NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
    (1909-1974 Sàigon)


Sinh năm 1909 ở Trà Bồ, tỉnh Hưng Yên ( Bắc Bộ). Thuở nhỏ học ở nước ngoài. Sau đậu kỹ sư điện học.
Tác phẩm đầu tay: Sống và Yêu , Bốn biển không nhà viết về đời sống quân đội Lê dương ở Pháp, Bắc Phi, Trung đông.. Tập thơ Mình với Ta tả đời sống chiến sĩ đốilập ở Xiêm La ( Thái Lan bây giờ) Sau về nước chủ trương Khoa học tạp chí ( 1931-32) với Nguyễn Công Tiễu.
Từ 1934 đến 45 chủ trương Tiếng Trẻ, Thời Thế, Quốc Gia và tạp chí Văn Mới .
Năm 1945: chiến sĩ văn hóa kháng chiến cùng các nhà văn nhóm Hàn Thuyên: Nguyễn Đình Lạp, Trương Tửu-Nguyễn Bách Khoa, Đặng Thái Mai , Phạm Ngọc Khuê, Nguyễn Tuân ….
Năm 1952 về Thành Hà Nội, sau vào Huế, Saigon . Viết cho tuấn báo Đời Mới (Trần Văn Ân chủ nhiệm). Từ đấy ông ký bút danh mới: Hà Việt Phương, Hoài Đồng Vọng , Vương Thương Thương, Hoài Nam Hoài, Cung Phúc Chung vv.
Cuốn tâm bút sau cùng mà ông cho xuất bản tại Sài Gòn : Ai có qua cầu ( Hoài Đồng Vọng) ( Nxb Quan điểm loại mới Saigon 1957).
Ông qua đời vào ngày 6 tháng 6 năm 1974 ở Saigon .



Thay mặt Ban Biên Tập , xin chân thành cảm tạ nhà văn Thế Phong đã cho phép Newvietart được đăng tải toàn bộ tập biên luận Nhận Diện Vóc Dáng Nguyễn Đức Quỳnh, tập tài liệu đã từng một thời gây sôi nổi trong và ngoài văn giới miền Nam vào những năm 55-65.

Từ Vũ NVA



KỲ THỨ 3

CHƯƠNG II: NGUYỄN ĐỨC QUỲNH & CÉNACLE LITTÉRAIRE: 1954-1958.


Nếu Michiavel vừa là một nhà đại ái quốc vùa là văn hào nước Ý thuở xa xưa lắc lơ; một tay có nhiều thủ đoạn cao cường – nhắc đến ông ta phải viết thành sách , qua nhiều tác giả khác nhau ,là một điều thiết yếu. Hoặc những phu nhân trẻ, đẹp, giàu sang, quý phái ở Pháp là chất kích thích tố trong nhiều buổi họp cénacle littéraire từ thế kỷ trước còn được truyền tụng; thì Nguyễn Đức Quỳnh dầu là thầy bùa lý thuyết gia văn nghệ, (như Nguyễn Hoạt trích lời Vũ Khắc Khoan gọi chàng viết trên báo Tự Do) ; hoặc ghét bỏ chàng như người đời thương xót cho cả sự nghiệp chính trị lẫn văn chương của Phạm Quỳnh (tất nhiên đường lối chính trị, văn hóa khác nhau) ; thì cũng không thể không nói đến chàng. Ít ra 1000 trang bộ truyện Thằng Cu So, Thằng Phượng Thằng Kình (Hàn Thuyên xuất bản trước 1945) và là một trong lãnh tụ văn hóa nhóm Hàn Thuyên, cộng thêm bốn năm thời hậu chiến của Đàm trường viễn kiến, đã tạo được một bầu không khí văn nghệ ở miền Nam- dầu cho đây cũng là tạo một thế đứng chính trị của chàng thì vẫn phải nói đến Nguyễn Đức Quynh- Hà Việt Phương.

Tôi vốn xét người không căn cứ vào đầu hôm sớm mai; cũng không sợ đụng chạm, đúng hay sai với nét nhìn đa số; song chính với đối tượng nguy hiểm, tự phê bản thân kịch liệt nhất là với chính mình. Tôi xa chàng khi cuốn sách đầu tiên trong Loại sách Đại Nam Văn Hiến - tháng chín năm 1959), và kịch liệt chống đối cái lối coi người là phương tiện, khinh miệng môi một lý thuyết gia chỉ thể hiện lời nói đẹp trên môi miệng lại chưa thực hiện tốt bao giờ; nôm na hơn là nói một đằng làm một nẻo - như trên kia tôi gọi chàng là một lý thuyết gia tồi. Chàng chưa bao giờ đọc để hiểu lý thuyết gia Bakounine (một lời nói là một hành động) , nói mà không hành động như nói, thì liệu có còn là một con người tốt bình thường ? Chứ chưa nói đến lý thuyết gia Bakounine từng chiến đấu anh dũng cho tự do bản thân, cùng các em gái mình trước ách của người cha hủ hóa. Cũng là nước Nga trước 1917, sự phân tán bải hoải từ đời sống cân não, người Nga chờ đón cuộc cách mạng 1917, đề rổi sau không chịu được không khí nghẹt thở dưới triều đại Staline- kể cả văn chương Nga bị bót nghẹt xuống thấp tận hố sâu; nhưng văn chương đen đã mở mắt với thế giới về văn học. (trường hợp Boris Pasternak chẳng hạn.) Tôi mong có nhiều salon littéraire hoặc cénacle – cho dầu như cénacle littéraire vô chính phủ của Bakounine, thì ít ra con người còn thấu đáo được ý nghĩa thành khẩn – và các em gái của Bakounine đi vào đới sống văn chương tác động văn học Nga sôi động đến đời sống, tác phẩm văn nghệ của Tourguenieff, Stankevitch, Bielinsky, Botkine nữa (theo Benoit P. Hepner viết về Bakounine- Librairie M. Rivière, Paris 1950, trang 54). Vậy còn cénacle littéraire Nguyễn Đức Quỳnh thì sao? Ông mang danh một người làm văn nghệ- mà khi tôi viết những dòng chữ này vẫn chưa tìm được cái nghĩa lý của chàng, hay ít ra, nếu sáu phần mười chàng không dành cho văn nghệ mà dành cho sự nghiệp làm chính trị của chàng (mượn đà văn nghệ như cộng sản đệ tam tận dụng, thì làm sao đến nay tôi chưa thấy được kết quả, dù chỉ là 1/10 không khí của Đàm trường Stankevitch?

Vào cuối tháng 10 / 1959, tôi cho xuất bản tập thơ Nếu anh có em là vợ.. tôi đem biếu chàng vào buổi sáng sớm, thì đã gặp thi sĩ Cung Trầm Tưởng ở đó. Bảy tháng trước tôi bộc lộ thái độ đối với chàng; tuy gay gắt thật, nhưng hy vọng chàng hiểu để đổi thay . Sau bảy tháng, tôi vẫn thấy dốc nguy hiểm kia vẫn lao thẳng vào đầu anh em làm văn nghệ đến nhà chàng. Lần này, tôi nói thẳng thừng trước mặt chàng và Cung TrầmTưởng: (lúc này C.T.T được biệt phái sang làm tùy viên văn hóa Phủ Tổng thống)

- Tôi xin lỗi anh, phải chửi thề một câu. Tiên sư bọn chúng nó- bọn văn nghệ sĩ già cũng như trẻ ở đây; vì thằng nào chết cứ việc chết. sống cứ việc sống- miệng nói nhân nghĩa, bụng dạ đểu cáng. Tôi có một bài thơ in trong tập này để tặng chúng nó.

Cung Trầm Tưởng dạo ấy sắp tổ chức một đại hội ra mắt tập thơ đầu tay (Phạm Duy phổ nhạc, Ngy Cao Uyên vẽ bìa) ở nhà hàng Baccara, anh ta đến đây cốt mời bằng được lãnh tụ Nguyễn Đức Quỳnh có mặt. Anh chàng này hết sức bợ đỡ Nguyễn Đức Quỳnh, nghe thấy tôi nói vậy, anh ta phản ứng:

- Mày là thằng thứ hai, sau T.T. Y là tao nể đấy. Chứ cái giọng của mày vừa rồi là tao không thể chịu nổi ?

Tôi giữ im lặng, không phản ứng, và trước khi ra về gặp họa sĩ Vị Ý, anh ta nói với tôi ngay cửa nhà chàng:

- Thằng nào dọa dẫm ông, thì có tôi theo bảo vệ.

- Tôi trả lời:

- Tôi trách nhiệm lời nói, ai không hiểu thì tôi cóc cần và xin đáp lại hết. Tôi giải thích cho Cung Trầm Tưởng, tôi nói vậy không có nghĩa bó buộc anh em văn nghệ phải giúp đỡ lẫn nhau, dầu có tiền của; nếu không muốn giúp đỡ thì đừng nói ra, đóng cửa lại, xin đừng có giọng nhân nghĩa kiểu bà Tú Đễ đối xử với anh em.. Hãy nhìn trường hợp Quách Thoại- thân hình xác ve, tiều tụy, nằm nhà thương thí Hồng Bàng, xác dành cho sinh viên Y mổ thực tập – chết rồi được bạn bè làm ma chay tế ruồi; mời bằng được lãnh tụ Quỳnh tham dự ngày xây mả Quách Thoại;* làm thơ khóc thảm thiết thiên tài qua đời . Kiểu này làm sượng mặt bạn bè còn sống, gặp mặt nhau không biết ngượng, thật là một bọn vô liêm sỉ!

- ( * Bấy giờ nhóm Sáng Tạo còn chịu ơn bậc Thầy (Nguyễn Đức Quỳnh) nên rất ư là ca tụng. Đọc Sáng tạo số kỷ niệm Quách Thoại . Về sau, họ nhận thấy bậc Thầy man trá nên xa lánh. Họa sĩ Thái Tuấn là người mến chàng bậc nhất cũng bất mãn bỏ cuộc sau cùng trong nhóm. Một lần anh gặp tôi, anh trách móc Thầy Quỳnh viết loạt bài trên báo dân Việt: ” Chúng ta phải làm gì?” vu nhóm Sáng tạo lậu thuế văn nghệ. Thái Tuấn nói với tôi: “.. Anh ấy có sản nghiệp văn nghệ gì mà anh viết thành sách? “ Lý do tôi viết Nhận diện N.Đ.Q. đã trả lời ở đầu chương ).

-

- Giai đoạn 1954-1955, chàng ở xóm Bầu Sen (377, đường Thành Thái) mặc quần áo lụa bà ba trắng (hoặc nâu) đi bộ đến tòa soạn tạp chí Đời Mới trên đường Trần Hưng Đạo- Chơ lớn. Khách khứa lúc này phần đông lá chính khách thực thụ, rất ít người làm văn học. Hồ Mậu Đề thay tên đổi họ Hồ Hán Sơn mang lon đại tá Lưc lượng bán quân sự Cao Đài - phe tướng Nguyễn Thành Phương đến gặp thầy Quỳnh thường xuyên. Chính chàng là người môi giới Hồ Hán Sơn cho Cao Đài. Chàng thường tâng bốc Hồ Hán Sơn, hoặc bất cứ một ai làm văn học mới vào nghề (hoặc đã thành danh) đến nhà chàng- câu tiền đề môi môi mép được nghe: “ .. chỉ còn anh ( hay cậu) .” khi tiễn khách. Chính chàng đại tá làm thơ này vốn văn hóa có đấy (nhưng kiến thức thiếu sâu, rộng) tưởng mình đã là trung tâm vũ trụ, nhất trần gian, lao đầu vào chính trị , bạn, thù lẫn lộn- ngày sau cùng nhận tham gia Phó Chủ tịch Hội đồng Cách mạng (đứng sau hỗ trợ việc lật Vua Bảo Đại đưa ông Ngô Đình Diệm lên ngôi Tổng thống, bị phe tướng Phương giam tại Trại huấn luyện quân sự quân đội Cao Đài, sau thủ tiêu, xác được buộc đá quăng xuống giếng vào năm 1956). Giả thiết Hồ Hán Sơn thành công, tôi không khen tài cố vấn của chàng; nhưng Sơn mất mạng oan uổng; thì tôi lại càng trách một người như chàng gần 50 tuổi lặn lội, từng làm lính Lê dương, ôm mộng lớn Thằng Kình lúc trẻ mơ là Quang Trung- Nguyễn Huệ- mà chưa biết nổi giận một lần để nói một lời chính trực với người thân. Cái gương ấy tôi thường trách riêng chàng; suốt hai năm trời tôi thấy chàng rất chóng quên mạng kẻ xấu số kia và sẵn sang buông lưới với kẻ khác chung số phận tương tự Hồ Hán Sơn. Chợt nhớ tới lời chàng tán tụng Cung Trầm Tưởng lúc có mặt, và sau đấy chàng nói với tôi:

- Khi tôi khen thơ lục bát C.T.T. có một vài bài tứ mới. lạ; thì chàng ra lời: “…khen thơ C.T.T. là cậu khen mật thám, là có tội đấy- cũng như cậu khen Hàn Mặc Tử là thi hào trong sách viết; một khi Cách mạng nổi lên sẽ cắt đầu cậu..”

- Tôi im lặng và không biết Cách mạng mà thầy Quỳnh nói là Cách mạng nào ? Và tại sao tôi lại bị cắt đầu?!

-

- Khi chàng dọn nhà về Ngã sáu Chợ lớn (gần Khu Ký túc xá Đại học) , nhà chàng thuê có cửa sắt cài then rất kiên cố. Giai đạon ấy, một ngày chàng nhắc tới bạn cũ Trần Văn Ân (chính khách từng là chủ nhiệm tạp chí Đời Mới) có đến hàng chục lần. ( lúc này Trần văn Ân là tù nhân bị Tổng thống Ngô Đỉnh Diệm giam cầm ) nào là người tốt, học rộng, hiểu an h em- và sau tướng Nguyễn Sơn Khu Bốn xưa, hẳn chưa tìm được ai như Trần Văn Ân cả. Câu khen này, sau chàng lại dùng để tặng cho một đương kim Bộ trưởng mà chàng làm cố vấn- chắc lúc này chàng quên bạn cũ Trần Văn Ân rồi! . Tôi cứ tưởng chàng trung tín với bạn cũ đến mức hat muối cắn đôi, điếu thuốc lá bẻ đôi bàn quốc sự.

- Thỉnh thoảng tôi gặp Doãn Quốc Sỹ (chàng sinh năm 1923 này rất ghét ai viết tên SĨ bằng chữ I ngắn , cũng như Nguyên Sa sẽ xé thư khi nhận người gửi đề tên NGUYỄN Sa) đến thăm chàng- mỡi lời chàng buột khỏi miệng là một lần vị giáo sư trung học kiêm nhà văn này rút sổ tay ghi lia lịa. Và sau này sách Tiểu luận Nguyễn Du của chàng trẻ tuổi kia hệt lời phán qua cửa miệng Nguyễn Đức Quỳnh

Cũng như văn chương, còn rất nhiều người làm chính trị dấn thân đến đây thỉnh ý chàng cố vấn. Chẳng hạn Hoàng Văn Chí, soạn giả cuốn Trăm hoa đua nở sưu soạn truyện, thơ bài viết chống Đảng Cộng sản ở ngoài Bắc của Nhân văn giai phẩm đem in ở miền Nam để bán cho Bộ Thông tin ( tay này là an h em cột chèo với tướng Nguyễn Sơn khu Tư và nhà phê bình văn học Vũ Ngọc Phan, con rể Sở Cuồng- Lê Dư) thường hay đến nhà chàng, với dáng điệu một người làm chính trị, văn học, mặt khinh khỉnh ra vẻ ta đây quan trọng . Tôi rất tởm bọn mang danh cầm bút, viết câu văn sáng tác chưa thành câu cú , mà dám lồng hằn thù riêng của họ qua câu giới thiệu tiểu sử Nguyễn Tuân chẳng hạn, cho nhà văn ấy là vô học, mạt sát nhà văn bên kia giới tuyến( trong cuốn Trăm hoa đua nở- Mạc Đình soạn ) khớp với lập trường chống Cộng để bán sách cho chính phủ đặt hàng. Chuyện này chẳng to tát gì mà phải làm ấm ỹ- thời tiền chiến có kẻ ngu xuẩn gấp bội lần, chúng cắn hạt chữ chưa vỡ đôi, sau mặt vẫn gọi ông Quỳnh, ông Vĩnh là thằng này, thằng thì đã sao đâu? Có điều khác, lời nói bay đi, còn chữ viết in trong sách như tác giả học thức nửa mùa rất háo danh là Mạc Đình sẽ cón lại mãi mãi.!

Với thầy Quỳnh, tôi đã không chịu được lối độc tài dân chủ giả hiệu, khi chàng điếu hợp buổi họp văn nghệ ở tòa soạn Đời Mới. Một tối nọ, có cả chủ nhiệm Trần Văn Ân, Hồ Hán Sơn, và đông an hem văn nghệ- trong lúc đang thảo luận, tôi cưới thành tiếng, chàng rất bực bội. Nhưng một khi chót bầu bán chủ tọa, có chương trình nghị sự hẳn hoi; thì ít ra mỗi người tham dự họp phải trân trọng tuân thủ lời chủ tọa, chẳng hạn muốn phát biểu phải giơ tay. Nhưng chàng thì quên, nghe tôi cười, chàng đứng phắt dậy:”.. Tôi xin mời Thế Phong ra khỏi phòng họp”. Tôi không thi hành , trả lời :”..Nói như anh Hà Việt Phương, tôi nhận thấy không khí buổi họp thật là vô kỷ luật. Tại sao anh không xin phép chủ tọa ? dầu chủ tọa có là bù nhìn được anh đề cử ra, thì hãy đề nghị chủ tọa đuổi tôi khỏi phòng nhóm có phải hay hơn không nào? Vậy thì, tôi cũng có quyền lên tiếng, xin mời anh Hà Việt Phương ra khỏi phòng..”

Tôi tự biết vô ý thức chính là tôi; nhưng sao tôi lại vẫn ngồi họp , bất mãn rồi quậy phá- sau tôi ngẫm ta tôi có lý ở chỗ họp văn nghệ này tạo thế lực cho mục đích khác. Sự xung đột này làm không khí buổi họp văn nghệ thêm sôi động- vì có cả phái nữ , cô Kim Định và Trần Văn Ân làm chàng bẽ mặt. Cuối cùng, tôi đành nhún nhường vì chủ nhiệm vả cô Kim Định dàn xếp ổn thỏa. Tôi nhớ đến bầu không khí họp hành ở hậu phương ở giai đoạn kháng chiến chuyển sang cộng sản, cái lối dân chủ bề ngoài chẳng khác gì buổi nhóm họp văn nghệ của chúng tôi bữa nay là bao!

Một lần nữa, buổi họp văn nghệ của các giới, quên mất chẳng biết ai triệu tập; cửa vẫn rộng mởi đón khách văn chương tại nhà hàng Thanh Thế ở góc đường Tạ thu Thâu. Có mặt Trần Văn Ân và chàng tới dự.Phải nói thẳng ra, chàng rất đa tài trong việc điều khiển hội nghị, biết tóm lược tổng hợp , dung nạp được nhiều ý kiến dị đồng, rồi hướng hội nghị theo ý chàng mà ít ai để ý.

Dạo ấy, tôi cũng bị không khí chính trị lôi cuốn, tôi viết một loạt sách chính trị. Cuốn sách đằu tiên có tựa Tổ chức chính trị thế giới (Nhà xuất bản Thế giới , giám đốc Nguyễn Văn Hợi, in ra đổi tựa Muốn hiểu chính trị, tựa Hà Việt Phương, Saigon 1955). Bút hiệu Hà Việt Phương được nhiều đọc giả tạp chí Đời Mới trong nam biết đến qua loạt bài Nhân bản mới đăng trên Đời Mới từ khoảng 1952 trở vế sau . Nhờ món tiền nhà xuất bản trả, tôi có thể nằm lì ở Xóm Chùa-Tân Định viết bộ sách Lược sử văn nghệ Việtnam ( 4 tập) dầy hơn ngàn trang. Phải tỏ lời cảm ơn thầy Quỳnh ở đây; vì chàng khích lệ là điều cần thiết; nhất là với tôi khi ấy chưa tắm tiếng gì, mới xuất bản được cuốn truyện vừa Tình sơn nữ ở Saigon vào 1954. Dư luận văn nghệ miền Nam lúc bấy giờ thật khốn nạn, độc ác vô lường, tung tin hỏa mù, gán ghép bộ sách phê bình văn nghệ Lược sử văn nghệ Việt nam là chàng viết và tôi ký tên. Điều thứ nhất, theo dư luận, nó khác hẳn với bộ Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan; càng khác hơn là trong bộ nghiên cứu văn học của ông Phan không đề cập nhóm Hàn Thuyên, và bộ sách của tôi thì có. Họ vịn vào lý do (ấu trĩ, bịa đặt kia) và lời khen tặng của chàng cho tôi viết hay hơn Vũ Ngọc Phan nhiều, đó chính là để khen chàng một cách gián tiếp. Nào là thời kỳ 1940-1942 (cuốn sách của Vũ Ngọc Phan phê bình các nhà văn có tác phẩm xuất bản đến cuối 1942) , sự có mặt của Trương Tửu ở kia rồi; tại sao không có phương danh Nguyễn Đức Quỳnh ( tác phẩm Thằng Cu So, Thằng Phượng , Thằng Kình xuất bản năm 1941, 1942 ). Điều này có lập luận gì coi là vững chãi đâu, có thể là Vũ Ngọc Phan chưa kịp nói tới, hoặc người viết phê bình văn học còn ít quá, mới quá, có thể tự ái, bè phái nữa, lại chưa qua được non dại ý thức như Vũ Ngọc Phan vào thời kỳ đó. Trong Khu, tôi được nghe chuyện một vài bậc đàn anh văn nghệ kể chuyện với nhau về ông Vũ Ngọc Phan viết đến nhóm Hàn Thuyên- thì ông mò tới phố Tsien Tsinh Hà Nội (địa chỉ Nxb Hàn Thuyên, tạp chí Văn Mới) xin gặp anh em trong nhóm : Đặng Thái Mai , Nguyễn Đức Quỳnh. Hai nhà văn hóa này vôn kênh kiệu, tôi không nhớ rõ người kể chuyện đã ám chỉ một trong hai người trên là ai, ông Mai hay ông Quỳnh. Nói câu này: “…Anh biết gì về mác xít mà phê bình, giói thiệu nhóm chúng tôi kia chứ? Thiết tưởng anh nên về đọc đi đã, để hiểu thêm về mác xít, về trotkisme đã.” , ông Phan đành ra về, hậm hực mãi, sau chỉ đề cập Nguyễn Bách khoa-Trương Tửu mà thôi.. Ở Pháp chẳng hạn, hẳn là chẳng có giai thoại này, tôi nghĩ thế, dù người viết sách dầu có là thù địch của nhau; chẳng ai hèn mà lầm lạc như vậy?

Trở lại dư luận văn nghệ khốn nạn kia ( cho bộ sách phê bình của tôi là anh Quỳnh viết, tôi ký tên ) tôi thú nhiều hơn, tất nhiên ở thời đoạn ấy; ở chỗ thiên hạ lầm lẫn văn mình với đưa tới nhầm lẫn; khi tôi đã tin vào khả năng tôi rồi. Dư luận hiểu lầm về mình là điều thích thú; sau họ có hiểu hoặc không, thì vẫn chưa cần phải lồng lộn lên giải thích, biện minh bắt dư luận hiểu rõ vấn đề. Giá khi trước mà tôi chưa đọc câu: ”…nhân bất tri bất uẩn bất diệc quân tử hồ của Khổng Tử thì mình như chết đuối vớ được cọc. Nhưng bây giờ lại có cảm tưởng điều mình tưởng mới lạ mà cổ nhân đã đi trước qua rồi, thì sự trưởng thành trong tư tưởng trở thành trùng hợp. Dư luận kia sở dĩ có, thứ nhất, tôi ở gần thầy Quỳnh, thứ hai là loạt bài chống văn nghệ độc tài ký tên Duy Nhân (bút hiệu khác của trưởng nam chàng) . Chàng trai trẻ này ít hơn tôi bốn tuổi, kiến thức khoảng chừng đệ nhị (lớp 11) chương trình việt thì có là bao, cái kiến thức cỏn con kia mà đòi chống văn hóa mác xít* . Thì còn ai ngoài người có trách nhiệm hơn là Nguyễn Đức Quỳnh?!

( * Tôi đã viết về nhà phê bình này trong bộ Lược sử văn nghệ Việtnam (Nhà văn hậu chiến 1950-1956, tập 4) . càng rõ hơn nữa, Duy Sinh đến nhà in Hợp lực soạn cuốn sách phê bình Nguyễn Bách Khoa phê bình Kiều (sau đăng dần trên tạp chí Sống, chủ nhiệm Ngô Trọng Hiếu vào năm 1960) . Tài liệu thì một số thầy Quỳnh mượn của tôi, như cuốn Sciences des letters soviétiques/ Benjamin Goriély… sau lại thấy ghi chú trong sách Duy Sinh. Những đoạn văn trích trong ấy, chính là thầy Quỳnh dịch thay cho trưởng nam; vì tôi biết rõ thực lực trưởng nam chưa đọc nổi, làm sao dịch để làm điều dẫn trong sách phê bình Nguyễn Bách Khoa phê Kiều ? Còn nữa, giai thoại văn chương giữa Nguyễn Bách Khoa và tác giả cuốn sách phê bình kia, người đọc tưởng chừng Duy Sinh bằng tuổi Nguyễn Đức Quỳnh và Trương Tửu ? Tại sao thầy Quỳnh viết, lại cho con ký tên trên sách mà để sự sơ hở lớn lao vậy? Thêm cuốn truyện Loạn của Duy Sinh đăng ít kỳ trên báo Đời Mới, tôi thấy na ná giống bản thảo để ở nhà xuất bản Thế Giới xưa ở Hà Nội, ký tên chàng. Khi ấy tựa sách là Tôi đi lính đã quảng cáo trên các bìa sách của Ngọc Giao ( Cầu Sương hay Thiếp phụ chàng . Nxb Thế Giới, Hà Nội 1952) Cứ tin cuốn truyện là của Duy Sinh đi; còn khảo luận thì tôi chưa tin, dầu là 1/1000 sự thật. Trong tình quen biết bè bạn với trưởng nam, tôi xin chịu trách nhiệm với chú thích này. Cũng vào thời gian này, sau đó ít lâu thôi, ( 1958) Duy Sinh chủ trương tuần báo Nắng Sớm ( báo Phong trào cách mạng Quốc gia của Trần Chánh Thành) đăng bài tán tụng Nguyễn Kiên Trung, qua cuốn Đem tâm tình viết lịch sử; thực ra thì chính là thầy Quỳnh chủ trương, vì Nguyễn kiên Trung (tức nhà văn Nguyễn Mạnh Côn) đem bản thảo nhờ thầy Quỳnh viết tựa, chẳng hiểu sao lại để cho Duy Sinh ký tên (thay chàng) . Khi cuốn truyện xuất bản, không có bài tựa ấy. Và từ đó, không thấy chàng khen Nguyễn Kiên Trung, như ban đầu hết sức ca ngợi Nguyễn Mạnh Côn, viết hay, viết giỏi xứng đáng là nhà văn miền Nam viết hay hơn nhà văn cộng sản một chiều ở ngoài Bắc ) .

Rồi chàng dọn nhà về ngõ chùa Từ Quang. Nhà chàng mua là một gian nhà vách ván, đằng trước có trồng hoa mẫu đơn, có cây ổi lớn nhiều bóng mát, tạo cho không khí họp hành văn nghệ sau này sôi nổi hơn. Thực ra thì từ dạo chàng dọn nhà về đây, lớp chúng tôi họp ở tòa soạn Đời Mới không còn ngồi chung đông đủ như xưa. Một hai, ba người đến từng giờ, tứng lúc khác nhau. Trong cuốn Vượt , chàng dành những trang đầu cho Hồ Hán Sơn chết rồi, Trần Văn Ân đi tù Côn Lôn; hàng ngày những năm đầu 1957-1958, chàng thường tụng niệm câu này với anh em văn nghệ và chính khách:

-Tôi chỉ tham gia chính quyền, nếu bạn tôi được tha (*)

(*) Năm 1954, các nhật báo Saigon đã đăng thành phần dự định mà các Tổng trưởng tham gia nội các Thủ tướng Ngô Đình Diệm, thì Hà Việt Phương là một trong những người sẽ có thể là Tổng trưởng Thông tin và Chiến tranh tâm lý.).



... CÒN TIẾP ...












© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 20.11.2009.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com

. TÁC PHẨM NHẬN DIỆN VÓC DÁNG NHÀ VĂN NGUYỄN ĐỨC QUỲNH
CỦA NHÀ VĂN THẾ PHONG
CHỈ ĐĂNG TẢI DUY NHẤT TRÊN NEWVIETART.COM.