MINH TRIẾT
TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
CỦA THĂNG LONG - HÀ NỘI











Ngày 24-11-2009 vừa qua, tại Thành phố Huế, Trung tâm nghiên cứu Văn hóa minh triết Việt tổ chức Hội thảo “Tìm hiểu giá trị Minh triết Việt”.
Newvietart.com xin giới thiệu với độc giả bài tham luận của Nhà văn Mai Thục tại cuộc Hội thảo này.

Từ Vũ
NVA

I. Đặt vấn đề:

Người ta cho rằng thế giới chỉ có ba mươi tư nền văn hóa khác nhau rõ rệt. Trong đó văn hóa Việt Nam là một. Nổi bật có văn hóa Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Ấn Độ, Việt Nam…

Bản sắc văn hóa Việt Nam là gì?

Chúng tôi đồng tình với cố giáo sư Trần Quốc Vượng, văn hóa Việt Nam khác văn hóa Trung Quốc từ trong cội nguồn của nó.
Thiên nhiên là điểm xuất phát của văn hóa. Văn hóa là sự thích nghi và biến đổi thiên nhiên, là sự trả lời của con người trước thách đố của tự nhiên. Thiên nhiên đa dạng, bản chất văn hóa cũng đa dạng, gắn với lịch sử của cộng đồng. Văn hóa Việt Nam là cái hằng ngày- là cuộc sống của cộng đồng Việt, gắn chặt với thiên nhiên (địa lý, khí hậu) và lịch sử riêng biệt của Việt Nam.

Thăng Long- Hà Nội là miền đất cổ, là Kinh kỳ- Kẻ Chợ. Trải nghìn năm, Thăng Long- Hà Nội đã tiếp thu mọi tài hoa của các miền đất Việt, xây nên một vùng văn hóa nghìn năm văn vật. Bởi vậy, chúng ta nghiên cứu văn hóa Thăng Long- Hà Nội trong tiến trình văn hóa Việt Nam. Điều này có nghĩa là cái văn minh thanh lịch- Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội trong cuộc sống hằng ngày cũng chính là sắc thái văn hóa Việt Nam.

Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội là sức sống, sự trả giá, là kinh nghiệm, sức sáng tạo không ngưng nghỉ của nhiều kiếp con người đã sinh sống trên mảnh đất này, kết thành hình chóp nón. Đỉnh chóp của Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội được lý luận một cách mạch lạc- chính là Minh triết.

II. Đi tìm Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội:

Dân gian truyền tụng ở Bắc kỳ, Tinh hoa chỉ có ở Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh (Kinh Bắc) và Sơn Tây (xứ Đoài). Bởi yêu mảnh đất Hà Thành mà mình có cơ may được sinh sống, chúng tôi đã đi tìm Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội trong đời sống hằng ngày của Người Hà Nội. Tác phẩm Tinh hoa Hà Nội (Mai Thục- NXB Văn hóa Thông Tin 2006- in lần thứ 4) dày hơn bảy trăm trang, được đưa vào dạy môn Văn hóa Hà Nội- Đại học Thăng Long, từ niên khóa 2003-2004 đến nay, do chính tác giả- nhà văn Mai Thục giảng dạy, là kết quả mười lăm năm đãi cát tìm vàng.

Từ những Tinh hoa chắt lọc được trong đời thường Hà Nội, chúng tôi đã nâng thành lý luận- xác định 9 giá trị của Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội (Số 9 là Cửu Lạc. Con số 9 của dân Lạc Việt).

Cơ sở của 9 giá trị này này là cội nguồn Tinh hoa văn hóa Thăng- Long- Hà Nội. Nó là một dòng chảy xuyên suốt nghìn năm, tạo ra vẻ hào hoa, linh thiêng của cuộc sống nơi “đất Thánh”, “Địa linh nhân kiệt”, “Long Thành tài tử giai nhân” mà không nơi nào có được.

9 giá trị Tinh hoa văn hóa ThăngLong- Hà Nội:

1- Nền văn hiến nghìn năm với bề dày lịch sử và di tích.

2- Triết lý nhân sinh Phật giáo Lý- Trần.

3- Văn học Thăng Long- Hà Nội (huyền thoại, cổ tích, truyện dân gian, thơ, ca dao, tục ngữ, câu đối, chữ Hán, chữ Nôm, Quốc ngữ, Tiếng Việt, Truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký…)

4- Nghệ thuật (ca múa, nhạc, họa, trò chơi, trò diễn, biểu diễn dân gian, trồng hoa cây cảnh, nghệ thuật ẩm thực, trang phục, thú ăn chơi…).

5- Lễ thức phong tục, hội hè…

6- Kiến trúc, điêu khắc.

7- Nghề thủ công mỹ nghệ.

8- Danh nhân văn hóa.

9- Văn hóa tâm linh.

9 giá trị trên đã sản sinh ra hình tượng “Người Hà Nội tài hoa thanh lịch” với nhân cách khoan dung, hòa hợp, chung sống thuận chiều với xã hội, thiên nhiên (Thiên- Địa- Nhân hợp nhất), biết tu tâm theo Thiền Trúc Lâm Yên Tử (im lặng mà suy nghĩ, xoay lại tìm mình, giảm tham, sân, si) thương mình, thương người, hướng tới chân, thiện, mỹ; yêu nước, không chịu nô lệ, không đề cao bạo lực, sống có ích cho gia đình và nòi giống; khéo tay nghề, đất lề Kẻ Chợ, có chiều sâu văn hóa tâm linh, hiếu học, biết rèn luyện thân, tâm, trí theo triết học phương Đông; sáng tạo văn hóa, nghệ thuật ẩm thực, vui chơi, giải trí tao nhã, giao tiếp ứng xử lịch lãm…

Tuy nhiên, hiện nay, người và đất Hà Nội đang mở rộng, xáo trộn tứ bề trong vòng xoáy chóng mặt của đô thị hóa và đồng tiền hội nhập, khó tìm thấy hình ảnh “Người Hà Nội tài hoa thanh lịch” trên cái bề mặt ồn ã, xô bồ, ầm ĩ, mà phải tìm trong tầng sâu cuộc sống hằng ngày.

Du khách năm châu, bốn bể tới Hà Nội, họ phải dày công đi tìm Hà Nội linh thiêng qua những ngôi chùa cổ, những di tích nghìn xưa. Họ đi tìm Hà Nội cổ với “Băm sáu phố phường”; Hà Nội phố Phái gió xiêu nghiêng những năm đánh Mỹ; Hà Nội khu phố Pháp; Hà Nội làng cổ ven đô; Hà Nội làng nghề truyền thống. Họ đi tìm cuộc sống Hà Nội ngày thường với những phong tục, hội hè, những cách nói năng, ăn uống, vui chơi, làm ăn, buôn bán, giao thương, với tình yêu và trí tuệ nghìn đời truyền lại…

III. Tìm Minh triết từ Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội:

Minh triết là gì?

Chúng tôi tán thành với giáo sư Hoàng Ngọc Hiến định nghĩa Minh triết Việt một cách ít lời mà dễ hiểu: “Minh triết là biết làm thế nào để sống hẳn hoi” .

“Hẳn hoi” trong từ điển Tiếng Việt: “Có được đầy đủ các yêu cầu, đúng tiêu chuẩn như thường đòi hỏi. “Có việc làm hẳn hoi. Có giấy tờ hẳn hoi. Sống hẳn hoi.” (Từ Điển Tiếng Việt- NXB Khoa học xã hội- Trung tâm từ điển học Hà Nội- Việt Nam- 1995- trang 411)

Con người sinh ra thì dễ. Nhưng làm thế nào để sống hẳn hoi thì vô cùng khó. Người Thăng Long- Kẻ Chợ đã ý thức rõ ràng về sự “sống hẳn hoi” với triết lý Trời- Đất- Người hòa hợp:

“Đất Ngọc Hà tốt tươi phong cảnh
Gái Ngọc Hà vừa đảm vừa xinh”
“Núi cao sông hãy còn dài
Thương nhau đã dễ bằng ngày gặp nhau”…

Dân Kinh kỳ- Kẻ Chợ nghìn năm qua sinh sống trên mảnh đất này đã không ngừng chăm sóc và nâng niu cuộc sống của mình sao cho được “hẳn hoi” . Nó nở hoa, kết trái thành 9 giá trị Tinh hoa văn hóa Thăng Long Hà Nội. Minh triết của Tinh hoa ấy có thể “tóm gọn” thành năm chữ “Học”:

Học ăn. Học nói. Học gói. Học mở. Học thở.

Để sống được “hẳn hoi” , người Thăng Long- Hà Nội phải Học đủ năm chữ ấy suốt cuộc đời. Năm chữ “Học” với vô vàn tri thức để sống làm người “hẳn hoi” - ẩn chứa trong kho báu Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội, mà trường học của nó vô cùng rộng lớn, mở vô biên, từ trong gia đình đến ngõ, phố, xóm, làng, chợ, đường, chùa, miếu, đình… đến tận đáy sâu “đống rác cuộc đời”. Mọi người Học lẫn nhau thông qua giao tiếp, ứng xử, lao động, bán buôn, sinh đẻ, nuôi con, chữa bệnh, trồng cấy, bắt tôm cá, nấu ăn, chơi vui, hội hè, ca nhạc, đình đám… Học không giới hạn. Học kẻ thành công. Học người thất bại. Già Học trẻ. Trẻ Học già. Cha Học con, chồng Học vợ. Kẻ sĩ Học người ăn mày. Người giàu Học người nghèo …

Song chỉ những ai trọng đạo làm người, muốn sống hẳn hoi , thì mới tiếp cận được “sự Học” năm chữ ấy.

Cách Học của người Thăng Long- Hà Nội phong phú, biến ảo như trên là Minh triết.

Nội dung của năm chữ Học phân tích dưới đây cũng là Minh triết.

1. Học ăn:

Muốn sống hẳn hoi , trước nhất phải Học ăn.

Ca dao, tục ngữ Thăng Long:

“Cơm ba bát, áo ba manh, đói chẳng xanh, rét chẳng chết”
“ Người sống về cơm, cá sống về nước”
“Cơm không rau như đau không thuốc”
“Thịt cá hương hoa, tương cà gia bản”
“Nhai kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa”…

Từ phạm trù “Học ăn” dẫn đến muôn vàn sắc thái sống của con người, liên quan đến đức hạnh và trí khôn như: ăn ngon, ăn mặc, làm ăn, ăn ngủ, ăn chơi, ăn uống, ăn nằm, ăn mày, ăn xin, món ăn- bài thuốc, ăn chay, ăn chữa bệnh, ăn giảm béo, ăn để bớt tham ác, nóng giận, ăn ở, ăn học, ăn cướp, ăn trộm, ăn sẵn, ăn hại, ăn tham, ăn bổng lộc, ăn tiền, ăn đút lót, ăn bẩn … Những ai muốn “sống hẳn hoi” thì “Ăn để mà sống” chứ không phải “Sống để mà ăn”. “Miếng ăn là miếng nhục”…

Học ăn” tiến tới Học sản xuất, lao động, cấy trồng, nấu nướng… làm ra những món ăn ngon, thơm bổ, phục vụ chữ “ăn” :

“Rau thơm rau húng rau mùi,
Thì là cải cúc, đủ mùi hành hoa
Mồng tơi, mướp đắng, ớt cà
Bí đao, đậu ván, vốn nhà trồng nên…”
“ Đất thiếu trồng dừa, đất thừa trồng cau”
“Khoai lang đất cát đã ngon lại bùi”
“ Bún Phú Đô, cá rô đầm Sét”…

Ăn ngon cho mình, người Thăng Long- Kẻ Chợ còn biết làm ra nhiều thứ ngon tuyệt mỹ để tiến vua:

“Thái Đô làm kẹo mạch nha
Kẻ Vòng làm cốm để mà tiến vua”

Người Thăng Long sống cùng Trời- Đất Thăng Long, biết ăn ngon, mặc đẹp và di truyền sang con cháu. Thiên nhiên, khí hậu, cánh đồng lúa nước nơi này đã sinh ra cái sự ăn độc đáo ấy. Cái sự ăn trở thành di truyền, thành tư tưởng, thành văn hóa, đạo lý nguyên sinh của người Thăng Long- Hà Nội- Việt Nam, truyền vạn kiếp:

“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà giầm tương”

Bởi lẽ ấy mà tôi hay đùa với sinh viên: “Văn hóa là cái dạ dày. Văn hóa sinh ra từ cái dạ dày”. Văn hóa Việt là văn hóa ăn cơm gạo tám thơm với giò thơm mùi nước mắm, thịt nạc, mùi lá chuối quê, mà người Việt dù có đi cùng trời cuối đất- đi khắp nẻo hành tinh, cũng không thể quên “Cơm tám với giò” . Nỗi nhớ “Cơm tám với giò” luôn thao thức gọi người con Việt xa xứ trở về quê hương đất Việt. “Cơm tám với giò” là đỉnh cao của nền văn minh lúa nước. Nó nhắc người Việt muôn đời không được phá cánh đồng lúa nước thơm hạt mùa vàng, cội nguồn nuôi dưỡng con người Việt. Mất cánh đồng lúa nước người Việt sẽ mất sinh lực sống, mất năng lượng Đất- Trời.

Để có “Cơm tám với giò” người Thăng Long- Hà Nội- Việt Nam nghìn đời nay đã phải chiến đấu, đổ máu xương giữ từng tấc đất, giữ cánh đồng lúa nước, dòng sông, bến chợ, con đò… Và đời này sang kiếp nọ, phải “Đổ mồ hôi, sôi nước mắt” để làm ra “Cơm tám với giò” :

“Muốn ăn cơm tám với giò
Ra đây mà đẩy xe bò với anh”.

Cách ăn của Người Hà Nội đã trở thành Nghệ thuật ẩm thực sánh cùng nhân loại. Nó hội tụ tất cả hương thơm, vị đắng, ngọt bùi, chua cay, mặn chát, hình dạng, màu sắc, sản phẩm của Đất- Trời- Người vùng lúa nước ban tặng. Cách ăn mang tính bình dân, lại có tính cung đình. Nó rất sành điệu và kén chọn “Quí hồ tinh, bất quí hồ đa”, thanh cảnh, ngon, bổ, chế biến tinh vi với nghệ thuật cao. Cách ăn còn theo mùa, nóng lạnh, thời tiết, nắng mưa, trưa tối, sáng chiều. Sáng ăn Bánh cuốn Thanh Trì, xôi lúa Hoàng Mai, tối ăn Lục tào xá, đêm ăn lạp xường lồ mái phàn, trưa ăn bún chả, bún đậu…

Cách ăn của Người Hà Nội mang ý nghĩa Triết học Đông phương. Âm- Dương hài hòa. Ngũ Hành tương sinh tương khắc. Món ăn lạnh phải có gia vị làm tăng nóng ấm. Các loại cua cá, thịt phải có gia vị thích hợp ăn kèm. Món trứng vịt lộn phải có gừng, rau dăm để cân bằng, thịt gà phải có lá chanh, thịt lợn có hành. Những món ăn gây phản ứng tương khắc không thể ăn cùng, dẫn đến chết người…

Cách ăn minh triết như trên của Người Hà Nội đã trở thành Tinh hoa văn hóa ẩm thực Hà thành. Tinh hoa ấy mở rộng không gian, theo dòng lịch sử, có thể chia làm ba loại món ăn trên phố phường Hà Nội hôm nay:

1. Món ăn đồng quê: Gồm các món ăn truyền thống Thăng Long- Hà Nội- Việt Nam: Bún ốc, bún riêu, phở, bún thang, bánh cuốn, bánh giò…

2. Món ăn Tàu: Xuất hiện ở Thăng Long rất sớm. Khi người Trung Hoa sinh sống ở các phố: Hàng Buồm, Tạ Hiện, Mã Mây… với lợn quay Hàng Buồm, vịt quay Bắc Kinh, bánh bao nhân thịt…

3. Món ăn Pháp: Xuất hiện khi người Pháp chiếm Thành Hà Nội. Hương Café thơm ngạt ngào phố cổ, các nhà hàng bánh ga- tô, kem Tràng Tiền, bánh mỳ, gà rán, bơ sữa, ca- cao…

Cách ăn minh triết, kém cách uống thanh tao. Ngày Tết, các gia đình Hà Nội không thể thiếu trà sen, thơm nắng gió Tây Hồ. Rượu ngon Hà Nội được sao Khuê Nguyễn Trãi nâng thành thơ ca: rượu sen, rượu cúc, rượu mơ… sản vật của đất Thượng Kinh.

Cái sự “Học ăn” của người Thăng Long- Hà Nội mênh mông Trời- Đất, chúng ta có cơ may được sống đến ba trăm năm cũng không thể Học hết được.

Một lần nữa, chúng tôi khẳng địnhTinh hoa Văn hóa Thăng Long Hà Nội- chẳng kênh kiệu xa xôi, cứ nhìn vào cách ăn, cách uống hằng ngày thì nhận ra con người Hà Nội thanh lịch, hào hoa, khôn ngoan, minh triết.

2. Học nói:

“Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời”
“Lời nói, gói vàng”
“Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”
“Lời nói, đọi máu”
“Người thanh tiếng nói cũng thanh” …

Sự “Học nói” liên quan đến toàn bộ thế giới tâm tình, tư tưởng, giao tiếp, ứng xử, năng lượng bên trong… của con nguời. Học nói là một phạm trù mở, không khép trong khuôn sách vở, nhà trường. Người Thăng Long- Hà Nội sống trong không gian giao tế rộng, làm ăn năng động, thông tin nhanh, đối thoại đa chiều, và gặp nhiều bất trắc, thế thời thay đổi, lòng người đổi thay, họ càng cần Học nói suốt cuộc đời mình.
Tiếng nói của con người biểu hiện toàn bộ Tinh- Khí- Thần riêng biệt của từng người. Ngày nay, khoa học tâm linh phát triển, bằng nghệ thuật Yoga kết nối, người chết và người sống có thể gặp nhau, người cách xa nửa vòng trái đất có thể gặp nhau, qua sóng điện từ trường, sóng giao cảm tâm linh. Nhưng tiếng nói của nhau thì không thể nghe được trong sự cách xa, nếu không có hỗ trợ kỹ thuật. Và người đã chết thì không bao giờ ta có thể nghe được tiếng nói của họ. Nếu nhà tâm linh học nghe, thì tiếng nói thân thương ấy đã chuyển sang dạng khác. Bởi vậy, Người Hà Nội minh triết, luôn nâng niu tiếng nói để truyền dẫn linh khí của mình, giao tiếp với người thân, với cộng đồng.

3. Học gói. Học mở:

Đây là cả nghĩa đen và nghĩa bóng. “Gói” “mở” không chỉ là bàn tay khéo léo của con người trong mọi công việc. “Gói”. “Mở” còn là sự ứng xử, làm việc, buôn bán, kinh doanh, thương mại, tổ chức sản xuất hàng hóa, biết mở ra nghề nghiệp, sự nghiệp, công ty, hay sự việc nào đó, biết mở xa trông rộng, suy trước, tính sau, biết gói lại chu toàn, kết thúc công chuyện đúng độ, đúng lúc, đúng chỗ, biết mở những trang văn, bài thơ, và kết lại vuông tròn…

Dân gian Kẻ Chợ chê những ông quan sống không biết “Gói”, biết “Mở”:

“Khi bình làm hại dân ta
Túi tham mở rộng chẳng tha miếng gì
Đến khi hoạn nạn gian nguy
Mắt trông ngơ ngáo chân đi gập ghềnh”

4. Học thở:

Thở là sinh lý bình thường. Con người không cần học vẫn thở được. Những người “ngộ” Thiền biết thở đúng cách, tiếp nhận năng lượng Trời- Đất, kết nối sức mạnh tâm linh, rèn luyện Thân, Tâm, Trí, sống an nhiên tự tại, khỏe vui…

Nguời Kinh kỳ- Kẻ Chợ đã sớm khôn ngoan “Học thở” từ Thiền Ấn Độ cổ đại, Phật, Bồ Đề Đạt Ma… biến thành triết lý nhân sinh của người Việt, mang “hơi thở” Việt Nam:

Ở đời vui đạo cũng tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu thôi tìm kiếm
Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền


(Trần Nhân Tông)

IV: Kết luận:

Học ăn. Học nói. Học gói. Học Mở. Học thở là Minh triết trong đời sống hằng ngày của người Thăng Long- Hà Nội, được rút ra từ 9 giá trị Tinh hoa văn hóa Thăng Long- Hà Nội. Minh triết này rất dễ dàng ứng dụng trong đời sống ngày thường của mọi người dân Hà Nội- Việt Nam hiện đại đang phải sống trong một thế giới quá nhiều bất ổn. Ai ứng dụng được nhiều- người đó sẽ có cuộc sống bình an theo lẽ Thiện- Địa- Nhân hợp nhất và trở về cội rễ Minh triết Việt theo Đạo Việt An Vi mà triết gia Kim Định (1914- 1997) đã phát hiện.


Hồ Gươm ngày Hoàng đạo- 9- 2009.
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Huế ngày 25.11.2009.

. TÁC PHẨM CỦA MAI THỤC CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM Ở HẢI NGOẠI .
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.