NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
    (1909-1974 Sàigon)


Sinh năm 1909 ở Trà Bồ, tỉnh Hưng Yên (Bắc Bộ). Thuở nhỏ học ở nước ngoài. Sau đậu kỹ sư điện học.
Tác phẩm đầu tay: Sống và Yêu , Bốn biển không nhà viết về đời sống quân đội Lê dương ở Pháp, Bắc Phi, Trung đông.. Tập thơ Mình với Ta tả đời sống chiến sĩ đốilập ở Xiêm La ( Thái Lan bây giờ) Sau về nước chủ trương Khoa học tạp chí ( 1931-32) với Nguyễn Công Tiễu.
Từ 1934 đến 45 chủ trương Tiếng Trẻ, Thời Thế, Quốc Gia và tạp chí Văn Mới .
Năm 1945: chiến sĩ văn hóa kháng chiến cùng các nhà văn nhóm Hàn Thuyên: Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thái Mai , Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tuân ….
Năm 1952 về Thành Hà Nội, sau vào Huế, Saigon . Viết cho tuấn báo Đời Mới (Trần Văn Ân chủ nhiệm). Từ đấy ông ký bút danh mới: Hà Việt Phương, Hoài Đồng Vọng , Vương Thương Thương, Hoài Nam Hoài, Cung Phúc Chung vv.
Cuốn tâm bút sau cùng mà ông cho xuất bản tại Sài Gòn : Ai có qua cầu ( Hoài Đồng Vọng) ( Nxb Quan điểm loại mới Saigon 1957).
Ông qua đời vào ngày 6 tháng 6 năm 1974 ở Saigon .



Thay mặt Ban Biên Tập , xin chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép Newvietart được đăng tải toàn bộ tập biên luận Nhận Diện Vóc Dáng Nguyễn Đức Quỳnh mà nhà văn đã hiệu đính lại, tập tài liệu đã từng một thời gây sôi nổi trong và ngoài văn giới miền Nam vào những năm 55-65 .

Từ Vũ NVA



KỲ THỨ 7

Chương III
VĂN NGHỆ VÀ CHÍNH TRỊ

hay là

"TÔI CHỐNG ĐỐI LỐI NGHE BẰNG TAI VĂN NGHỆ,
LẠI SUY DIỄN THEO ÓC CHÍNH TRỊ?"



Nhớ có lần Nguyễn Hiến Lê nhờ tôi đưa tới thăm chàng, như tôi đã nói ở trên; ông Lê , nhà văn học thuấn túy không nên gặp nhà văn biên luận kiêm chính trị gia Nguyễn Đức Quỳnh- lẽ chẳng đem sự an bình nào cho ông Lê mà chỉ tạo thêm nhiều nổi phiền toái sau này mà thôi. Có thể, ông Lê cũng cảm thấy vậy, nên đôi ba lần gặp gỡ sau, ông không nhắc chuyện này nữa. Không phải không hiểu biết chính trị, ông Lê từng viết sách chung với Trình Quốc Quang, về ngữ pháp Việtnam , hoặc viết chung lịch sử thế giới với Thiên Giang , một nhà biên luận văn học nhiều chính trị tính, chẳng kém gì ông Quang , cũng thiên về chính trị không ít. Hãy cho phép tôi trích tiểu sử Nguyễn Hiến Lê từng cộng tác viết sách với hai nhà biên luận văn học, chính trị Trình Quốc Quang, Thiên Giang như thế nào?

" NGUYỄN HIẾN LÊ: (1912-1984 Long Xuyên-Nam Bộ. (tự Lộc Bình).Tác phẩm đầu tay" Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười " (Saigon 1954) . Tốt nghiệp ngành Công chính , vào Nam từ 1935, thời gian ở huyện Giá Rai (Bạc Liêu) gặp gỡ ông Trịnh Đình Huyến- bạn vong niên cũng tốt nghiệp Trường Công chính Hà Nội, được bổ vào làm việc trước tại đây, và ông Hiệp gả con gái cho Nguyễn Hiến Lê (cô Trịnh thị Liếp hay Liệp(?). Từ đấy, luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1982) đóng vai chú vợ của Nguyễn Hiến Lê. Ông viết nhiều thể loại; về tiểu thuyết:" Con đường thiên lý "(1989), dịch "Sử ký Tư Mã Thiên," về văn học: "Hương sắc trong vườn văn "(2 tập), " Cổ văn Trung quốc "(1966)," Đại cương văn học sử Trung quốc "(3 tập, Saigon 1955), về ngữ pháp viết chung với Trình Quốc Quang: "Khảo luận về ngữ pháp Việtnam "(S.1963), về lịch sử viết chung với Thiên Giang: "Lịch sử thế giới" (4 tập), về triết học: "Đại cương triết học Trung quốc "(viết chung với Giản Chi, S.1966) vv... Nhờ bộ sách này, hai soạn giả được Giải thường văn chương toàn quốc 1966 ( miền Nam), nhưng chỉ ghi nhận về phương diện tinh thần; còn hiện kim nhờ trao lại cho cơ quan từ thiện. Cuốn sách in trong năm 1975: "Mười câu chuyện văn chương "(Nxb Trí Đăng. S. 1975) ghi sách đã in rồi tới số 100. Kể từ sau 1975, hai ông Lê Ngộ Châu và Nguyễn Q. Thắng là thụ ủy đại diện in, ấn, cho phép in toàn bộ gia tài văn chương đồ sộ của học giả Nguyễn Hiến Lê. Và con số tác phẩm Nguyễn Hiến Lê hiện nay là một trăm hai mươi lăm...(trích Tổng luận 60 năm văn nghệ .../ Thế Phong).

Nhà văn Duyên Anh, tuy chưa gặp nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh một lần nào- tác giả Sài Gòn, một ngày dài nhất in ở Pháp sau 1975, đã đánh giá Nguyễn Đức Quỳnh chính trị gia, nhà lập thuyết , có khuynh hướng đệ tứ thời tiền chiến, chủ soái Đàm trường viễn kiến ở Saigon sau 1954:

"... Nguyễn đức Quỳnh, nhà lập thuyết, kiện tướng của nhóm Hàn Thuyên, đồng chí đệ tứ quốc tế của Trương Tửu. Cuộc đời bôn ba hải ngoại của ông không thua gì H.C.M. Kiến thức của ông thì H.C.M. khó mà tránh nổi. Nhưng ông ta là con người thiếu may mắn với lịch sử. Rốt cuộc tác giả Thằng Kình, Thằng Cu So, Thằng Phượng cam đành sống những ngày còn lại ở miền Nam với bút hiệu Hoài Đồng Vọng và lập Đàm trường chủ trương nền văn nghệ chủ quan viễn kiến. Những khuôn mặt văn nghệ của lớn của 20 năm văn nghệ đã ghé Đàm trường, ông có thiện ý giúp đỡ người văn nghệ trẻ tiến xa. Và ông đã cho họ mang hia bảy dặm, Thế Phong là người được ông ví như Maxime Gorki. đáng lẽ Thế Phong phải kiên nhẫn học hỏi và cố gắng sáng tạo cho bằng Gorki. Thì anh lại đem cái kỳ vọng của Nguyễn đức Quỳnh nơi anh ta làm một sự tự mãn. Anh ta công kích vung vít. Cuối cùng anh ta công kích luôn cả Nguyễn đức Quỳnh.
-Bây giờ mày thấy thương ông Quỳnh?
Thé Phong gất đầu, đôi mắt chớp nhanh:
-Tài của tao bất cập ý ông ấy. Ông Quỳnh là phù thủy cự phách mà tao chỉ là âm binh hạng tồi. tất cả bị tẩu hỏa nhập ma.
-...trừ một tên..
-... đứa nào..?
-...Lý Đại Nguyên
-...đúng đấy. Nó khá đủ mọi nghĩa, mọi mặt.
Thế Phong nằng nặc đòi trả tiền mì, tiền bia. Lúc chia tay tôi, anh ta nói một câu buồn bã:
-Tao với mày không biết thằng nào về đất trước? Vậy vĩnh biệt mày Duyên Anh.
Dứt câu, Thế Phong bước nhanh. Anh ta khuất vào đám đông....Tưởng chừng người bạn văn nghệ của tôi đi vào cõi chết, tôi nghe lòng tôi những tiếng rạn nứt hãi hùng. Đứng ngẩn ngơ cả mấy phút tôi mới lết đi..... (....)

(theo Google/ Search/ nhà văn Thế Phong)

Bây giờ bàn đến nhắc tới chính trị gia Alexis Léger và nhà thơ Pháp Saint John Perse nổi tiếng toàn cầu trên lãnh vực chính trị và văn nghệ . Saint John Perse, cảm ơn hàng hoàng tử thi ca Pháp quốc. Về điều này đây, chắc người thơ không biết rằng, nhờ một thái độ xử sụ Alexis Léger, khiến tôi giải quyết được một sự kiện mà nhiều năm nay bị lúng túng. Có gì đâu, khi S.J. Perse làm thơ ,thì phân hạn rõ ranh giới khác với chính trị gia A. Léger. Ông là một nhà ngoại giao Pháp sang Mỹ lánh nạn, khi chính phủ Vichy (Philippe Pétain) ký thỏa hiệp ngưng chiên với Hitler. Thời gian này, ông sáng tác thơ, văn, khong đăng và cho in . Cả việc hạn chế tiếp xúc với khách ; và trong địa hạt chính trị cần phải gặp, thì ông dùng tên thật Alexis Léger, và không để cho người ta lầm ông là thi nhân khi giao tiếp.
Từ khởi điểm đó, suy luận rộng ra; một nhà văn có quyền làm chính trị- như Nhất Linh hồi làm bộ trưởng ngoại giao nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa ,thì mang tên Nguyễn Tường Tam. Ở khía cạnh ấy, người văn nghệ đến với họ, đã tự đề cao cảnh giác khi trò chuyện, hoặc đối thoại bằng lời lẽ đã suy nghĩ chín chắn, bới đối thọai với người làm chính trị. Sự thức thì nên chính danh như thế, đỡ làm khổ cho người nghe cũng như người kể chuyện. cái tai hại nguy hiểm nhất, ở chỗ anh A là văn nghệ sĩ, anh B cũng là văn nghệ sĩ- anh B sau này tam gia chính trị, lại không nói rõ cho anh A biết . Lúc anh B nghe chuyện do anh A kể ( mà anh A vẫn tưởng anh B vẫn chỉ là văn nghệ sĩ ) nên không rào lời ăn, tiếng nói. Và anh B cũng nghe bằng lỗ tai văn nghệ. Anh A nói quá đà, anh B suy diễn lại; lúc này không bằng thính quan văn nghệ mà trí óc chính trị xen vào. Lại sẵn quyền uy trong tay, nhất là làm chính trị phải thủ đoạn để giữ mình an toàn, tất đa nghi, và hình như luôn đề phòng quá mức. Ấy thế là trong một phút nào đó; định đoạt số phận bạn mình bằng quyết định chính trị có lợi cho bản thân anh A. Giả thiết sau này có thủ tiêu anh A rồi- khi anh B không còn ở ngôi vị quyền uy chính trị nữa- cho là anh B có hói hận thì đã quá muộn màng. Dầu Nguyễn Đức Quỳnh hôm nay chưa thế; nhưng nay là giai đoạn chàng đang đứng trong vị thế anh B, và rất có nhiều anh A đến với chàng. Nhất là môi miệng chàng luôn luôn mạ lị thủ đoạn chính trị xảo quyệt, đề cao văn nghệ - hay do ở quan niệm Maxime Gorki cho rằng: một cuộc cách mạng thành công, một nửa thuộc về văn nghệ; mà phe mác xít cắm quyền hết sức ve vuốt văn nghệ, rồi cầm dao đâm thủng ruột văn nghệ sĩ lúc nào không hay.( bên ta cũng có bên Tàu, Xô viết , cũng chẳng phải không ; Hồ Phong (Tàu), Boris Pasternak (Xô viết) và Babel vv...
Trong một cuốn phê bình văn nghệ, tôi đã có nhận định :

"... Văn nghệ là vĩnh cửu, chính trị chỉ nhất thời. Chúng ta, nhất là giới trí thức việt dễ hiểu lầm khi bàn đến chính trị là chỉ nghĩ tới ghế chính quyền. Mà bất cứ chính quyền nào cũng ít được quần chúng hâm mộ toàn diện. Song chúng ta phải hiểu rằng, chính trị không phải chỉ nhằm nằm ghế chính quyền, mà chính trị còn là học thuyết, giáo lý. Trong cuộc cách mệnh nào mà không có đường lối chính trị, nghĩa à cơ cấu tổ chức, tiến, thoái, hành động, và cai trị, đặt co8 sở cho một trung tâm sinh hoạt tập thể rộng lớn. Như thế, cuộc cách mệnh nào cũng có đường lối rồi. Và đó là học thuyết chính trị. Và những con người phổ biến học thuyết chính trị ( chưa thành công) là cách mệnh, là chính trị gia của một chính quyền (khi thành công). Và nữa, những con người phổ biến học thuyết cách mệnh ấy bằng hình tượng là con người văn nghệ. Bất cứ cuộc cách mệnh nào cũng cần phải có người văn nghệ; nhờ ở bàn tay, khối óc sáng suốt, bén nhạy rung cảm; để biến học thuyết thành thái độ, hành động, có nhân vật hoạt động thời sắp đến như cuộc sống diễn biến thực tại. (truyện Người mẹ/ Maxime Gorki/ Xô viết) . Chẳng là học thuyết khô khan quá, khó cảm hóa con người ó tình cảm thích rung động, để hình tượng cảm hóa con người hơn là bị định đề, học thuyết nhồi nhét.

Lịch sử bất cứ một nươc nào từ đông sang tây, cách mạng thành công rồi, người văn nghệ biết thời thế, biết đạo xử thế hợp thời, hợp lý, hoàn cảnh..., phải tách khỏi cái vừa hoàn thành ( cách mạng thành công) để tìm điểm tiếp nối diễn biến của lịch sử trong mai hậu. Điểm cứ đối lập mới với cố điểm sẽ hoàn thành kia, tất nhiên cứ điểm mới phải vượt. Voltaire của nước Pháp, là cha đẻ hô hào cuộc cách mệnh chống vua chúa, phong kiến. Thi hào làm thơ, viết văn động viên tinh thần dân chúng Pháp- khiến họ chán chường chế độ đang có, mưu lật đổ, tìm chế độ mới thích hợp hơn. Maxime Gorki viết " Người Mẹ" ( bản dịch tiếng Pháp: La Mère) ở Capri, trước giờ khởi điểm cách mạng Nga, chống lại thành trì vua chúa Nga Hoàng ( Tsar). Lãnh tụ Bolchevik tùng ca tụng Maxime Gorki công thần đầu, đưa cuộc cách mệnh thành công vào năm 1917. Và khi cách mạng thành công, Maxime Gorki lại tách rời để tìm cái mới hơn. Đó là' nhân sinh phục vụ nghệ thuật". Sư khắc biệt giữa đồng đội chính trị và văn nghệ trong cuộc cách mệnh ,ở phân hạn cao, thấp, tự giác ngộ tìm cái mới hơn, đó là biết cách xử thế là căn cứ vào điểm này. Là đồng đội chính trị nhìn cuộc cách mệnh thành công là xong nhiệm vụ, nay ngồi trên ghế thể hiện đường lối cai trị. Còn đồng đội văn nghệ cách mệnh thì tìm cái mới ,dường như khác cái cũ, nhìn ra như đối lập. Người văn nghệ cho rằng hòan thành cách mệnh rồi, tức khắc phải tìm cái mới ,và cứ mãi mãi như thế. Và người đọc sẽ chẳng mấy ngạc nhiên nhìn vào hành động của Phạm Lãi, thành công rồi tự ý lìa xa mồi danh vọng, phú quý, sang giàu.
Trở lại cuộc cách mệnh của Bolchevik thành công, Lénine cho là hoàn thành còn Gorki thì chưa, chỉ mới trả xong một đợt hoàn tất; cần phải tạo thêm đợt mới đi xa hơn. Quan niệm
" cuộc cách mệnh thường trực" từ Lev Davidovitch đề xướng phù hợp với Gorki hơn đối với Vladimir Ilitch Oulianov. Đã là một nhà văn như Gorki từng theo cách mệnh lúc chưa thành công thì kết hợp chặt chẽ; thành công rồi thì tự rời bỏ hoặc được coi một cách chống đối. Bởi họ quan niệm cuộc cách mệnh phải luôn mang ý nghĩa thường trực, tìm cái mới mà không dừng lại. Điểm gạch nối ấy là đà diễn tiến của sự tiến bộ không ngưng nghỉ. Và đồng đội chính trị trên ghế cai trị phải hiểu ; nên có thể nghĩ vậy , lãnh tụ Bolchevik V.I.Oulianov đã gửi khéo Gorki ra ngoại quốc di dưỡng tinh thần, vì lãnh tụ cảm thấy văn hào đã mệt mỏi, cần bồi bổ dưỡng sức bên bờ biển xanh nước Ý ( Italy)..." ( trích "Tổng luận 60 năm văn nghệ ..."/ Thế Phong).

Tôi dứt khoát khi nghĩ về vai trò một nhà văn chính trị, hoặc hướng về mục phiêu chính trị- điều ấy chứng tỏ nhà văn biết dung hợp hòa nhịp tiến bộ giữa văn nghệ và chính trị. Điều quan trọng với nhà văn làm chính trị là hướng về đường lối chính trị nào?
Tôi không hề chê trách Phạm Quỳnh làm chính trị, nhưng khinh tính cách phục vụ chính trị ,dùng phương tiện văn hóa phục vụ thực dân Pháp. Ông ta khác hẳn với Pétrus Ký. Giữa xã hội này không thể mang ảo tưởng lừa dối bản thân, bè bạn- rằng mình không tham gia chính trị, chỉ làm văn hóa thuần túy là đắc sách nhất, thoát vòng kiềm tỏa guồng máy chính trị nhất thời. Khi một nhà văn bày tỏ , anh ta không tham gia chính trị, thì ta phải hiểu anh ta đã theo một đường lối chính trị khác mà giấu không cho biết nguồn gốc mà thôi.
Riêng Nguyễn Đức Quỳnh, tôi không dám chắc kết luận đường lối hướng về đâu; nếu có, thì không gì chính xác hơn - qua ngôn ngữ mà lý thuyết gia mác xít Pháp, Henri Lefèbvre kết luận về văn-sĩ-triết-gia tài danh Jean-Paul Sartre:
"...đối với chính trị gia chuyên nghiệp; thì Jean-Paul Sartre chỉ là một nhà-văn-chính-trị-gia; và đối với nhà văn thì Jean-Paul Sartre là chính trị gia văn sĩ ".
Với ông Quỳnh cũng không khác hơn đâu!.
(theo Benjamin Goriély/ La Révolte des Ecrivains d'Aujourd'hui, Paris 1957) .

Tôi không muốn nói rằng chàng đang lúng túng giữa con đường làm văn nghệ và tham gia chính trị- nhưng ngoài sự bấn loạn kia thì nay chàng chưa thể dứt khoát nên theo con đường nào. Và nhiều lần, tôi đã minh chứng bằng thái độ, lời nói, bài viết về văn nghiệp chàng- thì sự bày tỏ kia không mấy tác dụng với chàng.

Năm 1957, nhận xét về chàng qua đoạn văn dưới đây đã viết trong " Tổng luận 60 năm văn nghệ Việtnam":

"... Nguyễn Đức Quỳnh chưa nắm được kỹ làm thế nào để bạn đọc theo dõi mình hoặc biết đối tượng đọc giả nào mà tác giả viết hướng tới họ. Một khi nhà văn đã nắm được kỹ năng viết tự sự kể luận đề, thì mới nên hạ bút viết tự truyện. Văn tư tưởng hoặc tự sự luận đề cũng như thơ triết học vậy; viết rất dễ thành công với tác giả này lại khó khăn đạt kết quả với tác giả khác. Lấy thí dụ Friedrich Nietzsche chẳng hạn, ông ta viết thơ triết học thật dễ dàng, dễ cảm đông người đọc thơ ông; hoặc viết tự sự luận đề Ecce Homo , nói huỵch toẹt, tại sao ông ta khôn ngoan, giỏi giang, viết sách hay vv.. mà không làm người đọc ở thế hệ ông cho là huênh hoang, thừa nhận tác giả có một giá trị cao siêu đích thực. ( Charles Andler, Daniel Halévy vv...) ( tất nhiên có một số không ưa thì đả kích ra mặt ...Julien Benda chẳng hạn vv..(*.,) Một nhà văn bình thường không thể là tác giả văn phẩm có giá trị tư tưởng hoặc tự sự kể luận đề độc đáo được. Cái vướng của Nguyễn Đức Quỳnh là ông chưa có phân hạn về tư tưởng chính trị thực hành, và nhận phận một văn sĩ chuyên nghiệp. Chẳng hạn Virgil Constant Gheorghiu viết Lữ hành đơn độc ( bản tiếng pháp: L'Homme qui voyagea seul) , cho người đọc nhìn rõ nét hành động quá vãng, hiện tại, tương lai của nhân vật. Còn truyện tự sự của Nguyễn Đức Quỳnh mới chỉ trình bày nhân vật như một cách chào hàng, không giới thiệu rõ nét thái độ, cảm nghĩ, hành động vui, buồn lo lắng của một nhân vật thực ở ngoài đời- cách viết tiểu thuyết-nghiên cứu - (roman en spéculation). hoặc nói khác đi, truyện luận đề tư tưởng của Nguyễn Đức Quỳnh mới chỉ là tả cảnh tư tưởng, hành động, cảm nghĩ, lối sống, một thứ nhân vật tiểu thuyết có thật ngoài đời mà thiếu xương sống trong văn chương . Một chính trị gia làm văn chương coi nghề viết văn dĩ văn tải đạo, nghệ thuật non kém thì chỉ viết ra được điều giấu xấu khoe tốt, vậy không thể là tiểu thuyết gia tài năng được! Nói vậy, không có nghĩa làm nhà văn là sao lãng hiểu biết chính trị ,mà chỉ dùng sự hiểu biết kia , để soi sáng tác phẩm văn chương mà thôi...
-----
" xem thêm
ở Nietszche và chủ nghĩa đi lên con người / Thế Phong (Đại Nam văn hiến, Saigon 1960, tái bản 1965, 1967).
----

Cuộc sống nhà văn làm bối cảnh thiết yếu cho tác phẩm, dầu không là tự sự luận đề đi nữa. Không thể sống một cách nông cạn, hẹp hòi, thiếu chân thật, ngay thẳng lại có thể tạo được nhân vật truyện có tư tưởng cao thượng, một mythe riêng biệt, bản sắc độc đáo trong tác phẩm anh ta được. Một điều băn khoăn cho đến giờ này còn nhớ rõ; đọc văn chương Nguyễn Đức Quỳnh, tôi chưa hề bị tình cảm xúc động hoàn toàn lôi cuốn, dầu trang văn chương kia ẩn nấp ý hướng cải tạo xã hội, làm mới cuộc đời. Ở mọi khía cạnh, kể cả đọc trang văn tả tình yêu của chàng, tôi chưa thề nổi gai ốc khi đọc đoạn văn nào cảm xúc thật sự ở nơi các nhà văn nổi danh khác. Lắm khi tôi lo ngại cho việc bị chai lì ,khi thụ hưởng thú đọc sách bản thân, hoặc giác quan đã bị tê liệt, tôi lại đọc lại lần thứ hai, ba- thì may mắn thay tôi lấy lại được cảm quan đọc sách hay của tác giả khác. Chẳng hạn đọc ba tập Ma vie của Léon Trotski ( qua bản dịch pháp văn Victor Serge) , tác phẩm tự sự kể của chính trị gia văn sĩ này tuyệt hay, xúc động mãnh liệt, giúp ích kinh nghiệm đời sống chính trị cho người đọc. Hoặc một tự sự kể riêng tư , rất máy móc, đầy thủ đoạn siêu đẳng của Machiavel, hay Mein Kamp (Cuộc chiến đấu của tôi) của Adolf Hitler sôi bỏng không chỉ đời sống chính trị , cả đến đời sống riêng bản thân. Mà đôi khi cũng chẳng cần nhiều đến thế, chỉ cần một lời tuyên bố trong sách Le Monde d'hier (tạm dịch: Thế giới hôm qua ) của Stefan Zweig tuyên bố một câu rất độc địa về nhà độc tài Hitler (lúc này lãnh tụ đang làm rung chuyển hoàn vũ từng giây phút) chỉ bằng vài dòng : "....Dầu Hitler vậy, nhưng với tôi ông ta giá trị chẳng đáng kí lô nào hết". Thật khôi hài, có phải vậy không? ban đầu tôi lầm tưởng lời tuyên bố kia như của thằng hề; lấy trứng chọi đá. Sau này đọc "Thế giới hôm qua " của ông, sự phản kháng kia thực sự to lớn, chỉ vì chống Hitler xâm lăng nước Áo, vợ chồng nhà văn bỏ xứ chống nhà độc tài, cuối cùng hai người đều tự tử ở Nam Mỹ.

Tôi còn thấy trong văn chương chàng lãnh trụ Hàn Thuyên điều này nữa, thiếu hào hứng sự sống chân thật, thiếu một lối sống nhân bản bằng xương, thịt, rung cảm một con người có thực- kể cả biên luận, tự sự luận đề tiểu thuyết Làm lại cuộc đời mới viết sau này đăng trên Đời Mới (chủ nhiệm: Trần Văn Ân). Tôi nghiệm lại, chưa hề xúc động trước những câu được cho là xúc động, kể cả tả các pha tình ái- nên tôi tin con người sống bằng trí óc chính trị máy móc thì luôn luôn bị gò bó phát triển giác quan tình cảm; cho nên cả khía cạnh tình cảm gợi mở gần gũi thông cảm nhất của con người- chàng văn sĩ lãnh tụ Đàm trường viễn kiến ghìm lại, thành ra mọi băn khoăn của chàng- thì ở phía chàng,; sống thật khôn ngoan, mà trang văn chương lại khờ dại, máy móc quá đáng. Một nhà văn cần thiết trung thực, mà điều này cần phải có nhiều lần trong ngày, trong tháng, trong năm, cả trong đời nghiệp văn chương, nhưng với chàng lại hoàn toàn biếm diện.

Có một lần chàng bảo tôi, lần ấy tôi dự định xuất ngoại, thất bại vì thiếu tiền nong. Chàng tâm sự rất chân tình:

- Cậu phải xuất ngoại; nếu kéo dài cuộc sống như thế này, mai sau cậu chỉ có thể đạt được như anh Nh.L. hay tôi là cùng .

Tôi vẫn chưa cảm thấy lời khuyên kia đáng tỉa tách ra suy ngẫm, nó vẫn thuộc vào loại chưa mấy chân tình và lối ngợi ca chung chung của chàng với lớp trẻ. Chẳng hạn có lần chàng nói: .." rồi ra cậu sẽ trở thành B. P. Xô Viết , tôi nói thật đấy!".

Riêng tôi, người được chàng ngợi khen, tôi vẫn chẳng cảm thấy vui vẻ gì, vì đã từng trui rèn kinh nghiệm đời sống bên cạnh đàn anh ngoài Khu- tôi cảm được lời nói nào chân tình hay không, nhiều hoặc ít, kèm theo lời khuyên kia ẩn nấp tính toán ? Nhất là ở giây phút sống, chết mỏng tựa sợi tơ đang giăng lên đầu bậc đàn anh xuất chúng; thì tôi vẫn còn nhìn thấy bối rối, lo âu của họ; sự thèm sống, sở hãi, tầm thường con người chỉ lúc này mới tỏ lộ.

Câu chuyện một bác sĩ bị cầm tù thời Pháp vào những năm 1946-47 nằm trong lao chung với mọi tù nhân đủ các giới. Một buổi ông ta thèm cà phê đến nhõ dãi , khi hít được hương vị cà phê ngào ngạt đâu đây. Chẳng là một tốp tù binh làm coọc- vê (corvée) ở nhà một phu nhân đại úy Pháp, tư thất có một tên lính da đen gác cửa. Anh lính da đen đưa cà phê và mẩu bánh mì cho một thanh niên tù binh, theo lệnh bà đại úy. Bỗng bà đại úy ra lệnh cho thanh niên kia lên gặp, anh ta để ly cà phê lại. Xong việc, anh lính da đen bảo thanh niên hãy uống cà phê và ăn bánh mì đi. Anh đi tìm cà phê, bắt gặp một bạn tù nhân ( bác sĩ) đang lấy tay chùi miệng trước ly cà phê cạn sạch. Thấy vậy anh lính da đen cầm báng súng vụt tới tấp vào lưng bác sĩ tù nhân. Tù nhân thanh niên vội ôm bác sĩ tù nhân và o lòng che chắn, và bảo với lính da đen rằng đã cho anh ta ăn . Anh lính da đen vẫn không chịu tin, dủ văn hóa có thấp kém, thì vẫn cho việc kia là phi lý.

Tôi nhấn mạnh, muốn biết sự phi thường một người, không sao tìm được bằng chứng lúc bình thường. Phải chờ cơ hội nguy hiểm xảy ra mới biết rõ nhân sự. Rất tiếc , là chàng lãnh tụ Đàm trường viễn kiến sống nhiều năm ở đô hội, từng trải qua bao hiểm nghèo như chàng thường lo ngại, nạn ô tô cán kẹp khi ra đường không ai dự đoán nổi; vậy thì đời sống an nhàn kia của chàng chẳng thể cho tôi nhìn rõ diện mạo rồi. Có một điều, sự khôn ngoan, thông minh siêu đẳng càng tuyệt kỹ chừng nào, thì chưa làm xúc động nhân tính, chưa tạo được cái gọi là nhân bản thực sự giao tiếp với nhau. Thì đó là một điều, tôi nhìn thấy hướng đi tới của chàng , một khi chàng càng nhoai vượt lên bao nhiêu dường như càng sa lầy bấy nhiêu. Cảnh tượng ai đã vượt đầm lầy Vàm Cỏ Đông một lần ,rồi mới cảm thấy được bước chân bước mạnh bao nhiêu ,thì càng khó rút chân lên mặt đất bấy nhiêu. Và càng nhẹ bước lại càng hữu hiệu hơn nhiều. Vậy là bước chân nhẹ vượt đầm lầy gần gũi với việc làm văn chương - lấy sự chân thành, sự khoan thai , ung dung tự tại nhẹ nhàng giẵm lên , tất sẽ hằn dấu chân văn chương tất đạt kết quả tốt đẹp hơn là gồng lên mà chẳng đạt được gì?

Chàng thường ca tụng ý nghĩa dưới đây trong đời sống:

"... đôi khi chúng ta coi nhau như bạn thân sinh tử , thì dầu biết bạn mình lầm lạc có thể làm thiệt hại bản thân mình hoặc lời khuyên của mình không tác dụng- đôi khi mình phải chết theo sự lầm lạc của bạn."

Lạy Chúa! tuy nói thế nhiều lần, giả thiết nếu bị thiệt chỉ tới cái lông chân thôi, thì chàng cũng tính toán kỹ lắm. Tôi bảo một người bạn tự cho bị mắc lừa chàng như thế này; chính chàng đã cứu mạng bạn kia, vì quá tin chàng; thà biết nhau rõ như thế để đỡ phải coi nhau thân thiết như sinh tử; rồi ra bị mất xác vì một hành động cao cả ,mà thực ra lại xuẩn động vô cùng. Và chết có hai cách giản dị; như nhà cách mạng Tôn Dật Tiên nói; một dành cho tổ quốc, hai cho đàn bà. Phải thế nào , người ta mới trở về với ý nghĩa giản dị nhất; nhưng mất bao nhiêu cái rắc rối nhất, cao thượng nhất, rồi sau mới đạt được.

Trong một lần trả lời phỏng vấn văn chương vào năm 1948 (báo Nouvelles littéraires ) , Ernest Hemingway cho biết: ông thích làm việc vào buổi sáng khi bầu trới mát mẻ; ít khách lui tới. Và khi viết xong vào buổi trưa, có nghĩa bài viết đã được làm đầy . Rồi ,so sánh cách viết văn như làm ái tình, lúc xong là lúc tự làm đầy. Mới nghe thôi, đối với tay mới viết văn , hẳn cho là tục tĩu không chừng . Và chỉ khi nào người ta lên cao ,thì mới biết rằng sự giản dị đã trải qua, phải trải qua thế nào rồi, người ta mới trở về cái không thích rườm rà. Có lẽ chính xác đấy!

Trong lớp cầm bút trạc tuổi trạc 30, tôi đến gần chàng như trước đây ba năm, tôi viết thư riêng gửi chàng, cũng bởi một lẽ rất giản dị này:

"... Tôi không còn thấy sự gần anh, dầu để học hỏi, là cần thiết nữa. Mỗi nhà văn, tư tưởng gia; nếu phải chịu ảnh hưởng một tầm suy tưởng nào đó để lấy đà tiến , tư tạo cho mỉnh một bản sắc (nếu cần thiết) , thì điều này chắc anh không lạ. Rất có thể,anh đã đi qua, hoặc có thể chưa. Thưa anh, thi-triết-gia Nietzsche quý mến Richard Wagner ban đầu thể nào , rồi sau cũng phải lìa xa; vì mỗi con người, một khi tư tưởng đã khác , thì không thể gần nhau được nữa. Một học giả( Nguyễn Hiến Lê ) mà có lần ông ta định xin đến thăm anh, và một lần anh định đến thăm ông ta ( anh còn nhớ chứ, tôi khuyên anh không vội; vi lẽ học giả ấy nghĩ văn học cách thuần triết, không dám tin cậy vào óc chính trị lại có tâm hồn văn nghệ của anh ) vừa mới đây thôi, hỏi anh sẽ thế nào? Tôi trả lời thẳng : Il est foutu" (Anh ta đã hỏng). Anh giận thì tôi xin nhận. Vì tôi đã lên đường một đoạn xa, nhìn lại;nên có nhận xét ấy. Có thể là anh chỉ hỏng với tôi thôi- kẻ thiện tâm lại quá khích mà tôi cũng mong là tôi nhầm. Ba mươi tuổi đầu, nếu nhầm còn thời gian sửa đổi kịp thời; nhưng anh 50 mà nhầm, thì khó còn đủ thời gian chỉnh bị. Nhất là tư tưởng, có ai uốn nắn được ai, sau tuổi lên 10?
Đôi khi, anh cho phép tôi đi ngang qua nhà , nếu không thể vào thăm anh. Tôi rất buồn phải nói điều này. Khi nhìn ngôi nhà anh, tôi bây giờ không còn thích thú như xưa. Chẳng phải anh thay đổi. nhưng tôi thay đổi. Đúng là tôi thay đổi thật. Ngôi nhà tuy cổ kính, đã được kiến trúc theo lối mới đi nữa, nhưng mới ở thời tiền chiến. Tôi đã đến đấy học hỏi và nghiền ngẫm tư tưởng thu hoạch- thì sự thăm cảnh xưa, không dành cho anh mà cho tôi. Một đợt nhớ từ khía cạnh nào đó , một giòng tư tưởng xoáy tròn của một thời gian cũ.
Anh ơi ! Tôi vẫn chê tôi, vì sao không còn cảm nghĩ như ban đầu !..."


Saigon, đầu năm một chín sáu hai.
Đọc lại có hiệu đính.


...Kỳ sau tiếp: VĂN NGHỆ & CHÍNH TRỊ, HAY LÀ...










________________________________________________

ĐỌC LẠI TRANG NHẬN DIỆN VÓC DÁNG NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH TRƯỚC
© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản tu chỉnh lại của tác giả gởi Newvietart.com ngày 29.01.2010.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com

. TÁC PHẨM NHẬN DIỆN VÓC DÁNG NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG
CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.