HAI TRĂM NĂM



FÉDÉRIC CHOPIN

(1810-1849)


VI - ĐI VÀO CÕI CHẾT

Chopin từ giã Nohant và không bao giờ còn trở lại nơi này nữa.

Cuộc hôn nhân của Solange vẫn được dự định và một người có cái tên là Clésinger, một điêu khắc gia trẻ , được đề cập tới. Chopin không ưa người mà ông gọi là " thợ đục đá " này cho lắm , tuy nhiên ông cũng không bộc lộ gì. Giờ thì Chopin có mặt ở Paris và chờ đợi niềm tin trở lại với ông. Solange đang yêu Clésinger, dù rằng mẹ cô do dự. Solange quyết định tổ chức đám cưới với người điêu khác gia đó . Goerge Sand phải gọi cầu cứu với cậu con trai Maurice lúc này đang ở tại Hoà Lan , và cũng nhấn mạnh rằng đừng hé lộ điều gì với Chopin.

" Việc này không dính dáng gì với ông ta cả " Sand đã viết trong thư gởi cho cậu con trai.

Cuộc hôn nhân của Solange diễn ra vào ngày 06 tháng 5 năm 1847. Tiếp sau là một trận cãi vã dữ dội giữa Sand và con gái, khi Chopin biết được tin thì ông cũng nhận ra rằng ông đã bị George loại ra khỏi vòng gia đình mà ông tưởng là đã có tuy vậy Chopin cũng vẫn đứng về phía Solange.
Sự can thiệp của Chopin xảy ra vào thàng 8 năm 1947 và đây cũng là điễn biến cuối cùng đánh dấu cho sự tan vỡ của Chopin và Sand. Lá thư đoạn tuyệt của Sand viết gởi Chopin thật tàn nhẫn. Chopin đã đọc cho Delacroix nghe. " Người đàn bà tội nợ " Chopin đã gọi Sand như vậy, và nói tiếp :

" Quá đủ cho tám năm của một cuộc sống nề nếp "

Một trang tình sử đã lật qua nhưng vẫn ghi dấu trong tâm hồn người nhạc sĩ tài hoa .

Chopin trình tấu lần cuối cùng tại Paris ngày 16 tháng 2 năm 1848 tại các phòng khách của cơ sở sản xuất dương cầm Pleyel . Tất cả mọi vé đều bán hết sạch hệt như có phép lạ tới nỗi phải tổ chức lại một buồi thứ hai vào ngày 10 tháng 3 để đáp lại yêu cầu của người thưởng mộ.

Tất cả mọi người yêu chuộng âm nhạc nghệ thuật ở Paris đều có mặt. Gia đình hoàng gia Pháp ngay hàng danh dự, giới thượng lưu bao quanh và bạn bè của Chopin không thiếu một người nào.

" Tôi cảm thấy hệt như tôi đang ở nhà tôi và mắt tôi được gặp mọi khuôn mặt của bè bạn thân quen "

Trong buổi hoà nhạc Chopin đã trình diễn một Trio của Mozart .

Tám ngày sau đó, vua Louis-Philippe (Pháp) bị lật đổ.

Cũng như rất nhiều nghệ sĩ, Chopin rời thủ đô Pháp sang Luân Đôn (Anh), một phần để lánh sự biến động xã hội và một phần lớn để trốn tránh những kỷ niệm đầy ắp trong ông. Năm 1848 là năm báo hiệu những khó khăn cho giới nghệ sĩ nhất là cho Chopin, kẻ sống với một vết thương lớn trong tim và chứng lao phổi mà ông cũng không còn để tâm đối kháng nữa.

Cuộc ra đi tới Luân Đôn đánh dấu một khởi đầu cho sự khước từ của Chopin. Ông được bà Stirling, một trong số những học trò của ông mời, trong một vòng trình diễn do chính bà tổ chức. Được giới qúy tộc Anh chào đón nồng nhiệt, Chopin trình tấu trước nữ hoàng Victoria và vua Albert, gặp gỡ nhà văn Dickens. Ông bắt buộc phải trình diễn trong những buổi hoà nhạc tư nhân cũng như trước công chúng .

" Chính tôi cũng phải ngạc nhiên với một sự vội vã như thế bởi lẽ tôi chơi kém hơn trườc rất nhiều ", Chopin đã viết.

Ngày 9 tháng 8, Chopin rời Anh quốc đi Ecosse. Ông cư trú tại nhà gia đình Stirling tại Édimbourg rồi quay trở lại Luân Đôn vào đầu tháng mười.

"Người ta quấy rầy tôi với một sự ân cần vô ích của họ. Tôi cảm thấy cô đơn, cô đơn, cô đơn, dù rằng có rất nhiều người bao quanh ".

Thêm một lần nữa Chopin lại bị mệt mỏi đè nặng. Thở dốc, nhức đầu, viêm phế quản, cảm cúm, tất cả những điềm báo như đã xảy ra.
Chopin được một thầy thuốc chữa trị nhưng không ngớt nhớ về Paris .

"Người Anh khác người Pháp, những người mà tôi gắn bó như những thân nhân của tôi."

Vị y sĩ của nữ hoàng Anh khuyên Chopin nên rời Luân Đôn.

" Nếu còn ở lại đây thêm một ngày nữa thì dù rằng tôi không chết nhưng cũng sẽ thành người điên ".

Ngày 24 tháng 11 năm 1848 Chopin trở về Paris.

Quãng trường Orléans không còn giống như ngày trước nữa. Đối với Chopin chỉ còn lại kỷ niệm một thời hạnh phúc đã qua, bao bọc quanh ông là bạn bè mà ông yêu qúy và một gia đình mà ông đã tự cho là của ông.
Goerge đã ra đi, Charlotte Marliani cũng thế, chỉ còn duy nhất Akan một người đồng nghiệp.
Người bác sĩ thực thụ chữa trị cho Chopin cũng đã qua đời. "Chỉ duy nhất ông ấy mới chữa được cho tôi ", Chopin nói.
Chopin chỉ sáng tác được duy nhất 2 bản Mazurkas, đấy là hai tác phẩm cuối cùng của Chopin. những chi tiết này được trích từ nhật ký của hoạ sĩ Delacroix.

Để tránh bệnh dịch tả đang hoành hành ở Paris, người ta đưa Chopin vào nằm tại Chaillot. Tại đây, cuộc sống thường nhật của ông là đi dạo và liên tục tiếp những người hâm mộ nữ phái tới thăm ông.

Tháng năm, Chopin đốt tất cả những bản thảo của ông. Ông cũng thử định viết soạn một phương pháp về dương cầm nhưng chắc vì biết rằng mình không thể đủ thời gian để hoàn chỉnh nên ông đã từ bỏ ý định vì chỉ cần nghĩ tới việc làm không hoàn toàn là ông đã không thể chịu đựng nổi được.

Chopin chỉ còn hai tháng rưỡi nữa để sống.

Vào khoảng cuối tháng 6, Chopin nhất định phải gặp lại những người thân của ông, hình như tự biết rằng ngày từ giã cõi đời của ông không còn xa. Chopin quyết định mời người chị cả và bỏ ra hai ngày để viết cho bà chị một lá thư. Đấy không phải là lá thư của một người đang đi vào cõi chết.

"Những cây bách có những ý thích thất thường của chúng , sự thất thường của em là muốn được có chị ở nhà em,...Em đang ngồi ở phòng khách nởi, qua năm cái cửa sổ em nhìn được toàn cảnh Paris ".

Như đã nói ở trên, lá thư Chopin viết gởi người chị không phải là một lá thư của một người sắp chết viết vì Chopion vẫn còn hy vọng hay cũng rất có thể là không biết được bệnh trạng của mình vì ông viết :

" Nếu có túng thiếu tiền bạc, chị cứ đi mượn, khi nào em khoẻ khoắn lại, em sẽ làm ra tiền rất dễ dàng rồi mình trả lại cho người mà chị mượn..."

Cũng trong lá thư, Chopin viết về bệnh tình của mình, nhưng không một chút gì lo sợ ông báo tin :

" Trong bệnh hoạn của em có một cái gì đó vượt hẳn khoa học "

" Em không bị cái loại nóng sốt làm cho vị bác sĩ bình thường phải bó tay "

Cuối thư Chopin viết :

"Em thân qúy, nhưng rất yếu đuối của chị. Ch "

Nhận được thư em, người chị lập tức, cùng chồng, con gái và Titus, một người bạn thời thơ ấu của Chopin, rời Varsovie lên đường đi Paris.
Louise (Ludwika) , chị cả của Chopin tới Paris ngày 08 tháng 8 năm 1849. Tất cả đều tới cư ngụ tại nhà Chopin. Ông tỏ ra vô cùng sung sướng khi gặp lại chị và người chồng .
Ba tuần lễ sau, chồng Louise trở về Varsovie còn Louise ở lại săn sóc em.

Biết tin chị Chopin tới Paris, George viết gởi Louise một lá thư có vẻ kỳ cục. Nội dung không có gì là lạ nhưng là những nguyên cớ thúc đẩy George viết gởi .
George Sand hình như có ý muốn biện bạch cho sự gián đoạn với Chopin và sự vắng mặt của mình .

" Người này thì nói với tôi rằng anh ấy bệnh nặng hơn trước, kẻ khác lại kể rằng anh ấy yếu đau như tôi đã biết ..."

Sự hiện diện của người chị làm cho Chopin phấn khởi trở lại và ông dự tính với những người thân là sẽ xuống Nice nơi có khí hậu tốt để dưỡng sức vào mùa đông năm này.
Tuy nhiên tình trạng sức khoẻ của Chopin ngày càng suy thoái hơn . Ba vị bác sĩ tái khám một lần nữa cho Chopin , cả ba đều đi tới kết luận rằng việc Chopin xuống miền nam cũng không thể thay đổi gì được, tốt hơn hết là đưa Chopin về cư trú tại một căn hộ thật ấm áp hơn.

Căn hộ được tìm ra tại số 12 Place Vendôme. Tại đó hàng ngày, một người em của một trong số những học trò của ông đọc sách cho ông nghe, nhất là đọc Voltaire, một tác giả mà Chopin rất yêu chuộng từ hình thức tới nội dung.
Nhưng, cực kỳ nhanh, bệnh tình của Chopin trở nên vô cùng trầm trọng tuy nhiên vào lúc này gần như ông cũng chẳng còn để tâm tới chuyện sống, chết gì nữa.

Đầu tháng mười Chopin không thể ngồi được và thường xuyên bị ngộp thở. Bạn bè và thân nhân luôn hiện diện quanh ông.

Tu sĩ Jelowicki, một người bạn lúc còn trẻ của Chopin mà cả hai từ lâu đã giận hờn không còn muốn gặp nhau, đã tìm tới khi biết tin về bệnh tình của bạn. Sau ba lần bị ngăn trở không cho vào nhưng cuối cùng khi biết tin bạn mình đến, Chopin đã lập tức cho người mời vào ngay. Kể từ đó, mỗi ngày tu sĩ Jelowicki tới một lần và Chopin rất hoan hỉ đón tiếp bạn.

Ngày 13 tháng 10, tu sĩ Jelowicki còn tìm được một cơ hội hay hơn nữa, ông ta nói với bạn :

" Bạn của tôi ơi, hôm nay là ngày giỗ anh tôi, anh phải tặng tôi một cái gì chứ .

- Tặng anh cái gì bây giờ ?

- Linh hồn anh .

- A, tôi hiểu, tôi hiểu, Chopin đáp lại, cứ lấy đi ".

Sau khi nghe Chopin trả lời, vị tu sĩ qùy gối, đưa cây thánh giá về phía Chopin rồi nức nở khóc.
Chopin đã xưng tội, chịu lễ ban thánh thể và nhận lễ xức dầu cuối cùng. Sau đó Chopin cảm ơn bạn mình , nói đùa :

"Nhờ có anh mà tôi không chết giống như một con heo ".

Ngay sau đó thì những cơn nghẹt thở trở lại một cách dữ dội làm cho ông hoàn toàn kiệt quệ. Một chập lâu sau, phục hồi trở lại được, Chopin nói :

" Giờ thì tôi đi vào cơn hấp hối" .

Ngày 15 tháng 10, một người bạn gái, nữ danh ca Delphine Potocka, từ Nice lên gặp. Khi biết tin Chopin thì thào :

" Chắc là vậy mà Thượng đế đã chưa gọi tôi ngay, Người còn muốn tôi được thỏa lòng khi gặp lại cô bạn này. "

Nữ danh ca Delphine Potocka vừa hát cho Chopin nghe vừa khóc trong lúc nữ vương tước Marcellina Czartoryska chơi bản Sonate en sol mineur của ông.

Ngày 16 tháng 10, Chopin bất tỉnh suốt mấy tiếng đồng hồ, khi tỉnh lại được ông ra dấu muốn viết :

" Vì mặt đất này đã bóp nghẹt tôi, tôi xin các người hãy cho mở thân thể tôi để tôi khỏi phải bị chôn sống ".

Ông yêu cầu đốt tất cả những sáng tác còn dở dang mà ông đã viết :

" Tôi không muốn dưới trách nhiệm tên tuổi tôi, những tác phẩm không xứng đáng với quần chúng sẽ được phổ biến ra ".

Sau khi đã nói vài ước muốn cuối cùng, Chopin ra dấu vĩnh biệt mọi người.

Ngay sau đó bác sĩ hỏi rằng ông có đau đớn gì không :

" Không còn nữa !" Chopin đáp lại.

Đó là câu cuối cùng của Chopin. Vài phút sau người nhạc gia tài hoa từ gĩa cõi đời hưởng dương 39 tuổi.

Đó là ngày 17 tháng 10 năm 1849 vào lúc 2 giờ sáng.

Sáng tinh sương hôm đó, rất nhiều vòng hoa tang được đem tới. Auguste Clésinger, chồng của Solange đã lấy khuôn mặt và tay của Chopin, như thông lệ vào thời đó, và người ta cũng đã họa lại rất nhiều bản vẽ về Chopin trên giuờng vào lúc chết.
Sau đó thi thể Chopin được giải phẫu lấy trái tim ra trước khi tẩm liệm và quàn tạm tại hầm mộ ở nhà thờ Madeleine suốt hai tuần lễ trước khi an táng. Trái tim của Chopin được người chị cả đem về Varsosvie (Ba Lan) để trong một chiếc hòm nhỏ đóng si đặt dưới một trụ cột của ngôi giáo đường Sainte Croix tại Krakowskie Pszredmiescie.

Ngày 30 tháng 10 năm 1849, từ lúc 11 giờ , hơn 3000 người tham dự buổi lễ an táng người nhạc gia tài hoa nhưng xấu số này . Dàn nhạc trình tấu bản Marche Funèbre của chính Chopin trong lúc thi thể đã được tẩm liệm của ông được đưa từ nhà mồ lên . Rồi những cây đàn ống cùng lúc rung lên bản Prélude en mi mineur và si mineur của người nhạc sĩ qúa cố tiếp đó là bản Requiem của Mozart do dàn nhạc và ban hợp xướng của Société des concerts du Conservatoire trình diễn với sự độc diễn của nữ danh ca Pauline Viardot (1821-1910) .

Thi thể Chopin được đưa từ Madeleine tới nghĩa trang Père Lachaise do vương tước Adam Czartoryski và nhà soạn nhạc Giacomo Meyerbeer mở đường, tiếp theo sau là những bạn bè nổi tiếng của Chopin như : hoạ sĩ Delacroix, nhà sản xuất dương cầm Pleyel, Franchomme; vương tước Alexandre Czartoryski ...
Sau đó, thi thể Chopin yên nghĩ dưới lăng mộ , một tác phẩm của điêu khắc gia Clésinger, được khánh thành ngày 17 tháng 10 năm 1850 nhân dịp lễ tưởng niệm lần thứ nhất ngày nhạc gia qua đời.




VII - TÁC PHẨM CỦA CHOPIN :

1817, Polonaise en si bémol majeur 1817, Polonaise en sol mineur 1821, Polonaise la bémol majeur 1822-1824, Polonaise en sol dièse mineur 1824, Variations en mi majeur, sur «Steh' auf, steh' auf o du Schweitzer Bub» (chanson traditionnelle allemande) 1824-1832 : Mazurkas Op. 7 : Mazurka op. 7 n° 1 en si bémol majeur — Mazurka opus 7 n° 2 en la mineur — n° 3 en fa mineur — n° 4 en la bémol majeur — Mazurka op. 7 n° 5 en do majeur 1825, Rondo en do mineur, Op. 1 1826, Mazurka en si bémol majeur 1826, Mazurka en sol majeur 1826, Polonaise en si bémol mineur 1826, Rondo à la Mazur en fa majeur, Op. 5 1826, Variations en ré majeur, sur un thème de Thomas Moore (chant irlandais) pour piano à quatre mains 1826-1829, marche funèbre en do mineur, Op. 72 n° 2 1826-1830, Ecossaises Op. 72 : n° 3, en ré majeur — n° 4, en sol majeur — n° 5 en ré bémol majeur 1827, Nocturne en mi mineur, Op. 72 n° 1 1827, Variations en si bémol majeur, Op. 2, sur « La ci darem la mano » (Mozart, Don Giovanni), piano et orchestre 1827-1829, Polonaises Op. 71 : n° 1, en ré mineur — n° 2, en si bémol majeur — n° 3 en fa mineur 1827-1841, Fugue en la mineur 1827-1849, Mazurkas Op. 68 : n° 1 en do majeur — n° 2 en la mineur — n° 3 en fa majeur — n° 4 en fa mineur 1828, Fantaisie sur des airs polonais en la majeur pour piano et orchestre Op. 13 [ piano ] 1828, Rondo à la Krakoviak en fa majeur, Op. 14, Piano et orchestre 1828, Rondo en do majeur, Op. 73, pour 2 pianos 1828, Sonate en do mineur, Op. 4 1829, Concerto, en fa mineur, Op. 21 [ piano ] 1829, Mazur en sol majeur (Album de Vaclav Hanka) 1829, Polonaise en sol bémol majeur 1829, Souvenir de Paganini, en la majeur 1829, Trio, en sol mineur, Op. 8, Piano, violon, violoncelle 1829-1830, Polonaise en do majeur Op. 3, piano et violoncelle 1829-1830, Valse en mi majeur 1829-1832, Valses [Op. 70] : Valse en sol bémol majeur op. 70 n° 1 (1832) — Valse en fa mineur op 70 n° 2 (1842) — Valse en ré bémol majeur op. 70 n° 3 (1829] 1829-1833 : Études Op. 10 : n° 1, en do majeur — n° 2, en la mineur — n° 3 en mi majeur — n° 4, en do dièse mineur — n° 5, en sol bémol majeur — n° 6 en mi bémol mineur — no 7 en do majeur — n° 8 en fa majeur — no 9 en fa mineur — n° 10 en la bémol majeur — n° 11 en mi bémol majeur — n° 12 en do mineur 1829-1835, Valses [Op. 69] : Valse en la bémol majeur op. 69 n° 1 (1835) — Valse en si mineur op. 69 n° 2 (1829) 1829-Romances Op. 74, pour voix et piano n° 1 Zyczenie (Le Voeu) en sol majeur, 1829 (texte de Stefan Witwicki) — n° 2 Wiosna (Printemps) en sol mineur, 1838 (texte de Stefan Witwicki) — n° 3 Smutna rzeka (Triste rivière) en fa dièse mineur, 1831 (texte de Stefan S.Witwicki) — n° 4 Hulanka (Réjouissances) en do majeur, 1830 (texte de StefanWitwicki) — n° 5 Gdzie lubi (Ce qu'elle aime) en la majeur, 1829 (texte de Stefan Witwicki) — n° 6 Precz z moich oczu (Loin des yeux) en fa mineur, 1827(texte d'Adam Mickiewicz) — n° 7 Posel (La messagère) en ré majeur, 1831 (texte de Stefan Witwicki) — n° 8 Sliczny chlopiec (Beau garçon) en ré majeur, 1841 (texte de Bohdan Zaleski) — n° 9 Melodia (Mélodie) en sol majeur, 1847 (texte de Zygmunt Krasinski) — n° 10 Wojak (Le Combattant) la bémol majeur, 1831 (texte de Stefan Witwicki) — n° 11 Dwojaki koniec (La double fin) en ré mineur, 1845 (texte de Bohdan Zaleski) — n° 12 Moja pieszczotka (Ma chérie) en sol bémol majeur, 1837 (texte d'Adam Mickiewicz) — n° 13 Nie ma czego trzeba (Je n'ai pas ce qu'il me faut) en la mineur, 1845 (texte de Bohdan Zaleski) — n° 14 Pierscien (L'Anneau) en mi bémol majeur , 1836 (texte de Stefan Witwicki) — n° 15 Narzeczony (Le fiancé) en do mineur, 1831 (texte de Stefan Witwicki) — n° 16 Piosnka litewska (Chanson lituanienne) en fa majeur, 1831 (texte de Ludwik.Osinski) — n° 17 Leci liscie z drzewa (Les feuilles tombent (chant de la tombe) en mi bémol mineur , 1836 (texte de Wincenty Pol) 1830, Concerto, en mi mineur, Op. 11 [ version piano ] 1830, Czary (Magie) pour voix et piano, en ré mineur (texte de Stefan Witwicki) 1830, Nocturne en do dièse mineur 1830, Valse en mi mineur 1830, Valse la bémol majeur 1830-1835, Polonaise en mi bémol majeur, Op. 22, piano et orchestre 1831, Duo Concertant pour piano et violoncelle en mi majeur, sur un thème de «Robert le Diable» de Meyerbeer 1832, Mazurka en si bémol majeur 1832, Mazurkas Op. 6 : n° 1 en fa dièse mineur — n° 2, en do dièse mineur — n° 3 en mi majeur — n° 4 en mi bémol mineur — n° 5 en do majeur, 1832, Nocturnes Op. 9 : n° 1, en si bémol mineur — n° 2, en mi bémol majeur — n° 3 en si majeur 1833, Ballade, en sol mineur, Op. 23 1833, Boléro, en do majeur, Op. 19 1833, Mazurkas Op. 17 : n° 1 en si bémol majeur — n° 2, en mi mineur — n° 3 la bémol majeur — n° 4 en la mineur 1833, Mazurkas Op. 24 : Mazurka op. 24 n° 1 en sol mineur — n° 2 en do majeur — n° 3 la bémol majeur — n° 4 en si bémol mineur 1833, Nocturnes Op. 15 : n° 1, en fa majeur — n° 2, en fa dièse majeur — n° 3 en sol mineur 1833, Rondo en mi bémol majeur , Op. 16 1833, Scherzo en si mineur, Op. 20 1833, Grande Valse Brillante en mi bémol, op. 18 1833, Variations brillantes en si bémol majeur, Op. 12, sur «Je vends des Scapulaires» (Harold et Halévy, Ludovic) 1834, Cantabile, en si bémol majeur, 1834 1834, Impromptu-Fantasie, en do dièse mineur, Op. 66 1834, Mazurka la bémol majeur 1834, Prélude la bémol majeur 1835, Nocturnes Op. 27: n° 1, en do dièse mineur — n° 2 en ré bémol majeur 1835, Polonaises Op. 26 : n° 1, en do dièse mineur — n° 2, en mi bémol mineur 1835-1837, Études Op. 25, n° 1en la bémol majeur — n° 2, en fa mineur — n° 3 en fa majeur — n° 4 en la mineur — n° 5 en mi mineur — n° 6 en sol dièse mineur — no 7 en do dièse mineur — n° 8 ré bémol majeur — no 9 en sol bémol majeur — n° 10 en si mineur — n° 11 en la mineur — n° 12 en do mineur 1835-1838, Valses Op. 34 : Valse en la bémol majeur op. 34 n° 1 — Valse brillante en la mineur op. 34 n° 2 — Valse brillante en fa majeur op. 34 n° 3 1835-1849, Mazurkas Op. 67 : n° 1 en sol majeur — n° 2 en sol mineur — n ° 3 en do majeur — n° 4 en la mineur 1836-1837, Mazurkas Op. 30 : n° 1 en do mineur — n° 2 en si mineur — n° 3 ré bémol majeur — n° 4 en do dièse mineur 1837, Impromptu en la bémol majeur, Op. 29 1837, Nocturnes Op. 32 : n° 1 en si majeur — n° 2, la bémol majeur 1837, Scherzo en si bémol mineur, Op. 31 1837, Variation en mi majeur, «Hexamerons», sur un thème de Bellini, la marche des puritain (I Puritani) 1837-1838, Mazurkas Op. 33 : n° 1 en sol dièse mineur — n° 2, en do majeur — n° 3 en ré majeur — n° 4 en si mineur 1837-1839, Sonate en si bémol mineur, Op. 35 (marche funèbre) 1838-1839, Mazurkas Op. 41 : n° 1 en mi mineur — n° 2, en si majeur — n° 3 la bémol majeur — n° 4 en do dièse mineur 1838-1839, Nocturnes Op. 37 : n° 1, en sol mineur — n° 2, en sol majeur, 1838 1838-1839, Polonaises Op. 40 : n° 1, en la majeur — n° 2, en do mineur 1838-1839, Préludes Op. 28 : n° 1 en do majeur — n° 2, en la mineur — n° 3 en sol majeur — Prélude op. 28, n° 4 en mi mineur, transcrit par Magnus Lewis-Smith d'après l'édition Peter pour le projet Mutopia fichier midi ; Autre édition — n° 5 en ré majeur — Prélude op. 28 n° 6 en si mineurr — Prélude op. 28 n° 7 en la majeur — n° 8 en fa dièse mineur — n° 9 en mi majeur — n° 10 en do dièse mineur — n° 11 en si majeur — n° 12 sol dièse mineur — n° 13 en fa dièse majeur — n° 14 en mi bémol mineur — Prélude op. 28 n° 15 en ré bémol majeur — n° 16 en si bémol mineur — n° 17 en la bémol majeur — n° 18 en fa mineur — n° 19 en mi bémol majeur — Prélude op. 28 n° 20, en do mineur, transcrit par Magnus Lewis-Smith d'après l'édition Peter pour le projet Mutopia et fichier midi — n° 21 en si bémol majeur — n° 22 en sol mineur — n° 23 en fa majeur — n° 24 en ré mineur 1839, Ballade, en fa majeur, Op. 38 1839, Impromptu en fa dièse majeur, Op. 36 1839, Scherzo en do dièse mineur 1839-1840, Études de la Méthode des Méthodes (3 nouvelles études) : n° 1 en fa mineur — n° 2 en la bémol majeur — n° 3 en ré bémol majeur 1840, Mazurka en la mineur 1840, Valse en la bémol majeur, Op. 42 1840, Valse en mi bémol majeur 1841, Allegro de Concert, en la majeur, Op. 46 1841, Ballade, la bémol majeur, Op. 47 1841, Fantaisie, en fa mineur, Op. 49 1841, Mazurka en la mineur (Notre Temps) 1841, Nocturnes Op. 48 : n° 1, en do mineur — n° 2, en fa dièse mineur 1841, Polonaise en fa dièse mineur, Op. 44 1841, Prélude en do dièse mineur, Op. 45, 1841 1841, Tarantelle en la bémol majeur, Op. 43 1842, Impromptu en sol bémol majeur, Op. 51 1842, Mazurkas Op. 50 : n° 1 en sol majeur — n° 2 en la bémol majeur — n° 3 en do dièse mineur 1842-1844, Nocturnes Op. 55 : n° 1, en fa mineur — n° 2, en mi bémol majeur 1843, Ballade, en fa mineur, Op. 52 1843, Barcarolle, en fa dièse majeur, Op. 60 1843, Moderato en mi majeur (Feuille d'Album) 1843, Polonaise la bémol majeur, Op. 53 1843, Scherzo en mi majeur, Op. 54 1843-1844, Mazurkas Op. 56 : n° 1 en si majeur — n° 2 en do majeur, 1842 n° 3 en do mineur 1844, Berceuse, en ré bémol majeur, Op. 57 1844, Sonate en si mineur, Op. 58 1845, Mazurkas Op. 59 : n° 1 en la mineur — n° 2, la bémol majeur — n° 3 en fa dièse mineur 1846, Nocturnes Op. 62 : n° 1, en si majeur — n° 2, en mi majeur 1846, Polonaise-fantaisie en la bémol majeur, Op. 61 1846, Sonate en sol mineur, Op. 65, piano et violoncelle 1846, Mazurkas Op. 63 : n° 1 en si majeur — n° 2 en fa mineur — n° 3 en do dièse mineur 1847, Largo en mi bémol majeur 1847, Nocturne en do mineur 1847, Valse en la mineur 1847, Valses Op. 64 : Valse en ré bémol majeur op. 64, n° 1 ( Valse minute ) transcrite par Magnus Lewis-Smith d'après l'édition Peter pour le projet Mutopia fichier midi ; Autre édition — Valse en do dièse mineur op. 64 n° 2 — Valse en la bémol majeur op 64 n° 3 sd. Dumka (Romance) pour voix et piano en la mineur, (texte de Bodhan Zaleski)











Viết tại La Sérénité-Troyes, 19 giờ 45 ngày 26.02.2010

Qúy bạn đang nghe các bản Concerto N°1 của Fédéric Chopin.

© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng lần đầu ngày 14.03.2010 trên Newvietart.com .

. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.