ALEXANDRE DE RHODES

CHỮ QUỐC NGỮ












Cuối tháng 6-2009, nhà điêu khắc Phạm Văn Hạng (tp Hồ Chí Minh) đã hoàn thành tượng Alexandre De Rhodes cao 3mét, rộng 2mét, nặng 43 tấn, bằng đá hoa cương lấy từ một ngọn núi tại Bà Rịa- Vũng Tàu và tặng nhân dân Hà Nội, đặt nơi thủ đô- trái tim Việt Nam để nhớ công sáng tạo chữ Quốc Ngữ của Alexandre De Rhodes,

Đi qua những khác biệt về chính trị và tôn giáo trong lịch sử, chúng tôi tìm Alecxandre De Rhodes cùng với sự sáng tạo chữ Quốc Ngữ của dân tộc, suốt hơn ba thế kỷ nay.

Hành trình sáng tạo chữ Quốc Ngữ là một bước tiến hóa vô cùng quan trọng của Người Việt Nam- Thăng Long- Hà Nội trong cuộc gặp gỡ với phương Tây.

I. Alexandre De Rhodes và chú bé tóc trái đào ở Hội An:

Alexandre De Rhodes sinh ngày 15-3- 1591 tại Avignon, miền Nam nước Pháp. Ông là linh mục thuộc giáo đoàn Dòng Tên, được cử sang Nhật truyền đạo. Nhật Bản cấm đạo. Năm 1624, sau một năm chờ đợi học tiếng Nhật ở Ma Cao, ông được phái vào Đàng Trong (Hội An) và nhanh chóng học được tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa (lấy tên Việt là Đắc Lộ). Thầy dạy tiếng Việt của ông là một chú bé khoảng hơn mười tuổi. Ông vô cùng mến mộ viết về người thầy tí hon của mình: “Chỉ trong ba tuần lễ, chú bé đã dạy tôi học biết tất cả các cung bậc khác nhau của tiếng Việt, cách thức phát âm của từng chữ. Cậu không hề có kiến thức gì về ngôn ngữ châu Âu, thế mà cũng trong vòng ba tuần lễ này, cậu có thể hiểu tất cả những gì tôi muốn diễn tả và muốn nói với cậu. Đồng thời cậu học đọc, học viết tiếng La- tinh. Tôi hết sức ngạc nhiên trước trí khôn minh mẫn và trí nhớ dẻo dai của cậu.”

Chú bé tóc trái đào đã thắp lửa tình yêu tiếng Việt, yêu đất nước, con người Việt Nam trong tâm hồn Alexandre De Rhodes, dắt ông vào hành sáng tạo chữ Quốc Ngữ, khởi nguồn từ đất Hội An.

Theo giáo sư Nguyễn Văn Hoàn trong bản tham luận Hội An, một trung tâm giao tiếp văn hóa với thế giới của Việt Nam thế kỷ XVI giáo sĩ người Ý Critopphoro Borri đã viết Xứ Đàng Trong (năm 1621). Thời đó nước ta chịu cảnh Trịnh- Nguyễn phân tranh, chia thành hai nửa Đàng Ngoài- Đàng Trong, chia cắt ranh giới bởi con sông Gianh hiền lành vô tội. Borri ở Đàng Trong 5 năm (1618- 1622) chủ yếu truyền giáo tại Hội An. Xø §µng Trong Borri viết bằng tiếng Ý, xuất bản lần thứ nhất tại Rôma năm 1631, một năm trước khi ông qua đời. Sách dày 231 trang, hiện lưu trữ tại Tòa Thánh Vatican. Đây là cuốn sách đầu tiên viết về Đàng Trong nước ta, miêu tả tỉ mỉ và bao quát hầu như đầy đủ các mặt: địa giới, khí hậu, cây cỏ, súc vật… đến phong tục tập quán, cách ăn, mặc, ngôn ngữ, tôn giáo, tổ chức gia đình và xã hội…

Tại Hội An G.S Hoµn đọc bài nghiên cứu khoa học của mình:

- Người đọc chú ý đến cái nhìn vừa tò mò lại vừa thiện cảm của Borri đối với cảnh sắc và con người Việt Nam ở Đàng Trong, khi ông so sánh người Việt Nam với người Trung Quốc, hoặc khi ông nói đến con voi, đến một cuộc săn tê giác, đến tập tục cũ Việt Nam: khách phải rửa chân trước khi bước vào nhà, hoặc có món ăn gì, dù ít và đạm bạc, cũng chia ra và mời khách cùng ăn… Cuốn sách ngay lập tức gây ảnh hưởng với người đương thời. Năm đầu tiên, nó được in lại bằng tiếng Ý ở Milano và có ba bản dịch Pháp văn cùng xuất hiện ở Paris, Lille, Rennes. Hai năm sau, nó lần lượt được dịch ra Tiếng La-tinh, Tiếng Hà Lan, tiếng Đức, tiếng Anh. Tầm quan trọng của cuốn sách của Borri, lần đầu tiên mô tả Đàng Trong nước ta, chỉ có thể so sánh với các sách của Alexandre de Rhodes, lần đầu tiên đã cung cấp một bức tranh toàn cảnh về xã hội Đàng Ngoài, xuất hiện hai mươi năm sau cuốn sách của Borri. Trong một tập du ký xuất bản ở Bồ Đào Nha năm 1627, linh mục Le Jeunehomme đã ca ngợi Borri: “Ông đã vượt qua biết bao biển cả và đất liền của phương Đông và châu Phi, đến nỗi quên mất cả tiếng Ý mẹ đẻ và tiếng La-tinh.”

Borri là vị giáo sĩ phương Tây thứ hai nói thông thạo tiếng Việt, đã đưa ra nhiều nhận xét so sánh đầu tiên về tiếng Việt, cung cấp cho chúng ta những cứ liệu đầu tiên, quan trọng về hình dạng cụ thể của chữ Quốc Ngữ trong nửa đầu thế kỷ XVII…

G.S Nguyễn Văn Hoàn tập trung nghiên cứu về một người Pháp mà chúng ta không bao giờ quên được là Alexandre De Rhodes. Ông qua lại sống ở Hội An năm lần. Trong lĩnh vực học tiếng Việt và đặt chữ Quốc Ngữ này, A.de Rhodes có một vai trò đặc biệt, chẳng những ông nói được tiếng Việt, mà ông còn là người Châu Âu đầu tiên dám dấn thân nghiên cứu tiếng Việt, là một công việc học thuật cực kỳ khó khăn thời ông sống. Ông viết Từ điển Annam- Lusitan- Latin (còn gọi là Từ điển ba thứ tiếng Việt Nam- Bồ Đào Nha- La-tinh) và cuốn sách giảng La-tinh- Việt xuất bản ở Rôme năm 1651, đánh dấu sự xuất hiện hiển nhiên của một thứ văn tự mới, dùng mẫu tự La-tinh để ghi tiếng Việt, được đặt tên là chữ Quốc Ngữ.

Tiếng Việt lúc đầu đã làm cho A. de Rhodes phát sợ. Ông viết: “Tôi thú nhận rằng khi mới đến Đàng Trong và nghe những người bản xứ, nhất là phụ nữ nói, tôi tưởng như nghe tiếng chim líu lo và tôi mất hết hy vọng có thể học được thứ tiếng đó.” Ông đã thuật lại một vài kỷ niệm ngộ nghĩnh do việc ông phát âm sai tiếng Việt gây ra. Một lần ông sai đầu bếp đi chợ mua cá thì anh ta đã bê về một thúng cà, một lần khác ông sai người đi chém tre thì bọn trẻ trong nhà thờ chạy trốn (vì ông phát âm sai thành “chém trẻ”).

Sau vấn đề ngôn ngữ (tiếng nói) thì các giáo sĩ phương Tây đến Việt Nam hồi đầu thế kỷ XVII còn đụng phải vấn khó hơn. Đó là văn tự. Ở Trung Quốc giữa tiếng Hán và chữ Hán có quan hệ thống nhất. Ở Việt Nam, chữ Hán không phải là văn tự được xây dựng trên cơ sở tiếng Việt. Borri nhận xét: “Thứ tiếng mà họ nói thường ngày rất khác với thứ tiếng mà họ dạy học và đọc trong khi học tập và viết sách” . Đây là trường hợp một dân tộc chưa có văn tự riêng, đã mượn văn tự của dân tộc láng giềng, dùng rộng rãi trong lĩnh vực văn thư, học thuật, trong lúc đó thì hoạt động giao tiếp hằng ngày vẫn nói bằng ngôn ngữ riêng của dân tộc mình. Nhận thức được tình trạng ngôn ngữ phức tạp đó, các giáo sĩ phương Tây đã vận dụng kinh nghiệm thu được trong việc sử dụng mẫu tự La-tinh để ghi âm tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, chuyển âm thành tiếng Việt. Hội An thế kỷ XVII là cái nôi của những người buôn bán Nhật Bản, Trung Quốc, các giáo sĩ phương Tây (Anh, Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha…) đã tạo ra quá trình sáng chế văn tự Quốc Ngữ. Từ cuốn kỹ thuật chữ Quốc Ngữ của Borri chưa phân biệt được các dấu (huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã) đến các sách xuất bản năm 1651 của A.de Rhodes, chữ Quốc Ngữ đã có bước tiến nhảy vọt, có hệ thống dấu giọng như ngày nay. Giáo sư Dương Quảng Hàm viết: “Việc sáng tác chữ Quốc Ngữ chắc là một công cuộc chung của nhiều người, trong đó có cả giáo sĩ người Tây Ban Nha và Pháp Lan Tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố Alexandere de Rhodes vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng Quốc Ngữ.”

Alexandere de Rhodes viết lời tựa ở đầu cuốn Từ điển: “Để khởi thảo cuốn tự điển này, không những tôi nhờ chính người bản xứ đã giúp tôi học tiếng trong vòng gần mười hai năm, suốt thời kỳ tôi ở Đàng trong và Đàng ngoài, mà tôi còn học hỏi với các nhà truyền giáo khác. Tôi đã từng học với Francesco de Pina, một người Bồ Đào Nha thuộc Dòng Tên hèn mọn của chúng tôi. Ông là người rất giỏi tiếng bản xứ và là người đầu tiên dám tự giảng bằng tiếng bản xứ. Ngoài ra tôi còn lợi dụng công việc của các giáo sĩ khác cũng thuộc Dòng Tên, nhất là Gaspar de Amaral và Antonio Barbosa. Cả hai ông này đều làm mỗi ông một cuốn từ vựng. Ông Gaspar de Amaral làm cuốn Việt- Bồ. Ông Antonio làm cuốn Bồ- Việt. Nhưng tiếc rằng cả hai ông đều chết sớm. Tôi lợi dụng công việc của cả hai ông viết ra cuốn từ vựng mới, có chua thêm tiếng La-tinh.”

Việc phiên âm chữ Quốc Ngữ bằng mẫu tự La-tinh còn có sự đóng góp không thể thiếu của người Việt Nam. A. de Rhodes nói đến công lao của “những người bản xứ” đã giúp ông học tiếng Việt trong gần mười hai năm, mà chính ông còn nhắc đến chú bé “bản xứ” đã dạy ông trong ba tuần những âm khác nhau của tiếng Việt, mặc dầu chú không biết tiếng Pháp, còn ông thì chưa biết tiếng Việt nào. Những người nghiên cứu lịch sử tiếng Việt còn nhắc đến tên tuổi của những thầy dòng Việt Nam có đóng góp quan trọng cùng các giáo sĩ phương Tây như: Igesco Văn Tín, Bento Thiện, Philiphê Bỉnh…

Giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đã đi nghiên cứu ở Thư viện Vatican, Thư viện Quốc gia Paris và đã thuyết trình đề tài lịch sử tiếng Việt tại Đại học phương Đông Napoli- nước Ý năm 1978, Đại học Nice- Pháp năm 1982. Trở về Hội An ông nói:

- Đề tài chữ Quốc Ngữ, một đề tài bao quát một khối tư liệu đồ sộ mà nhà nghiên cứu cần và mong được đi lục lọi ở các thư viện nước ngoài như: Thư viện Tòa Thánh Vatican, Thư viện Dòng Tên ở Roma, Thư viện Lisbon, Thư viện Quốc gia Pháp, Thư viện ở Goa, ở Ma Cao… thì chính sự kiện đó đã bắt đầu tại miền đất này của đất nước ta, dựa trên ngữ âm của địa phương vùng này, với những địa danh Việt Nam xuất hiện trước tiên và thường xuất hiện đi, xuất hiện lại trên các trang sách nghiên cứu của người nước ngoài. Đó là: Hội An, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Nước Mặn, Qui Nhơn…

II. Chữ Quốc Ngữ nở hoa kết trái trong hồn Việt:

Người Việt Nam tự hào thấy rõ sự sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ là “Hoa quả tốt đẹp của cuộc kỳ ngộ giữa văn hóa dân tộc Việt Nam và văn hóa La-tinh của các dân tộc châu Âu” . Hoa thơm quả ngọt đó lại được nảy mầm từ sông, từ đất Hội An, để hôm nay, du khách năm châu, bốn biển tới đây ngẩn ngơ đi tìm hồn chữ Việt.

Alexandre De Rhodes là người phương Tây đầu tiên giới thiệu về đất nước, con người Việt Nam với châu Âu bằng những cuốn sách do chính ông viết bằng chữ Quốc Ngữ. Và chữ Quốc Ngữ dần dần được cha ông ta, nuôi cấy, phát triển nó thành hoa trái trong hồn Việt, suốt hơn ba trăm năm qua. Nay chúng ta được thừa hưởng vốn quí đó, và không ngừng sáng tạo chữ Quốc Ngữ, hiện đại, phong phú, biểu cảm được chính xác và sâu sắc tâm hồn, tư tưởng, sức sống Việt Nam.

Hành trình gieo trồng chữ Quốc Ngữ âm thầm chảy trong lòng dân Việt… Mãi đến năm 1865, xuất hiện Gia Định báo - tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ ra đời tại Sài Gòn, tạo đà cho người Việt ở Đàng Trong dùng chữ Quốc Ngữ những năm cuối thế kỷ XIX. Đầu thế kỷ XX, người có công phát triển chữ Quốc Ngữ là Nguyễn Văn Vĩnh (1882- 1936)- nhà tân học, nhà văn, nhà báo tiên phong. Nguyễn Văn Vĩnh quê ở huyện Thường Tín- Hà Đông, sinh tại số 46- Hàng Giấy- Hà Nội, trong một gia đình đông con, học tiếng Pháp, đỗ thủ khoa, 14 tuổi làm thông ngôn tòa sứ Pháp- Bắc Ninh, sau được chọn làm thư ký Tòa đốc lý Hà Nội. Năm 1906 được cử đi Hội chợ Marseille, đến Paris, tiếp xúc với báo chí, kỹ thuật in, và văn minh, nghệ thuật, văn hóa Pháp, về nước, ông xin thôi, không làm quan cho Pháp. Năm 1907, Nguyễn Văn Vĩnh sáng lập Đăng Cổ Tùng Báo - tờ báo đầu tiên bằng chữ Quốc Ngữ ở miền Bắc. Năm 1913, ông xuất bản Đông Dương tạp chí dạy dân Việt viết văn bằng chữ Quốc Ngữ, thúc đẩy xã hội Việt Nam dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Hán, chữ Nôm. Cả cuộc đời Nguyễn Văn Vĩnh hiến dâng cho việc truyền bá Quốc Ngữ và là cầu nối văn hóa Đông- Tây. Ông làm chủ bút nhiều tờ báo, tạp chí, mở nhà in, nhà xuất bản sách báo bằng chữ Quốc Ngữ và cùng giới trí thức Hà Thành sáng lập Đông Kinh Nghĩa Thục, Hội trí Tri, Hội dịch sách… Nguyễn Văn Vĩnh dịch nhiều tác phẩm của các đại văn hào Pháp sang Quốc Ngữ: Lafontaine, Victor Hugo, Alexandre Dumas, Molière… dịch Truyện Kiều sang Pháp văn… Nhưng chớ trêu thay cái nghề cầm bút! Nguyễn Văn Vĩnh say mê chữ Quốc Ngữ, càng làm báo, viết văn, dịch sách, xuất bản… càng nợ chồng chất. Vỡ nợ. Gia sản bị tịch biên. Nguyễn Văn Vĩnh phải sang Lào đào vàng và chết trên một con thuyền độc mộc trong khúc sông sâu, rừng thẳm, vì sốt rét. Tay ông vẫn nắm chặt cây bút và một quyển vở ghi chép. Ông đang viết dở thiên phóng sự: “Một tháng với những người tìm vàng”. Giờ đây người Việt Nam ở bốn phương không quên Nguyễn Văn Vĩnh và lời tiên tri của ông: “Nước Nam ta mai sau này hay dở cũng ở chữ Quốc Ngữ”.

Năm 1915 vua Duy Tân ra chỉ dụ bỏ các khoa thi (Hương, Hội, Đình) ở Bắc kỳ. Năm 1918, vua Khải Định bãi bỏ các khoa thi này ở Trung kỳ, năm 1919 bãi bỏ hoàn toàn các trường dạy chữ Nho, thay thế bằng hệ thống trường Pháp- Việt. Ngày 18-9- 1924 Toàn quyền Đông Dương Merlin ký quyết định đưa chữ Quốc Ngữ vào dạy tiểu học.

Những năm 1930- 1945 phong trào thơ Mới và văn chương Tự lực văn đoàn bừng nở, tạo sự phát triển rực rỡ chưa từng có của chữ Quốc Ngữ với hàng loạt tên tuổi các nhà văn, nhà thơ tài năng: Huy cận, Chế Lan Viên, Thế Lữ, Nhất Linh, Khái Hưng…

Đầu thế kỷ XXI. Con cháu “Thần Siêu” đêm ngày tới tấp Tả Thanh Thiên (Viết lên lời xanh) tung chữ Quốc Ngữ lên internet. Hai mươi bốn chữ cái nhẹ nhàng bay cao, bay xa, nhanh, đẹp, mạnh, sắc, chở nặng tình cảm, yêu thương, trí tuệ, tâm hồn, mạch sống Việt Nam, nhảy múa trên trời xanh, thỏa ước mơ của “Thần Siêu”. Và chúng ta biết ơn những người chế tác ra chữ Quốc Ngữ.

Những chiều Hồ Gươm. Tôi đi tìm chữ hay tìm hồn giáo sĩ Alexandre de Rhodes. Ở Đàng Ngoài còn một tấm bia viết về ông ngày xưa dựng ở sân đền Bà Kiệu, cạnh gốc đa già cổ kính nhất Hà Nội, đã bị người ta cất giấu ở nơi nao?

Tôi vào Hội An tìm dấu tích của ông. Không thấy hình bóng Alexandre de Rhodes. Ngày xưa ông đã lặng lẽ đêm thâu trong một góc nhà thờ nào của Hội An để cặm cụi ghi từng âm tiếng Việt chuyển sang chữ La-tinh? Không thấy hình bóng những giáo sĩ Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý, Pháp… chụm đầu bên những chú nhỏ tóc trái đào bi bô dạy nhau phát âm tiếng Việt với những dấu huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng… cao thấp, líu lô như chim hót mỗi ban mai, hay hoàng hôn xuống, trong tiếng chuông nhà thờ rung nhè nhẹ…

Tìm ở họ đâu ? Hình bóng những con người có tên và không tên, ngày đêm thầm thì sáng tạo chữ Quốc Ngữ cho đất nước này đã biến mất nơi đâu? Nhưng anh linh của họ lẫn trong hồn chữ Quốc Ngữ, mà mỗi khi ta viết lên, hồn thiêng hiển hiện, để ngày nay, chữ Quốc Ngữ nhanh chóng kết nối cùng nhân loại qua internet. Nếu không có mẫu tự La-tinh thì cuộc kết nối internet của người Việt Nam hiện đại sẽ khó và chậm hơn rất nhiều.

Cùng với giáo sư Nguyễn Văn Hoàn đi tìm linh hồn chữ Việt trong phố cổ Hội An, tôi bỗng nảy ra ước muốn. Ước gì tôi có thật nhiều tiền để trở về Hội An xây nên một khu vui chơi mang tên Vườn Chữ kể lại lịch sử hình thành ch÷ Việt. Trong Vườn Chữ sẽ trồng hai mươi bốn cây biểu trưng cho hai mươi bốn chữ cái như: Bưởi, Chuối, Đào, Dừa, Đào, Mít, Na, Hồng, Tre, Lim, Gụ, Sến, ổi, Quýt… Trồng các loài hoa có tên hai bốn chữ cái: Hồng, Lan, Nhài, Mai, Cúc, Thủy Tiên, Sen, Anh Đào, Lay-ơn, Făng… Trồng các loại rau có tên hai mươi bốn chữ cái: Cải, Dền, Đay, Mồng tơi, Muống, Su su, Bầu, Mướp, Húng, Thì là, Gừng, Nghệ, Ớt… Trong không gian cây hoa xanh tươi mát này, trưng bày tượng của Ch.Borri, A.de Rhodes và những em bé, những giáo sĩ châu Âu, giáo sĩ Việt Nam… sáng tạo chữ Quốc Ngữ, để trẻ em, người lớn trong và ngoài nước đến đây có thể chơi trò đố lá, tìm hoa, tìm chữ, ghép chữ, dạy nhau nói tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Bồ, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hoa, tiếng Nhật, tiếng La-tinh, tiếng Ý… Ẩn trong Vườn Chữ là ngôi nhà gỗ cổ Hội An trưng bày các loại chữ: chữ Nôm, Quốc Ngữ, Hán, La-tinh, Bồ Đào Nha, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Nhật… Ở đây mọi người có thể dạy nhau viết các loại chữ, trình bày nghệ thuật thư pháp… Có thư viện đủ tư liệu và các loại sách viết về Hội An từ xưa đến nay bằng các thứ tiếng: La-tinh, Hán, Nhật, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh… Ở đây, mọi người sẽ được sống lại không khí sáng tạo tiếng Việt và chữ Quốc Ngữ rực rỡ một thời, để cùng nhau hiện đại hóa chữ Quốc Ngữ và tiếng mẹ Việt Nam.

Vườn Chữ luôn sáng tươi màu nắng vàng xứ sở, linh hồn giáo sĩ Alecxandre De Rhodes hiện về mỉm cười vui cùng Chữ. Ông kể cùng ta câu chuyện cuộc đời mình, chót đắm say tiếng Việt mà làm ra chữ Quốc Ngữ.

Chuyện kể rằng năm lần đến Hội An, từ những năm 1624- 1645, ông đã chịu nhiều hiểm nguy, đã bị xua đuổi, nhưng lòng ông say đắm khôn cùng cái xứ sở tràn ngập nắng vàng và những con người nhỏ nhắn, hiền hòa quần áo nâu lẫn cùng màu đất ruộng đồng. Các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong hồi đầu thế kỷ XVII tỏ ra dễ dãi với các giáo sĩ, cho phép họ tự do cư trú, truyền bá đạo Thiên Chúa (năm 1614 cho phép họ xây dựng nhà thờ ở Hội An) nhưng về sau, càng ngày càng mâu thuẫn với các nhà truyền giáo và ban bố các sắc lệnh cấm đạo Thiên Chúa nghiêm ngặt. Tháng 5-1630, A. Rhodes bị Trịnh Tráng trục xuất ra khỏi Đàng Ngoài. Tháng 2-1640 ông từ Áo qua lại Đàng Trong, xin được đến Kim Long để yết kiến Chúa Thượng, nhưng khi trở về Hội An, ông được lệnh rời khỏi phố cảng ngày 20- 9- 1640. Tháng 12 năm ấy, ông đến Hội An lần thứ ba và lại bị trục xuất lần nữa vào ngày 2- 7-1641. Vốn có quan hệ mật thiết với nhà thờ Thiên Chúa giáo Dòng Tên ở Hội An, ông lại đến đây lần thứ tư (tháng 1-1642 đến tháng 9- 1643). Lần này ông thành lập được đoàn thầy giảng đạo người Việt gồm mười vị và không bị cản trở. Tháng 3-1644 A. Rhodes quay lại Hội An lần thứ năm thì bị quan Cai bộ Quảng Nam cho lính đến vây nhà. Đồ đệ người Việt của ông là thầy giảng André- Phú Yên bị chém. Hai tháng sau A. Rhodes bị Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan ghép án tử hình vì tội ngoan cố chống lại pháp lệnh của Nhà nước. Nhưng nhờ sự can thiệp của các thương nhân, ông được ân giảm thành án trục xuất, buộc phải rời Đàng Trong vĩnh viễn vào ngày 3-7-1645.

Ông đi khỏi xứ sở nắng vàng, lòng thảnh thơi. Không thù hận. Không oán hờn. Vẫn yêu thương con người, đắm say cái thứ tiếng Việt líu ríu như chim hót trong rừng những đêm đen. Năm năm sau, tại thành Rôme, A. Lecxandre De Rhodes xuất bản cuồn Từ điển Annam- Lusitan- Latin, chính thức tạo thành chữ Quốc Ngữ cho dân tộc Việt. Ôi! Alexandre De Rhodes! Linh hồn ông trong sáng như ánh sao đêm trên bầu trời xa. Ông đã đến đây, truyền Tinh hoa nhân loại cho những con người chân trần bám chặt vào nền đất nâu bạc màu năm tháng. Hồn ông thăng hoa thành chữ gửi lại xứ này. Trái tim ông ở mãi với đất, trời Việt Nam, cùng chữ Quốc Ngữ, như ông đau đớn thú nhận: “Trái tim tôi vẫn còn ở lại nơi đó”

III. Người Hà Nội- Việt Nam ghi nhớ Alexandre De Rhodes:

Khi đã thông thạo tiếng Việt ở Hội An, Alecxandre De Rhodes được cử ra Đàng Ngoài truyền giáo, ở lại đây từ năm 1627- 1630. Ông để tâm nghiên cứu phong tục, tập quán, lịch sử, thiên nhiên Việt Nam, viết Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài, Hành trình truyền giáo Đàng Ngoài…

Ông viết: “Khi chúng tôi vừa đến kinh đô Đàng Ngoài, tức khắc nhà vua truyền lệnh cho tôi phải xây một nhà ở và một nhà thờ thật đẹp. Dân chúng tuôn đến nghe giảng đạo đông đến nỗi tôi phải giảng bốn hoặc sáu lần trong một ngày. Chị vua và mười bảy người thân trong hoàng tộc xin lãnh nhận bí tích rửa tội. Nhiều tướng lĩnh và binh sĩ cũng xin theo đạo”.

Năm 1630, Chúa Trịnh Tráng trục xuất Alexandre De Rhodes ra khỏi Đàng Ngoài. Nhưng hơn ba trăm năm nay, người Đàng ngoài vẫn nhớ công sáng tạo chữ Quốc Ngữ của Alexandre De Rhodes. Năm 1943, chính quyền Pháp ở Đông Dương dựng tượng, tôn vinh những đóng góp của ông và in bộ tem, được chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa tiếp tục lưu hành sau 2-9-1945. Ngày 5-11-1961 chính quyền Việt Nam cộng hòa phát hành bộ tem bốn con kỷ niệm quá trình phát triển chữ Quốc Ngữ, một năm sau ngày mất của ông. Hiện nay tên ông được đặt cho một trường học và một đường phố Sài Thành.

Ngày 29-5- 1941, tại khuôn viên nhỏ cạnh đền Bà Kiệu bên Hồ Gươm đã khánh thành nhà bia có tấm bia ghi công Alexandre De Rhodes. Không biết ai đã phá bỏ nhà bia này? Vào những năm 1980, trên vị trí này dựng tượng đài “Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Song người Hà Nội không bao giờ quên tấm bia.

Năm 2004, Phó Giáo sư Hà Đình Đức- người chuyên chăm sóc Cụ Rùa Hồ Gươm, lên tiếng trên bản tin TTXVN “Nên dựng lại nhà bia Ale xandre De Rhodes trên vị trí cũ bên Hồ Gươm” . Theo Hà Đình Đức, nhà bia và tấm bia về Alexandre De Rhodes được dựng cạnh đền Bà Kiệu bên Hồ Gươm với sáng kiến của cụ Nguyễn Văn Tố. Đó là phương đình bốn mái theo kiểu kiến trúc phương Đông, nền xi măng gấp khúc 12 cạnh, có năm bậc, năm lối lên. Bên trong dựng tấm bia đá cao 1.7m, rộng 1.10m, dày 0,20m, đế bia cao 50cm. Mặt bia ghi tóm tắt cuộc hành trình truyền giáo và công lao Alexandre De Rhode trong việc chế tác chữ Quốc Ngữ, được khắc bằng ba thứ ngôn ngữ: Quốc Ngữ, chữ Hán và chữ Pháp.

Trong văn bia có đoạn: “Người soạn ra nhiều truyện ký đều diễn dịch ra mấy thứ tiếng, và người soạn ra quyển sách Bổn và quyển tự vị tiếng Việt Nam, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng La tinh là những sách bằng tiếng Việt Nam dịch âm theo chữ La tinh xuất bản trước tiên, nên tên người cũng được lưu truyền với cái công nghiệp phát minh ra chữ Quốc Ngữ.”

Văn bia còn ghi: “Khi phải dời bỏ xứ Việt Nam, Người lấy làm tiếc nên có nói rằng: Phần xác ta dời bỏ đất Nam với đất Bắc, nhưng thực ra lòng ta vẫn quyến luyến, nói cho đúng, vẫn bàn hoàn với cả hai nơi và ta chắc rằng không bao giờ lòng ta lại quên được hai xứ ấy.”

Tấm bia đá nặng tình, trọng nghĩa của dân tộc ta với người khai mở văn hóa, văn minh, giao lưu cùng phương Tây ấy, đã từng bị làm đe ghè của mấy anh thợ khóa vỉa hè Hà Nội, làm bàn của bà bán nước chè chén, rồi lang thang phiêu bạt tận bờ sông Hồng, sau khi nhà bia bị phá. May mà, hồn cha ông linh thiêng đưa dẫn, tấm bia ghi công Alexandre De Rhodes hiện đang được lưu trong kho Ban quản lý di tích và danh thắng Hà Nội.

Song thiêng liêng hơn tượng đồng, bia đá, chữ Quốc Ngữ đã trở thành ngôn ngữ của người Việt Nam. Mỗi khi chúng ta dùng chữ Quốc Ngữ, không thể quên Alexandre De Rhodes.


Hồ Gươm mùa Ổi chín- 2009
© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả gởi từ Hà Nội ngày 17.09.2009.
. Tác phẩm của Mai Thục chỉ đăng tải duy nhất trên Newvietart ở nước ngoài.
. Xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com khi trích đăng lại.