phụ  tử

    Cái hay mà cũng là cái khó trong câu này là:  hồi hươngphụ tử là tên hai vị thuốc bắc, nhưng hồi hương còn có nghĩa về quê và phụ tử còn có nghĩa cha con. Khó đối là ở chỗ đó. Xin mời quí vị thử đối xem sao.

      Những câu đối hay trong nước còn nhiều như những câu:

           Vũ  vô kiềm tỏa năng lưu khách

          Sắc bất ba đào dị nịch nhân

                                               của Đàm Thận Huy và Nguyễn Giản Thanh

                                    Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm

          Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân

                                    của Đoàn Doãn Luân và  Đoàn Thị Điểm

                          Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai ai dễ biết ai

             Thế chiến quốc, thế  xuân thu, gặp thời thế thế thời phải thế

          của Đặng Trần Thường và Ngô Thì Nhậm v.v…nhưng khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo không cho phép viết dài. Xin hẹn một dịp khác.


________________________________________________________

(1) Xin đừng lầm với bộ “Đại Việt sử ký toàn thư” của một tập thể nhiều tác giả, trong đó Ngô Sĩ Liên có công lớn nhất. 
(2) Bản chép khác: Nam bang nhất thốn thổ. Chữ Nam bang đối với Bắc quốc thì chỉnh hơn là An Nam đối với Bắc quốc. 
(3) Bản chép khác: Bắc quốc đại trượng phu giai do thử đồ xuất. 
(4) Theo nhà văn Thái Bạch.
Bài này đã đăng trên tạp chí
KIẾN THỨC NGÀY NAY số 711 ngày 10-5-2010
© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 16.05.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .