Kỷ niệm lần thứ 28
ngày nhà văn HOÀI THANH từ trần (14.3.1982 – 14.3.2010)

HOÀI THANH
Người Bạn Tri Âm Của Thơ Mới

Hoài Thanh (1) là một trong số không nhiều những nhà phê bình văn học xuất hiện rất sớm ở nước ta, để lại dấu ấn khó phai mờ trong buổi đầu xây dựng nền văn học Việt Nam.

Một tác phẩm để đời của ông là cuốn “Thi nhân Việt Nam” (2) tập hợp 46 nhà thơ mà nhiều người cho là một quyển phê bình. Nhưng tác giả của nó rất sợ hai chữ này. Ông viết : ”Quyển sách này ra đời, cái điều tôi ngại nhất là sẽ mang tên nhà phê bình. Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá ! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì cũng còn được. Nhưng phê? Sao lại phê?” Ông chỉ nhận nó là một quyển hợp tuyển thôi.

Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng cuốn Thi nhân Việt Nam không mang cái tên phê bình cũng phải, vì nếu là phê bình thì sao chỉ phê bình có một mặt, rặt những cái đẹp, cái hay. Về chuyện này, Hoài Thanh phân trần :

“Nếu trong quyển này, ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin rằng không phải vì tôi không thấy cái dở. Nhưng tôi nghĩ rằng đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài hay.

… Thỉnh thoảng có nói đến cái dở là cũng cốt cho nổi cái hay mà thôi”.

Vũ Ngọc Phan cho rằng cuốn Thi nhân Việt Nam cũng chưa phải là một quyển hợp tuyển. “Điều cốt yếu của một quyển hợp tuyển là sự chú thích và dẫn giải. Ngoài bài thơ của Đoàn Phú Tứ (bài “Màu thời gian” – HV) có lẽ tác giả đã tự giảng lấy – nếu không, khó có người hiểu được – không có bài nào chú thích và giảng giải cả. Giải thích chính là điều rất cần cho độc giả bậc trung và học sinh là hạng người đọc những sách hợp tuyển nhiều hơn cả (3).

Mở đầu cuốn Thi nhân Việt Nam, sau khi cung chiêu anh hồn Tản Đà, Hoài Thanh viết lời mở đầu cho cuốn sách bằng bài “Một thời đại trong thi ca” dài đến 47 trang. Đó là bài đại luận về sự chuyển hướng của thi ca Việt Nam cận đại. Trong đoạn cuối bài này, ông viết thật hay :

“Đời chúng ta đã nằm trong vòng chữ “tôi”. Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

Cả trời thực, trời mộng vẫn nao nao theo hồn ta. Thực chưa bao giờ thơ Việt Nam buồn và nhất là xôn xao như thế. Cùng lòng tự tôn, ta mất luôn cả cái bình yên thời trước…”

Dù muốn dù không, cuốn Thi nhân Việt Nam vẫn là một cuốn hợp tuyển những bài thơ mới. Cuốn sách có giá trị một bảng tổng kết phong trào thơ mới sau mười năm phát triển (1932 – 1941), trong đó có những nhận xét tinh tế và sự phát hiện những thi tài mới.

Sau Thi nhân Việt Nam , người yêu thơ kỳ vọng ở ông nhiều. “Sự kỳ vọng của công chúng với ông là chính đáng và có cơ sở : một người đã viết nên Thi nhân Việt Nam chắc hẳn có đủ tâm và tài để gửi tới bạn đọc một “Hậu Thi nhân Việt Nam” của thời đại mới. Chẳng lẽ một phong trào với độ dài mười năm đã khiến ông say mê và đủ sức viết nên một “cuốn sách để đời”, thế mà ngày nay, với ba bốn chục năm sáng tạo thơ ca, chẳng lẽ tác giả Thi nhân Việt Nam lại không kết nổi một bó hoa mới tặng người yêu thơ?” (4).

Ta biết Hoài Thanh hiểu rất rõ cái đơn đặt hàng ấy của xã hội và trăn trở nhiều trước sự mong đợi của bạn đọc từng yêu mến ông. Nhưng tiếc thay, đến ngày ông từ trần, cuốn sách mong đợi ấy vẫn chưa ra đời. Tại sao? Theo ông thì vẫn “chưa có những điều kiện tối thiểu” để hoàn trả món nợ ấy. Thật đáng tiếc biết bao !

Bên cạnh cuốn Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh còn có một cuốn khác cũng khá nổi tiếng. Đó là cuốn “Văn chương và hành động” do Hoài Thanh chấp bút, Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư phụ viết, xuất bản năm 1936. nhưng chưa kịp phát hành thì bị nhà cầm quyền Pháp tịch thu. Sau này, năm 1998, Nhà xuất bản Giáo Dục cho in lại nguyên bản trong cuốn “Bình luận văn chương” của Hoài Thanh.

Trong “Lời nói đầu” của cuốn sách này, tác giả nêu lên quan điểm của mình :”Một người có thiên tài làm được một bài thơ hay, viết được một quyển truyện hay. Một bọn người xúm lại giành nhau nói đó là nghệ thuật vị nghệ thuật, đó là nghệ thuật vị nhân sinh, là cổ điển, là lãng mạn, là tả chân…. và nhiều nữa. Mỗi người vội xướng lên hay nhai lại một lý thuyết về văn chương và bảo người đời hãy noi theo đó. Nhưng một trăm pho sách nói về lý thuyết văn chương chẳng có thể giúp người ta sáng tạo được một tác phẩm văn chương giá trị….”

Trong bài “Nhà văn hoàn toàn” Hoài Thanh viết :”Thế giới ngày nay như một nhà tù lớn, hình sắc dầu có khác nhau mà những gông cùm, xiềng xích thì đều như nhau cả. Người nào không chịu để cho người ta khắc lên trán một cái dấu hiệu chung, ấy là người bỏ đi…”

Trong bài “Cần phải hành động” , ông viết :”Đêm đã khuya. Trong bầu không khí im lặng của thành phố, thỉnh thoảng một tiếng rao dài… Người ta tưởng chừng nghe thấy tiếng kêu thương của cả đám người lao khổ. Có ai nghe tiếng gọi vô tình và thiết tha ấy mà dửng dưng? Bao nhiêu sự vất vả, bao nhiêu điều đau khổ vô ích ! Bao nhiêu tài trí, bao nhiêu cuộc đời bỏ đi ! ….Một ngày tình thế ấy còn, người ta không thể đặt mình ra ngoài thời đại….”

Viết như thế, sách không bị tịch thu sao được ?

Trong cuốn này còn có những bài Ý nghĩa đời người, Ý nghĩa văn chương, Thành thực và tự do trong văn chương…. nói lên lòng nhiệt thành của tác giả đối với con người và văn chương.

Từ năm 1935 đến năm 1939 nổ ra cuộc bút chiến giữa Hoài Thanh và Hải Triều về vấn đề “Nghệ thuật vị nghệ thuật” và “Nghệ thuật vị nhân sinh”. Lẽ tất nhiên, hồi ấy (chưa có cuộc Cách mạng tháng tám) Hoài Thanh đứng về phái “Nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Thiếu Sơn đã mở màn cho cuộc bút chiến ấy. Một bên là Thiếu Sơn với Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Lê Tràng Kiều ; bên kia là Hải Triều với Hải Thanh, Hải Khách, Hải Âu, Hồ Xanh, Lâm Mộng Quang, Thạch Đông, Hỏa Sơn, khá hùng hậu.

Mở đầu, Thiếu Sơn viết bài “Hai cái quan niệm về văn học” chủ trương văn chương phải lấy nghệ thuật làm mục đích chính (Tiểu Thuyết Thứ Bảy số 38, ngày 16.2.1935). Để trả lời, Hải Triều viết bài “Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh?” là một bản tuyên ngôn, chẳng những để đả kích Thiếu Sơn mà còn đưa ra chủ thuyết duy vật vì nghệ thuật . Bài này đăng trên báo Đời Mới ra ngày 24.3.1935.

Cuộc tranh luận ngày càng gay gắt và đi vào chiều sâu của vấn đề. Sau khi Thiếu Sơn rút lui, Hoài Thanh vào thay thế và là “đầu tàu” của phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Mặc dù Hoài Thanh không nhận mình chủ trương thuyết “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, nhưng ý kiến của ông rất hấp dẫn , sắc sảo, có sức lôi cuốn mạnh, thực sự tiêu biểu cho quan niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” đang thịnh hành thời bấy giờ.

Quan điểm của ông là : Văn chương là chính nó, chứ không phải là một cái gì khác xa lạ với “chân tướng lộng lẫy “ của nó. Văn chương là sản phẩm kết tinh của sự rung động trong tâm hồn nghệ sĩ trước cái Đẹp vĩnh cửu, trước những buồn vui muôn thuở của Con Người viết hoa, tức con người thuộc về nhân loại mà thôi. Tác phẩm văn chương là bông hoa mọc trên cuộc sống đầy dẫy những nỗi nhọc nhằn, chật vật, nó giúp cho người ta một sự thoát tục, say sưa vươn tới cái Đạo, cái Thâm chân huyền diệu. Thiên chức của nhà văn là tôn thờ và phụng sự cái Đẹp, cái hay, cái tốt qua hình thức biểu hiện nghệ thuật của tác phẩm, điều phải chú trọng trên hết, trước hết. Nhà văn với tài năng độc đáo và bút pháp (cách tả, lời văn) mang tính nghệ thuật, viết về cái gì cũng được, lấy tài liệu ở ngoại giới hay tâm giới, đâu cũng được “miễn là làm thế nào tạo nên cái đẹp, trao mỹ cảm cho người xem” thì thôi (5).

Cuộc bút chiến kéo dài bốn năm, đến năm 1939 thì kết thúc mà không phân thắng bại cũng như bao cuộc bút chiến khác ở nước ta.

Từ khi tham gia cách mạng, Hoài Thanh đã tự điều chỉnh mình, thoát bỏ cái nhãn quan “nghệ thuật vị nghệ thuật” để xây đắp một nền văn chương nghệ thuật tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và nhân văn. Tuy nhiên, ông viết : ”Mọi thứ nghệ thụât, cái đích của nó phải là phục vụ nhân sinh, nhưng muốn phục vụ nhân sinh cho tốt cũng phải có cái say sưa vì nghệ thuật” (6). Như vậy, Hoài Thanh đã kết hợp được quan niệm “Nghệ thuật vị nghệ thuật” với “Nghệ thuật vị nhân sinh” một cách biện chứng như hai mặt của một tờ giấy.

Trong cuốn “Di bút và di cảo” của Hoài Thanh (7) có đoạn ghi lại lời cố Tổng bí thư Lê Duẩn từ năm 1947, qua hồi ức và lời kể của ông Huỳnh văn Gấm, đã gợi cho Hoài Thanh kịp nhận ra rằng ý kiến trước đây của ông vẫn còn để ngỏ cho một sự đánh giá khoa học. Ông Huỳnh văn Gấm kể : ”Anh Duẩn nói về nghệ thuật. Anh nhắc đến cuộc tranh luận giữa Hoài Thanh và Hải Triều. Theo anh, nghệ thuật có thể phản ánh gián tiếp, không nhất thiết bức tranh nào cũng trình bày bằng hình ảnh công nông. Một bông hồng rung rinh dưới ánh nắng mặt trời trong sương sớm, sao lại không được xem là nghệ thuật vị nhân sinh?” (Sđd trang 55).

Nhà văn Hoài Thanh từ trần đến nay đã được 28 năm. Khoảng thời gian ấy đủ để ta nhìn nhận lại toàn diện những thành tựu, những cống hiến cũng như sự lệch lạc của ông. Chúng ta có thể khẳng định rằng Hoài Thanh là nhà văn xuôi kiệt xuất, là cây bút nghiên cứu, phê bình văn học có uy tín, đã góp phần quan trọng vào sự trưởng thành của ngành phê bình văn học ở nước ta.


________________________________________________________

(1) Hoài Thanh tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh ngày 15.7.1909, quê gốc : Nghi Trung, Nghi Lộc, Nghệ An, mất ngày 14.3.1982 tại Hà Nội.
(2) NXB Nguyễn Đức Phiên (Huế) 1942.
(3) Nhà văn hiện đại quyển III (NXB Vĩnh Thịnh Hà Nội 1951) trang 213.
(4) Nguyễn Bao –“Keo vật và món nợ”.
(5) Trích lời bạt cuốn “Bình luận văn chương”
(6) Hoài Thanh – ngày Tết đọc thơ xuân (1964) in trong cuốn “Chuyện thơ” (NXB Tác phẩm mới Hà Nội 1978) trang 57.
(7) NXB Văn Học Hà Nội 1993 (do con trai cả của Hoài Thanh là Từ Sơn biên soạn).












© Tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật ngày 15.04.2010 theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn .
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com .