NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
    (1909-1974 Sàigon)


Sinh năm 1909 ở Trà Bồ, tỉnh Hưng Yên (Bắc Bộ). Thuở nhỏ học ở nước ngoài. Sau đậu kỹ sư điện học.
Tác phẩm đầu tay: Sống và Yêu , Bốn biển không nhà viết về đời sống quân đội Lê dương ở Pháp, Bắc Phi, Trung đông.. Tập thơ Mình với Ta tả đời sống chiến sĩ đốilập ở Xiêm La ( Thái Lan bây giờ) Sau về nước chủ trương Khoa học tạp chí ( 1931-32) với Nguyễn Công Tiễu.
Từ 1934 đến 45 chủ trương Tiếng Trẻ, Thời Thế, Quốc Gia và tạp chí Văn Mới .
Năm 1945: chiến sĩ văn hóa kháng chiến cùng các nhà văn nhóm Hàn Thuyên: Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thái Mai , Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tuân ….
Năm 1952 về Thành Hà Nội, sau vào Huế, Saigon . Viết cho tuấn báo Đời Mới (Trần Văn Ân chủ nhiệm). Từ đấy ông ký bút danh mới: Hà Việt Phương, Hoài Đồng Vọng , Vương Thương Thương, Hoài Nam Hoài, Cung Phúc Chung vv.
Cuốn tâm bút sau cùng mà ông cho xuất bản tại Sài Gòn : Ai có qua cầu ( Hoài Đồng Vọng) ( Nxb Quan điểm loại mới Saigon 1957).
Ông qua đời vào ngày 6 tháng 6 năm 1974 ở Saigon .



Thay mặt Ban Biên Tập , xin chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép Newvietart được đăng tải toàn bộ tập biên luận Nhận Diện Vóc Dáng Nguyễn Đức Quỳnh mà nhà văn đã hiệu đính lại, tập tài liệu đã từng một thời gây sôi nổi trong và ngoài văn giới miền Nam vào những năm 55-65 .

Từ Vũ NVA



KỲ THỨ 10

PHỤ LỤC

CẢM TƯỞNG TRƯỚC CÁI TANG LỚN CỦA VĂN HỌC.


4.- Tình Bằng Hữu.

Nhưng thầy đã nghiêm sắc mặt, sau tiếng" suỵt", thầy đặt tờ giấy xuống bàn, thong thả thầy giảng:
-Ừ thấy các anh biết thương yêu, quý mến nhau như thế, thầy mừng lắm. Nói là phục, chắc có người sẽ cho là quá đáng;nhưng thực tình thầy thấy anh Trân vả anh Kình coi nhau như ruột thịt như vậy;  thầy phục hai anh đấy.
Cả lớp suýt soa. Thằng Trấn thở dải. Thằng Kình cũng thở dài.
- Ừ, bạn học mà đối với nhau được như hai anh thì thật như các cụ thời xưa đấy. Ừ, thế nào là đồng song, thế nào là đồng môn.? Thực ra thì  các anh đã không tủi hổ đối với người thiên cổ; phải  như Bá Nha và Tử Kỳ và, đấy anh nào vừa nói đấy, Lưu Bình , Dương Lễ phải nói chi xa xôi; nói ngay như hai cụ Yên Đổ và Dương Lâm đấy... thì... ư..  ư... tôi bác cùng nhau... ư. Kính yêu từ trước đến sau... ư... ư.... " Rượu ngon không có bạn hiền, không mua, không phải không tiền, không mua", mà thơ muốn viết đắn đo chẳng viết, viết  đưa ai! ai biết mà đưa!".
Cả lớp hùa nhau ngâm thơ với thầy.
Thằng Trấn nuốt nước bọt ừng ực.
-Còn gì sung sướng bằng: " Tri kỷ đâu ta! ở cạnh mình, nỉ non bên gối suốt tàn canh...", thực vậy các anh ạ, còn gì sung sướng bằng có một người bạn.  Thầy thiết tưởng trên đời không có mối tình nào tinh khiết bằng tình bằng hữu. Thế cho nên riêng thầy đây, thầy rất tiếc sao thời nay ít người có bạn thế? sao thời nay thiên hạ họ lại sống cô đơn, trơ trọi quá; mà họ vẫn sống được nhỉ? Thực vậy, lắm lúc xa vắng bạn đồng tâm, đồng chí; thầy thấy cuộc đời vô vị lạ thường !. Thầy lại đâm  ra tiếc cái tuổi thơ ngây của thầy, sao thầy đã quá ư ích kỷ, quá ư mê man với sách vở mà quên cả bạn hữu. Thật đến bây giờ thầy vẫn còn ân hận sao không mến yêu hơn nữa, hơn nhiều nữa những cậu bé, chỏm dài đến thắt lưng, áo quần, chân tay, môi má đầy những vết mực, cũng phủ phục trên manh chiếu rách bươm, ê a" tập tương viễn... tính nãi thiêu " với thầy đồ.  Thầy tiếc quá! Thầy hối hận quá! Sao thầy không yêu bạn thầy hơn nữa...
Thằng Hào chìa tay bắt tay thằng Tuân. Thằng  Huỳnh nắm tay lại cọ vào nắm tay thằng Phả - chúng bắt tay nhau theo lối võ sĩ" Anh cát lợi"! Thằng Sinh  thụi thằng Kình " một cú thoi sơn" nên thân, để tỏ tình thân thiện. Thằng Tá hay háy mắt nháy thằng Hải rồi,  cả nó cả thằng Hải, hai đưa cùng giơ tay, xòe tay, rồi cùng nắm..." không khí" lắc lấy lắc để - đó là lối bắt tay gió!. Thằng Kình giả vờ đằng hắng cho con Mùi ngoảnh lại phía nó để  tay nó giựt mảnh " mù soa"  thơm ngát, giơ quanh qua đầu mấy thằng bạn rồi mới đặt lên mũi, lên miệng, mắt thì ngó lên trần nhà mơ màng. Con Mỹ quàng vai con Liên; con Hồng ôm ngang lưng con Mùi. Thằng Thành  thò tay qua cửa sổ xoa đầu thằng Hùng, rồi lấy giọng đặc " oăn-tờ-la-bà" mà nó đã tải được ở Hà Nội về tỉnh Hưng Yên, nó uốn lưỡi nói thật nhanh : " Bông ca-mia-rát-đơ!".
Cả lớp muốn yêu bạn mình hơn  nữa.
Duy có con Ngọc đang cắn môi đăm đăm nhìn vào cây bút máy ngòi bằng vàng, móc cũng bằng vàng.
Duy có thằng Trấn đang cắn môi đăm đăm nhìn vào chỗ trống không.
Duy chỉ thằng Kình cũng đang cắn môi đăm đăm nhìn vào chỗ trống không.
Cả thầy, cả bạn chúng đều tưởng vì thẹn mà ba đứa không muốn biểu lộ tình thân ra trước mọi người. Cả thầy, cả bạn đều lầm...
Tiếng thầy Chủ thêm âm thầm, lưu luyến:
-Thực vậy, các con ạ; có được một người bạn thì cuộc đời êm ấm lắm, đẹp đẽ lắm, có bạn thì cuộc đời thêm bao nhiêu là hương vị, bao nhiêu là ngọt bùi, bao nhiêu là an ủi, bao nhiêu là nâng đỡ, có bạn thì cuộc đời đáng sống lắm.  Thầy chỉ muốn, thầy chỉ mong các con toàn như anh Trấn cả, toàn như anh Kình cả, mà mỗi anh Trấn có một anh Kình, có đến suốt đời...
 Thầy Chủ mơ màng, nhắm mắt một giây để sống lại thời thơ ấu, đầy mộng, đầy nâng đỡ, đầy an ủi, đầy ngọt bùi, đầy hương vị; thầy đã hưởng cùng với mấy trẻ chỏm dài ngang lưng.
Lớp học nồng nàn một tình yêu tha thiết.
Thằng Trấn thấy lòng nó nao nao, mắt nó mờ đi vì một giọt lệ đang chạy quanh.
Thằng Kình thở hổn hển, môi rung rung, hai mí rưng rưng, mọng đầy nước mắt.
Tiếng thầy Chu thêm âm u:
-Có lấy một người bạn để mà vỗ về, để mà nương tựa, để mà thủ thỉ, mỗi khi mình thấy cả loài người ruồng bỏ mình, hắt hủi mình; mỗi khi mình thấy cuộc đời tẻ lạnh, vô vị,quạnh hiu, tù hãm, mỗi khi mình thấy quanh mình toàn là giả dối, toàn là phỉnh phờ, toàn là phụ bạc. Có lấy một người bạn rồi, nếu không đồng sinh đồng tử thì cũng" cuộc đời đây đấy cùng chung, bi hoan cùng trải, non sông cùng chéo..."; cố mà có lấy một người bạn, các con ạ. Vì, người không có bạn là người bỏ đi, là giống thú dữ, là không đáng sống... Thầy thành thực ước sao các con biết lấy anh Trấn, anh Kình làm gương...
 Cả lớp suýt soa.
Thằng Trấn khẽ đưa tay lên, làm ra bộ vuốt tóc bay trên trán, nhưng kỳ thực để nó gạt ngang một giọt nước mắt sắp rỉ ra .
Nhìn vẻ mặt chiếu tỏa cả một tình yêu tha thiết của thầy Chủ, thở bầu không khí ngào ngạt một tình thân của bạn hữu; hai đứa cùng muốn ôm lấy vai nhau, rồi mắt nhìn mắt, mà hai miệng một lời, chúng sẽ nói với nhau, chúng sẽ nhắc lại với nhau biết bao câu thân mật, bao lời sắt đá...; nhưng bức tường vô hình, xây bằng tức, bằng bực, bằng phản, bằng uất đã kiên cố quá rồi, những nhát đục, những nhát bùa bằng lời nói, bằng khóe mắt của thầy, của bạn thì phá thế nào  nổi; cho nên hai đứa trẻ khốn nạn kia, chỉ biết đứng mỗi đứa một bên tường àm hậm hực, mà nghẹn ngào, mà sùi sụt, mà nức nở thôi. hai đứa đã là người xa lạ với nhau.

5.- Thày và trò.

(Phần III, chương 3- trang 545-348)

Luôn một hơi, thầy Chủ lấy giọng thật sang trịnh trọng đọc bài của Kình, giữa một bầu không khí yên lặng, như trước mặt quân lính, ở bãi chiến trường; một vị đại tướng đọc tờ hịch để khuyến khích ba quân ra trận.
Vừa đọc thầy vừa mừng vì chúng vẫn giữ vẻ trang nghiêm. Thầy tưởng nghe xong bài văn thống thiết lâm ly này, bọn học trò đáng yêu, đáng quý của thầy tất phải chồm dậy mà hò reo, mà hoan hô, mà cổ võ, thầy lo rồi chúng sẽ đập bàn, đập ghế, chúng lại phá phách om sòm, rồi thầy lại đến phải thị uy một chuyến mới dập tắt được cuộc đại biến sắp bùng nổ ra...
Nhưng...
Ái ngại cho thầy!
Vì lũ trẻ nhỏ mới đầu còn ngơ ngác về đoạn" phá" sét đánh của bài văn, chúng đang đợi những lời hùng hồn, những tiếng to lớn, những đoạn rất kêu, rất mạnh, rất cao xa, siêu việt... Rồi đợi mãi, đợi mãi; chúng chỉ thấy những lởi lẽ rất tầm thường, những câu văn rất giản dị, những tư tưởng rất điềm đạm không có gì là thánh thót, không có gì là mơ màng, không có gì là huyền bí, không có gì là vĩ đại; nên chúng bỡ ngỡ, nên cái yên lặng mà thầy cho là dấu hiệu của sự chú ý tôn nghiêm, của sự cảm động tha thiết; cái yên lặng đó chỉ là dấu hiệu của sự ngạc nhiên giữa một đứa trẻ rất hào nháng, thích lòe loẹt lại gặp cái nhũn  nhặn, gặp cái kín đáo; cái yên lặng đó chỉ là dấu hiệu của sự không hiểu giữa một loại trẻ con, còn  là trẻ con, với một đứa trẻ con, tuổi thì còn là trẻ con mà tâm trí đã già dặn rồi, cái yên lặng đó chỉ là dấu hiệu giữa sự ly dị giữa thằng Kình cùng chúng bạn nó; cái yên lặng đó chưa là một chứng cớ tỏ ra rằng : thằng Kình đã sinh trưởng trong một  thế giới khác,thằng Kình đã suy nghĩ bằng một khối óc khác, thằng Kình đã cảm động bằng một trái tim khác, thằng Kình đã nói một thứ tiếng khác của chúng bạn nó...
 Thế cho nên, ái ngại thay cho thầy Chủ! Khi thầy đọc xong bài thằng Kình thì thấy phải ngơ ngác nhìn toàn thể đám học trò lớp Nhì A, vì toàn thể đám học trò đang ngơ ngác nhìn nhau...
Rồi... một tíc tắc... Rồi... hai tíc tắc... ba tíc tắc... bốn... năm tíc tắc... thầy ngơ ngác nhìn trò, trò ngơ ngác nhìn thầy... cho đến lúc thằng Huỳnh thập thò ngoài cửa rồi " thùng! thùng! thùng!":, hồi trống ra chơi nổi lên đánh thức thầy trò lớp Nhì A dây...
 Thầy Chủ hất cằm cho học trò ra. Chúng đổ sô chạy tuốt ra hè.
Trong lớp chỉ còn thằng Kình với thầy Chủ. Nặng nhọc thầy bước từ trên bục xuống, bước chân thầy ngại ngùng như bước chân một kẻ chiến bại. Nhưng đến trước bàn Kình, thầy bỗng mỉm cười; rồi hai bàn tay thầy vịn hai vai Kình nhìn vào tận mặt tên học trò thân yêu, thầy thủ thỉ:
-Đó là một bài học đáng quý cho cả thầy , cho cả anh, cho cả hạng người đã nguyện hy sinh  tên lính tiền phong cho hạng người thành thực. Đó là số phận của hạng người thành thực đó con ạ. Phải can đảm lắm mới dám thành thực... nhưng ,Kình ! Con chớ lo, đã có thầy hiểu con. Thế là đủ rồi. Thế cũng đủ rồi, Kình! Con nghe ra chưa ? Con hiều thầy, chứ Kình!
 

6.- Lòng Khinh Bỉ.

( Đoạn kết- trang 365-367)

Lần đầu tiên trong đời nó, thằng Kình vừa biết KHINH. Lòng khinh không bờ bến;mà lòng khinh đó vừa mới nảy ra khi anh em đồng đội cử nó ra" sút cú pénalty".  Chỉ trong có một giây, từ lúc nó ngạo nghễ, chống tay ngang vế, đứng trước quả bóng đến lúc nó đặt chân lên giữ quả bóng, nó bỗng thấy người nó khác hẳn đi, tâm trí nó khác hẳn đi.  Nó nhận thấy hành vi, cử chỉ, ngôn ngữ của phần lớn đám đông nó toàn là đáng khinh cả; hơn nữa, nó nhận thấy từ trước đến giờ,  nó đã xử sự một cách thậm là vô lý, vì từ trước đến giờ nó  chưa biết khinh.  Thằng bé ngang tàng, ngỗ nghịch đó đã định đoạt đời mình trong một nháy mắt, trong một cử chỉ, người ngoài cho là rất tầm thường; cử chỉ nhấc bàn chân, dặm lên quả bóng, cử chỉ nghếch đầu ngó thẳng đám địch thủ đang hùng hổ đợi nó kia. Đợi nó định đoạt, vì nó mới biết khinh! Rồi, trong khi mọi người căng gân cốt ra đợi tiếng còi trọng tài huýt, trong khi mọi người nín thở đợi nó giơ chân tống bóng, thì, thoáng qua óc thằng Kình hiện lên cả một quá khứ bất ngờ; trong khi mọi người tưởng thằng Kình đang chú ý, chú tâm vào quả bóng, vào cuộc chơi, vào sự ganh đua, vào chỗ gỡ danh dự cho đội nó, cho hội nó, cho lớp nó; thì thằng Kình đang ứ lên mối khinh bỉ mãnh liệt- mối khinh bỉ đó xua đuổi hết các tư tưởng khác, làm cho thằng Kình như ngây ngất, say sưa. Mắt nó sáng quắc lên; răng nó nghiến vào nhau làm bạnh hai quai hàm lên; tim nó đập rộn ràng; nó thở hổn hển; mồ hôi nó thoát ra ướt đẫm thái dương rỏ giọt trên cặp lưỡng quyền... toàn thân nó rung động, rồi bất giác nó run bắn cả người lên.
 Thằng Kình đã hoàn toàn thay đổi.., chỉ trong có nháy mắt, đứng giữa trăm nghìn người, đứng giữa cảnh giời trong gió mát của tiết xuân, đứng giữa một đám nôn nao, nhốn nháo - thằng Kình đã tận hưởng một giây phút mê ly, vì thằng Kình đã tìm thấy chân tướng mình; lần đầu tiên trong đời nó, nó vừa mới biết khinh.
 Thì ra bao nhiêu nỗi băn khoăn, thắc mắc, rụt rè, e ngại- trong mấy năm qua, bao nhiêu cuộc tranh đấu một mình- giữa thằng Kình muốn sống tầm thường với hạng chúng bạn tầm thường, là lũ con Ngọc, thằng Trấn, thằng Hào, thằng Hải, và thằng Kình định sống một cuộc đời khác thường với hàng anh hùng hào kiệt trong sử, trong truyện nghĩa hiệp, bao nhiêu tư tưởng tự cường, tự đại của thằng Kình bị đè nén từ ngày gặp Ngọc, gặp Trấn, tuy đã có nhiều lần phát lộ ra; nhưng cũng chỉ phát lộ bằng những tình thường như giận dỗi, bực tức, phẫn uất, cáu kỉnh, phát lộ một cách mờ nhạt trong chốc lát thôi. .. Bao nhiêu nỗi khó chịu đó, đã ngấm ngầm ăn sâu vào tâm trí Kình ;mà đợi đến lúc này mới kết tinh lại thành một mối tình mãnh liệt, tình đó là lòng khinh- kình khinh hết thảy, trong khi nó dẵm lên quả bóng trước thành trì hội B.
Trong giây phút, nó thấy nó khinh người vô hạn. Dận chân lên quả bóng, nó thấy cả người nó là một phi tượng để hình dung tính khinh người! Nó khinh...
 
NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
( 6 đoạn văn trên do Thanh Tâm Tuyền chọn đăng.)

 

Tiết 5:


Di cảo-   Nguyễn Đức Quỳnh viết vào năm 1974 ở Saigon.
 
Lời dẫn của tạp chí Văn:
Gia đình nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh đặc biệt để Văn trích đăng một phần tập Nhật ký của ông.  Chúng tôi chỉ chọn đăng dưới đây mấy đoạn ngắn- nhưng đối với  chúng ta xúc động nhất. Vì là những dòng chữ cuối của Nguyễn Đức Quỳnh.
 
30.3.74, 7 giờ.
 
Tất cả lý thuyết gia Đông Tây hiện đại đều chỉ mới đi đến Phương pháp luận. Trừ Jean-Paul Sartre mới thực là đạt đến  Nguyên lý của con người hiện đại.
 
10-4-74
 
Cang đọc Sartre càng thấy Sartre quả là Khổng Khâu của thời đại. Sartre là kẻ sỹ vậy.
 
29-4-74
 
Không tài nào loài người và dân tộc tránh khỏi:
-Thế điều hợp, nội ngoại cả tập, gia tế v.v...
- Phép phản ứng hóa-  Thiêu-nếu muốn làm chính trị.
-Gan ỳ, " Ù Lỳ"  nằm vạ của nhược tiểu.
 
15-5-74
 
Từ hôm nay lại viết: ngoài sáng tác ra thì không có cách gì làm cho quên bệnh, tức là tránh cái ám ốp vì Ung Thư ( hay là bệnh tưởng cũng vậy).
Ừ, thì lại " mở rộng phòng the".
Trước đây, mỗi khi cầm bút, hay ôm máy đánh chữ, thì sao mà lòng nó lâng lâng, nó hào hứng là thế! Mà sao bây giờ, hôm nay, lúc này, tuy múa bút thì vẫn múa thật đấy; song lòng thì thấy vắng, tẻ nhạt, ngao ngán thế nào ấy! Thời chăng? Thế chăng? Duyên tận, Nghiệp tận chăng?
Biết được  chứng bệnh của mình đã là hiếm thấy như lương y, huống hồ đã biết được Tính và Khí của con bệnh? Cho nên, đến giờ này y học vẫn còn là một khoa học mò mẫm. Làm sao cho lương y phải sống, nghĩa là đau mà chịu đau như con bệnh?
 
6-5-74
 
Thời đại này là thời đại Trao ĐổiTrả Đũa, là Thời Rửa Hận, là thời... gì gì nữa giữa Đông và Tây cũng vẫn là đúng. Nói rõ hơn là Đông bị Tây đem kỹ thuật học được của Đông rồi đè nén Đông suốt mấy trăm năm nay, nên bây giờ Đông báo oán.
Đông  Phương bao giờ cũng thừa sức " mớm ý"  làm thầy " Tây Phương về mọi mặt quân sự, chính trị, cũng như văn nghệ, đạo lý.
 
5-6-74
21 giờ 30.
 
Tôi cấm không ai khóc tôi, vì khóc tôi là phản bội tôi.
Tôi sinh ra trần truồng, tôi không mặc gì khi chết. Hãy gói tôi bằng một tấm nhiễu điều. 
 
 NGUYỄN ĐỨC QUỲNH.



KỲ SAU - Tiết 6:
 Đăng trọn tâm bút  AI CÓ QUA CẦU
của Hoài Đồng Vọng ( N.Đ.Quỳnh)
nxb Quan điểm loại mới, Saigon 1957.










________________________________________________

ĐỌC LẠI TRANG NHẬN DIỆN VÓC DÁNG NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH TRƯỚC
© tác giả giữ bản quyền.
. Cập nhật theo nguyên bản tu chỉnh lại của tác giả gởi Newvietart.com ngày 03.04.2010.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com

. TÁC PHẨM NHẬN DIỆN VÓC DÁNG NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG
CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.