Cổ Pháp Cố Sự
    (Bộ sách viết về cội nguồn nhà Lý)

Nhà văn Nguyễn Khôi quê gốc làng Cổ Pháp, sau đổi là Đình Bảng, đất phát tích Vương triều Lý; từ năm 2002 đã dành thời gian và tâm huyết viết Bộ Sử Làng "Cổ Pháp Cố Sự" 4 tập, dày 970 trang.

Tập 1+ 2+ 3 đã xuất bản, vừa được Giải Thưởng Văn Học Nghệ Thuật Thủ Đô 2008 (cùng đợt với tập" Thơ Trần Dần"). Tập 4 đã viết xong (Chuyện làng Đình Bảng từ 1945 đến nay) sẽ xuất bản trong dịp tới.

Newvietart xin trích đăng một số chương của Cổ Pháp Cố Sự để bạn đọc Trong và Ngoài Nước cùng thưởng thức.

Từ Vũ

  HỌ LÝ Ở VIỆT NAM

   

Họ Lý (cây Mận) là một họ người, tồn tại ở các nước Trung Hoa, Hàn Quốc, Việt Nam, Đảo Đài Loan, Singapore...
 Họ Lý ở Trung Quốc xưa : âm CHỦY,gốc Quận Lũng Tây. Họ Lý này có nguồn gốc từ họ Lý là dòng dõi của Cao Dao,đời đời làm chức Quan lý (bộ vương+lý ). Con cháu về sau lấy tên chức quan làm họ. Trong số người họ Lý này có Lý Lợi Trinh,vì tỵ nạn dưới thời Vua Trụ (xem tích Trụ Vương-Đát Kỷ) đời nhà Ân Thương,đến sống ở một vùng nông thôn hẻo lánh,nhà có vườn cây Mận ( chữ tử đứng dưới chữ mộc ). Lý Lợi Trinh là tiên tổ của Lão Tử . Dòng dõi về sau có Lý Mục làm quan ở nước Triệu,Lý Quảng làm quan cho nhà Hán. Lý Uyên tức Vua Đường Thái Tổ là dòng dõi của Lý Quảng.   

Họ Lý ở Việt Nam ta,người được lịch sử nói đến sớm nhất là Lý Ông Trọng (Lý Thân)- Đức thánh Chèm-Hà Nội) tướng tài thời Hùng Vương...sau bị Vua  Tần bắt đi dánh Hung Nô. 

  

Vua họ Lý đầu tiên của nước ta (Vạn Xuân) là Lý Nam Đế (Lý Bí) còn gọi là Lý Bôn; tiếp theo là hậu Lý Nam Đế (Lý Phật Tử cháu tiền Lý Nam Đế)  

 

Triều Lý (10/1009-1226) 216 năm. Tính từ Vua Lý Thái Tổ đến Lý Chiêu Hoàng là 9 đời; thực quyền là 8 đời (Lý Bát Đế) 214 năm ứng với 214 chữ (Hán) trong Chiếu dời đô (thật là tiên tri, linh nghiệm!) 

 

Các vị vua nhà Lý như sau: 

 

1. Thái Tổ Lý Công Uẩn (974-1028) 

 

Công lao nổi bật là dời Đô từ Hoa Lư về Thăng Long 1010 vua nhà Tống phong là Giao Chỉ Quận Vương, sau lai gia phong làm Nam Bình Vương. Năm 1018 vua sai quan là Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang Tàu thỉnh "Kinh tam tạng" để vào kho Đại Hưng.vỗ về yên ổn xứ Chiêm Thành, Chân Lạp, vua trọng đạo Phật.
Các sử gia cho rằng Vua Lý Thái Tổ có "Đức dày" truyền đời cho con cháu, là người có mưu lược của bậc đế vương. 

 

2. Thái Tông Lý Phật Mã (1000-1054) 

 

Cai trị từ 1028-1054 có tên khác là Lý Đức Chính.Tương truyền thuở nhỏ ông có tướng lạ : 7 nốt ruồi ở sau gáy như chòm sao Bắc Đẩu. Là vị Vua thao lược, thường thân chinh đi đánh đông dẹp bắc (dẹp phản lọan của cha con Nông Tồn Phúc, Nông Trí Cao ở Cao Bằng), Chinh phạt Chiêm Thành (năm 1044) , đánh Ai Lao 1048. Là vị hoàng đế thương dân (năm đói kém thì giảm thuế, cứu tế). 
Cho đúc tiền Minh Đạo (1042), xây dựng bộ luật Hình thư 1042 được xem là bộ luật đầu tiên ở nước ta. 
Là Vua ở ngôi cao nhưng luôn gắn bó với lao động: Tháng 2 năm 1038 ông thân hành ra cửa Bồ Hải cày ruộng tịch điền.
Ông nêu gương cho thiên hạ về đức tính kiệm ước. 
Về đạo Phật: ông khởi công xây dựng chùa Một Cột - Diên Hựu  

 

3. Thánh Tông Lý Nhật Tôn (1023 - 1072) 

 

Cai trị từ 1054-1072.Từ khi còn là Thái Tử, ông đã sớm thông kinh truyện, rành âm luật, giỏi võ nghệ là người thông minh xuất chúng. Mới 15 tuổi, đã được Vua cha phong làm Đại Nguyên Soái đem quân đi dẹp loạn ở Lâm Tây (Lai Châu). 17 tuổi được làm Giám Quốc coi việc triều chính. Ông được các sử gia coi là : "Vị hoàng đế nhân từ" được trăm họ mến phục.
Lý Thánh Tông có người vợ thứ là Nguyên Phi Ỷ Lan cũng nổi tiếng có tài trị nước.
Công lớn của Vua: phá Tống, bình Chiêm. Binh pháp thời Lý Thánh Tông được tiếng là giỏi.Nhà Tống (bên Tàu) cũng phải dụng tâm học cách tổ chức, phiên chế của quân đội Đại Việt.Vua chinh phạt Chiêm Thành, bắt sống Vua Chiêm là Chế Củ, Chế Củ phải dâng cho Đại Việt 3 châu là : Địa Lý, Ma Linh, Bố Chính để chuộc tội (nay là Quảng Bình,Quảng Trị) 

 

* Ỷ Lan Nguyên Phi:  

 

Bà tên là Lê Khiết Nương (sử Tàu ghi là Lê Thị Yến hay Yến Loan, đó chỉ là cách phiên âm tiếng Việt từ tên chữ Ỷ Lan mà ra). Bà sinh ngày 19-2 âm lịch (1044- mất năm 1117) quê ở trang Thổ Lỗi, xứ Kinh Bắc(nay thuộc Như Quỳnh - Hưng Yên). Năm Quý Mão 1063, vua Lý Thánh Tông đã 40 tuổi ,mà chưa có con trai. Vua và hoàng hậu đi cầu tự ở chùa Dâu, xa giá đến trang Thổ Lỗi thấy một cô thôn nữ hái dâu xinh đẹp vẫn điềm nhiên hái dâu bên cạnh gốc Lan.Vua thấy lạ cho người gạn hỏi.Người con gái ấy đối đáp thông minh, cử chỉ đoan trang dịu dàng, Vua ưng ý tuyển vào cung phong làm Cung Phi, đặt tên là Ỷ Lan (tựa gốc lan). Vào cung Ỷ Lan chịu khó học hành trở thành người có chữ nghĩa, kiến thức uyên thâm, được triều thần khâm phục "bà có tài". Năm Bính Ngọ 1066 bà sinh con trai đầu là Càn Đức, bà được phong là Thần Phi; khi sinh con trai thứ hai là Minh Nhân Vương, bà được phong là Nguyên Phi.Khi Vua Lý Thánh Tông mất (1072) Thái Tử Càn Đức lên ngôi (Nhân Tông) bà được phong là Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Công lao: Ỷ Lan hai lần làm nhiếp chính. 
- lần 1: 1069 : Vua Lý Thánh Tông cùng Thượng tướng Lý Thường Kiệt đi đánh Chiêm Thành
- lần 2 : Vua con mới 7 tuổi - bà đã cùng Lý Thường Kiệt, Lý Đạo Thành lo việc đánh quân Tống xâm lược.

Tỳ vết :
Sau khi vua Lý Thánh Tông qua đời, Hoàng Hậu Thượng Dương (vợ cả) đã dựa vào thế lực của Thái Sư Lý Đạo Thành đã gạt Ý Lan ra khỏi triều chính. Mãi bốn tháng sau nhờ Lý Thường Kiệt, Ý Lan mới giành lại được chính quyền "nhiếp chính". Bà đã xui Vua con bắt giam Hoàng Hậu Thượng Dương cùng 72 cung nữ vào lãnh cung bỏ đói cho đến chết. Về cuối đời , Ỷ Lan đã sám hối cho xây nhiều chùa để cầu siêu cho Hoàng Hậu và các cung nữ đã bị bà giết hại.
Bà mất ngày 25-7 âm lịch 1117 hỏa táng, chôn tại Thọ Lăng Thiên Đức (Đình Bảng)

 

4. Nhân Tông Lý Càn Đức (1068-1127)  

 

Ở ngôi 56 năm thọ 63 tuổi
Công Lao : năm Ât Dậu 1075 mở khoa thi Tam Trường (Minh Kinh bác học) mở đầu cho thi cử ở Đại Việt: Lấy Lê Văn Thịnh đỗ thủ khoa (được coi như vị Trạng Nguyên đầu tiên của nước ta với mười người nữa;Lê Văn Thịnh sau làm tới chức Thái Sư)
- Cho đắp đê Cơ Xá , khởi đầu hệ đê điều (thủy lợi) ở nước ta.
- Năm Bính Thìn 1076 lập Quốc Tử Giám (trường Đại Học đầu tiên ở nước ta).
Năm Kỷ Tỵ 1086 định "quan chế" (Cửu Phẩm = Chín Bậc)
- Năm Bính Thìn 1076 đánh bại quân Tống xâm lược ở phòng tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu - Bắc Ninh)

Đặc biệt là trong các Vua chúa Việt Nam xưa nay, có lẽ duy nhất có vua Lý Nhân Tông đã để lại bản "di chúc" đáng để cho đời sau học tập noi gương. 

 

5. Thần Tông Lý Dương Hoán (1116 - 1138)  

 

Cháu gọi Nhân Tông là bác, con Sùng Hiền Hầu , mới lên hai tuổi đã được lập làm Thái Tử; năm 1123 lên ngôi vua, ở ngôi được 11 năm thọ 23 tuổi (1128-1138)
Trong thời gian Thần Tông tại vị, việc triều chính nhờ các đại thần phụ chính như Trương Bá Ngọc, Lưu Khánh Đàm, Dương Anh Nghị đều là các bậc hiền thần, cho nên đất nước thái bình thịnh trị. 

 

6. Anh Tông Lý Thiên Tộ (1136- 1175) 

 

Là con trưởng của Thần Tông, ở ngôi 37 năm (1138-1175).
Mẹ là Thái Hậu họ Lê rủ rèm nghe việc triều chính.Thái Hậu tư thông với Đỗ Anh Vũ (1 gian thần lộng quyền). Các triều thần là Võ Đái , Dương Tự Minh , Nguyễn Dương có ý định trừ khử tên này, nhưng do Thái Hậu che chở nên đã bị Thái Úy Đỗ Anh Vũ giết hại. Chẳng bao lẫu Đỗ Anh Vũ chết, Tô Hiến Thành lên chức Thái Úy, phụ tá đắc lực cho nhà Vua. Ông là người thao lược , đại tài, được sử gia ví như Y Doãn và Chu Công ( bên Tàu thời xưa). 

 

7. Cao Tông Lý Long Trát (1173-1210) 

 

Là con thứ 6 của Anh Tông, ở ngôi 35 năm 1176-1210 thọ 38 tuổi  đây là ông vua khởi đầu cho sự suy vong của Nhà Lý. Trước hết vì các hiền thần như Tô Hiến Thành, Đỗ Yên Chi, Lý Kính Tu... đều đã mệnh chung, sau nữa bởi các tay ngọai thích chuyên quyền làm sai trái pháp luật (ám chỉ các ông Trần Lý, Trần Thừa, Trần Thủ Độ ỷ thế lộng hành) mà Vua thì bất tài chơi bời vô độ, hình chính không rõ ràng, giặc cướp nổi lên như ong, cơ nghiệp suy từ đấy...
Năm 1028 ở Nghệ An có Phạm Du làm loạn, Vua cử Phạm Bỉnh Di đi dẹp... nhưng sau Phạm Du đem vàng bạc đút lót các quan trong triều, sự việc bị lật ngược, vua giết Phạm Bỉnh Di, bộ tướng của Bỉnh Di là Quach Bốc đem quân vào phá kinh thành... Vua phải chạy trốn lên Phú Thọ; Thái Tử Lý Hạo Sảm chạy về Hải Ấp vào ở nhà Trần Lý.
Trần Lý , nguyên là người làng Tức Mạc (Xuân Trường, Nam Định) làm nghề đánh cá nhà giàu, nhân loạn lạc cũng đem bọn tay chân đi cướp phá. Đến khi Thái Tử Sảm về trú ở đấy thấy con gái Trấn Lý xinh đẹp (Trần Thị Dung) lấy làm vợ rồi phong cho Trần Lý (bố vợ) tước Minh Tự (một loại Huân hàm bậc cao thời Lý Trần) và phong cho người cậu vợ tên là Tô Trung Từ người làng Lưu Gia làm Điện Tiền Chỉ Huy Sứ (Tổng chỉ huy quân đội).
Anh em họ Trần tạo được thế lực mộ quân về dẹp loạn, rồi lên Quy Hóa(Phú Thọ) rước Cao Tông về cung, đưa Thái Tử về kinh... đến tháng mười Canh Ngọ 1210 Cao Tông ốm chết, thọ 38 tuổi . 

 

8. Huệ Tông Lý Hạo Sảm (1194-1226) 

 

Là con trưởng của Cao Tông , năm 1211 lên ngôi ở ngôi 14 năm truyền ngôi cho con gái là Chiêu Hoàng, sau bị Trần Thủ Độ giết, thọ 33 tuổi.Vua lên ngôi lúc 17 tuổi, phong vợ Trần Thị Dung làm Nguyên Phi , rồi phong làm Hoàng Hậu. Trần Thừa (bố Trần Cảnh là anh của Nguyên Phi; Trần Thủ Độ là em của Nguyên Phi, đều làm chức quan đại thần.
Tháng 12-1216 phong Trần Tự Khánh làm Thái Úy phụ chính, cho anh trại  Tự Khánh là Trần Thừa (Thượng Hoàng nhà Trần sau này) làm Nội Thị Phán Thủ (Giữ việc hầu trong nội và tuyên phụng chế lệnh)
Tháng 6-1216 sinh công chúa Thuận Thiên. Vua bị bệnh trúng phong rồi phát điên rồ, chính sự giao cả cho Trần Tự Khánh.
Tháng 9-1218 sinh công chúa Chiêu Thánh.
Tháng 12-1223 Trần Tự Khánh chết, phong Trần Thừa làm Phụ quốc Thái Úy.
Tháng 10 năm Giáp Thân (1224) Huệ Tông truyền ngôi cho Chiêu Thánh công chúa, rời ra ở chùa Chân Giáo , rồi bị Trần Thủ Độ bức tử (1224). 

   

9. Lý Chiêu Hoàng (1225-  )

 

Tên húy là Phật Kim sau đổi là Thiên Hinh. Vua cha không có con trai, mắc mưu Trần Thủ Độ, truyền ngôi cho Phật Kim, ở ngôi được 2 năm 1224-1225 rồi nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh (ngày 12-11 Mậu Dần 1225) kết thúc nhà Lý 216 năm. Sau đó do dàn xếp cả Trần Thủ Độ Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) phế Chiêu Hoàng xuống làm công chúa, lấy vợ của anh trai (Trần Liễu) là công chúa Thuận Thiên làm vợ. Bà ở vậy 20 năm, sau gả cho danh tướng Lê Tần (Lê Phụ Trần, sinh hạ được 1 trai 1 gái.Bà mất thắng 9 năm Mậu Dần 1278, thọ 60 tuổi, an táng tại Thọ Lăng Thiên Đức -  Đình Bảng) 



… còn tiếp


© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 31.03.2010.
TÁC PHẨM CỦA NGUYỄN KHÔI CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM Ở HẢI NGOẠI
. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.