BIÊN DỊCH



TÁC PHẨM
TÁC GIẢ




TỪ VŨ

Từ Vũ là bút hiệu và cũng là tên thật.

Sinh năm 1945 tại Bắc Việt .

Đi học tại HàNội .

Theo gia đình di cư vào Nam năm 1953 .

Đi học : Bá Ninh, Lê Qúy Đôn NhaTrang, Trần Hưng Đạo Đà Lạt, Taberd , Nguyễn Bá Tòng, Lê Bảo Tịnh, Trường Sơn Sàigòn...


Đi lính .

Vượt biên năm 1979 và định cư tại Pháp.

Làm việc với tư cách một Giám Đốc cho các công ty sản xuất kỹ nghệ của người Pháp như Weber & Broutin - Lafarge - Allia - Allibert & Sommer....

Làm thơ , viết văn tài tử từ thời đi học và đăng tải trong các nhật báo, tuần báo tại Sàigon trước năm 1975 dưới rất nhiều bút hiệu khác nhau.








WALT WHITMAN

(1819–1892 )

ĐẠI THI HÀO HOA KỲ


I- WALT WHITMAN và LEAVES GRASS

Whitman sinh ngày 31 tháng 5 năm 1819, tại một làng gần Hempstead, Huntington trong tiểu bang New York, trung tâm Long Island.
Ông là người con thứ hai trong một gia đình lao động gồm 9 người con của ông Walter Whitman và bà Louisa Van Velsor . Khi vừa được 4 tuổi, cha mẹ ông dời về Brooklyn tại đây ông được cho theo học việc nơi một người thợ in máy ti pô . Trong thời kỳ này cậu thợ in tự học và đọc rất nhiều những tác phẩm của Homer, Dante, Shakespeare, Kinh Thánh và khởi sự viết. Whitman hành nghề in tại New York cho đến khi xảy ra một trận hoả hoạn lớn tiêu hủy toàn bộ cơ sở ông làm .
Năm 1836, vừa được 17 tuổi, Whitman trở về Long Island hành nghề dạy học trong những trường học nơi thường chỉ có một lớp tại các vùng thôn dã ở nơi đây.
Từ năm 1838 đến 1839, Whitman cho xuất bản tại Hungtington tuần báo Long Islander.
Sau cuộc sống nhộn nhịp tại Brooklyn và New York nay phải sống tại vùng Long Island cô lập buồn tẻ, chán nản Whitman bỏ về lại New York.
Tại đây ông hành nghề in trở lại lần này kèm thêm nghề ký giả . Whitman thường xuyên có mặt tại các nhà hát nhạc kịch, thư viện. Vào thời kỳ này, Whitman sáng tác những bài thơ hoặc những chuyện thuật lại cho những tờ tạp chí bình dân nhưng không có gì đặc biệt lắm. Whitman là chủ biên một số báo chí tại Brooklyn and New York.
Năm 1840, Whitman tham dự vào chiến dịch vận động cho Martin Van Buren khi ông này tranh cử Tổng Thống.
Những bài diễn văn chính trị viết bởi Whitman đã được Tammany Society chú ý đến và ủy thác cho ông việc ấn hành một số nhật báo mà không một tờ nào sống sót lâu dài.
Trong suốt 2 năm Whitman là chủ biên cho tờ báo rất có thế lực Brooklyn Eagle nhưng vì sự phân chia trong hàng ngũ của đảng Dân Chủ nên ông đã bị cắt chức bởi lẽ ông ủng hộ đảng Free-Soil (1848-54, một đảng chính trị với khẩu hiệu "Free soil, free speech, free labor, and free men." chống đối lại chế độ nô lệ). Sau nhiều lần thử thành lập Free Soil một tờ nhật báo nhưng thất bại, Whitman đã phải làm nhiều việc khác nhau để mưu sinh. Vào những năm từ 1841 đến 1859, Whitman là chủ biên tờ Crescent tại New Orleans - Louisiana , 2 tờ tại New York và 4 tờ khác tại Long Island.
Năm 1848, Whitman rời tờ Brooklyn Daily Eagle để đảm tránh nhiệm vụ chủ biên tờ Crescent tại New Orleans - Louisiana . Whitman viếng thăm vùng Nouvelle Orléans - Louisiane,chính tại đây Whitman đã biết những sự đồi bại của chế độ nô lệ tại chợ mua bán nô lệ của thành phố này. Trong thời kỳ này Whitma khởi sự làm thơ.
Trở lại Brooklyn, Whitman thử thành lập một tờ báo cho chính phái mà ông tham dự sau đó hành rất nhiều nghề khác nhau trước khi tận tình cống hiến vào việc sáng tác thơ.
Năm 1855, Whitman cho xuất hiện ấn bản đầu tiên của Leaves of Grass - Lá Cỏ, một tuyển tập thơ với thể thơ thật mới lạ. Với thi tuyển này, khác hẳn những bài thơ tình với những vần điệu ông đã viết trước đó vào những năm 1840 .  Không một nhà xuất bản nào chịu nhận ấn hành Leaves of Grass nên Whitman phải tự bỏ tiền túi ra để in. Tập thơ khá vô danh nhưng ngược lại trên trang đầu nổi bật hình của nhà thơ đứng chống một tay bên hông phải, tay kia bỏ túi quần, đầu nghiêng nghiêng với một chiếc nón đen. Whitman cũng viết một bản tựa dài trong đó ông loan báo cho sự đăng quang của văn chương dân chủ đáp ứng với quần chúng, giản dị và vô địch, được viết bởi một nhà thơ mới, cùng lúc dịu dàng, mạnh và hào hùng và là người đặt để bới sức mạnh , sự quyến rũ của ông ta.
Sau này Whitman cố gắng thực hiện suốt đời ông những tôn chỉ mà ông đã viết trong bản tựa này.
Ấn bản Leaves of Grass năm 1855 gồm 12 bài thơ không có tựa đề, cấu trúc bởi những câu thơ dài nhịp điệu. Bài thơ đẹp nhất trong đó, sau này nhà thơ đặt tựa đề Song of Myself -"bài ca của chính tôi" dựa vào cách nhìn của cái " tôi " tượng trưng, reo vui bởi những cảm giác và bao quát gián tiếp con người, nơi chốn, từ Thái Bình dương đến Đại Tây dương :

Song of myself

Walt Whitman, a kosmos, of Manhattan the son,
Turbulent, fleshy, sensual, eating, drinking and breeding,
No sentimentalist, no stander above men and women or apart from them,
No more modest than immodest.
Unscrew the locks from the doors!
Unscrew the doors themselves from their jambs!
Whoever degrades another degrades me,
And whatever is done or said returns at last to me.
Through me the afflatus surging and surging, through me the current and index.
I speak the pass-word primeval, I give the sign of democracy,
By God! I will accept nothing which all cannot have their counterpart of on the same terms.
Through me many long dumb voices,
Voices of the interminable generations of prisoners and slaves,
Voices of the diseas'd and despairing and of thieves and dwarfs,
Voices of cycles of preparation and accretion,
And of the threads that connect the stars, and of wombs and of the father-stuff,
And of the rights of them the others are down upon,
Of the deform'd, trivial, flat, foolish, despised,
Fog in the air, beetles rolling balls of dung.
Through me forbidden voices,
Voices of sexes and lusts, voices veil'd and I remove the veil,
Voices indecent by me clarified and transfigur'd.
I do not press my fingers across my mouth,
I keep as delicate around the bowels as around the head and heart,
Copulation is no more rank to me than death is.
I believe in the flesh and the appetites,
Seeing, hearing, feeling, are miracles, and each part and tag of me is a miracle.
Divine am I inside and out, and I make holy whatever I touch or am touch'd from,
The scent of these arm-pits aroma finer than prayer,
This head more than churches, bibles, and all the creeds.

Bài thơ với nhan đề The Sleepers - "Người ngủ " cũng là một thiên cảm nhiệt tình tượng trưng cho sự sống, cái chết và sự phục sinh.
Sau khi tập thơ xuất bản, Whitman nhận được một lá thư khen ngợi của Ralph Waldo Emerson, một nhà văn viết tiểu luận và cũng là một thi sĩ có tiếng tăm lúc đó. Sự kiện này đã thúc đẩy Whitman vội vàng cho xuất hiện ấn bản Leaves of Grass mới (năm 1856). Ấn bản thứ hai này được tu chính lại nhưng cũng đầy chi tiết. Trong bài thơ , hình ảnh từ thời ấu thơ sống tại Brooklyn, với tựa đề Crossing Brooklyn Ferry - "Trên phà Brooklyn" - Whitman thử chia xẻ với độc giả và tất cả những người xử dụng hay sẽ xử dụng chiếc phà.
Trong ấn bản lần thứ 3 năm 1860, Whitman đã cho thơ của ông một hình thức phóng dụ hơn . Bởi thế trong tác phẩm Out of the Cradle Endlessly Rocking ,Venant du berceau perpétuellement bercé - một con chim sáo nhại thể hiện tiếng nói của thiên nhiên, thần khải ý nghĩa của tử thần với một chú bé, nhà thơ tương lai. Ở đây người đọc tìm gặp nhạc tính của thơ trong ảnh hưởng nhạc kịch Ý mà Whitman đặc biệt yêu chuộng . Tập thơ cũng được phong phú thêm bởi hai loạt thơ mới : Children of Adam và Calamus trong đó nhà thơ gợi lên tình yêu xác thịt và tình yêu đồng giới (Calamus đề cập đến tình yêu đống giới của chính tác gỉa).
Một bộ thơ với tựa đề Drum-Taps -"tiếng gõ của chiếc trống"-, xuất bản năm 1865 và được bổ sung vào ấn bản năm 1867, phản ảnh một nhận thức sâu thẳm mà Whitman đã có trong cuộc chiến tranh ly khai ở Mỹ -1861 1865- do sự ly khai của 11 bang miền Nam) và ước ao của Whitman cho một hoà giải giữa những người tham gia trong cuộc chiến này.
Năm 1871, xuất hiện tiếp Passage to India - chuyến hải trình đi Ấn Độ "- thể hiện bởi những sự cấu kết tượng trưng cho những phương tiện truyền tin và giao thông mới, Whitman với thị lực siêu việt cho sự hoà hợp, không phải chỉ giữa Đông - Tây phương mà cho ngay cả linh hồn con người với thượng đế.
Năm 1881, Whitman xuất bản một ấn bản mới mà chính ông cũng rất hài lòng, tuy thế ông cũng thêm vào những bài thơ mới xuất hiện trong ấn bản năm 1892 .
Một loạt những bài thơ dưới tựa đề Old Age Echoes cũng được xuất bản năm 1897 sau ngày ông qua đời. Sau đó, toàn bộ thi phẩm của Walt Whitman đã được tập trung trong ấn bản cuối cùng năm 1965.
Khi cuộc nội chiến bùng nổ, Whitman thề rằng sẽ sống để " giải tội " và " tinh khiết ". Hành nghề ký giả tự do và thăm viếng những thương binh tại các bệnh viện trong vùng New York. Vào tháng 12 năm 1862, Whitman phải làm một cuộc hành trình đến Washington D.C. để chăm sóc cho em ông vừa bị thương trong trận đánh tại Fredericksburg . Xúc động bởi những đau đớn của những người thương binh tại Washington, Whitman quyết định ở lại và làm việc tại các bệnh viện.

Sau khi cuộc chiến chấm dứt, Whitman ở lại thành phố phục vụ với tư cách một thư ký trong bộ Nội Vụ . Khi James Harlan, viên Bộ Trưởng Nội Vụ, khám phá ra Whitman chính là tác già của tập thơ Leaves of Grass, một quyển sách khiếm nhã mà nhiều người trong thời kỳ này đã nghĩ như thế, James Harlan xa thải nhà thơ.
Năm 1873, Whitman bị lâm vào bệnh ngập máu. Ông đã lựa chọn về sống với gia đình người em tại vùng Camden - New Jersey cho đến năm 1884.
Cuối cùng, Whitman cũng tậu một ngôi nhà nhỏ. Tại đây, ông cống hiến toàn bộ vào việc viết và tu chính cho tập Leaves of Grass. Suốt trong những năm cuối cùng, Whitman cũng viết nhiều tiểu luận tập trung trong Democratic Vistas (1871), như một quy định văn bản tham chiếu lý thuyết của nền dân chủ và tính cách hợp pháp của thể chế chính trị Hoa Kỳ. Cũng trong thời điểm này, Whitman soạn thảo Specimen Days and Collect (1882-1883), một tác phẩm viết về những kỷ niệm của ông, những ghi nhận về thiên nhiên, những chuyện kể về những năm trong chiến tranh và sự ám sát Abraham Lincoln. Bài thơ nổi tiếng " O Captain! My Captain! " dưới dây là một sự trả lời của Whitman về cái chết cuả Lincoln :

O Captain! My Captain!

O Captain! My Captain! our fearful trip is done;
The ship has weather'd every rack, the prize we sought is won;
The port is near, the bells I hear, the people all exulting,
While follow eyes the steady keel, the vessel grim and daring
But O heart! heart! heart!
O the bleeding drops of red,
Where on the deck my Captain lies,
Fallen cold and dead.
O Captain! My Captain! rise up and hear the bells;
Rise up-for you the flag is flung-for you the bugle trills;
For you bouquets and ribbon'd wreaths-for you the shores a-crowding;
For you they call, the swaying mass, their eager faces turning
Here Captain! dear father!
This arm beneath your head;
It is some dream that on the deck,
You've fallen cold and dead.
My Captain does not answer, his lips are pale and still;
My father does not feel my arm, he has no pulse or will;
The ship is anchor'd safe and sound, its voyage closed and done;
From fearful trip the victor ship comes in with object won
Exult, O shores, and ring, O bells!
But I with mournful tread,
Walk the deck my Captain lies,
Fallen cold and dead.
Walt Whitman qua đời vào ngày 26 tháng 3 năm 1892 hưởng thọ 73 tuổi. Thi thể của ông được an táng tại nghĩa trang Harleigh Cemetery tỉnh Camden, một mộ phần giản dị như ông đã phác họa lúc còn sinh tiền.

Cho tới nay, Walt Whitman là một nhà thơ lừng danh nhất của Hoa Kỳ, những bài thơ của Whitman đã được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác nhau và được nhiều học giả nghiên cứu về giá trị cũng như tầm ảnh hưởng của tác phẩm. Người ta đồng nhất trên quan điểm : Whitman rất có ảnh hưởng đối với nhiều tác giả như trường hợp Hart Crane, William Carlos Williams, Wallace Stevens và Allen Ginsberg...

II -TÁC PHẨM :

2.1- Thơ :

. Drum Taps (1865)
. Good-Bye, My Fancy (1891)
. Leaves of Grass (1855)
. Leaves of Grass (1856)
. Leaves of Grass (1860)
. Leaves of Grass (1867)
. Leaves of Grass (1870)
. Leaves of Grass (1876)
. Leaves of Grass (1881)
. Leaves of Grass (1891)
. Passage to India (1870)
. Sequel to Drum Taps (1865)

2.2- Văn Xuôi :

. Toàn bộ Prose Works (1892)
. Democratic Vistas (1871)
. Franklin Evans hay là The Inebriate (1842)
. Memoranda During the War (1875)
. November Boughs (1888)
. Specimen Days and Collect (1881)




TỪ VŨ
Pháp - 16.1.2006



TRANG CHÍNH TRANG THƠ ĐOẢN THIÊN TRUYỆN NGẮN ÂM NHẠC