AMOS OZ
SỰ THOẢ HIỆP CỦA CUỘC ĐỜI

Một Con Người - Một Công Dân - Một Nhà Văn

"Cuộc Đời là một sự Thỏa Hiệp.
Thoả Hiệp có nghĩa là Cuộc Sống.
Và trái ngược với hai chử Thoả Hiệp không phải là hai chữ Lý Tưởng mà chỉ là sự Cuồng Tín và Chết Chóc".


Amos Oz

Amos Oz là một nhà văn Do Thái hiện đại được người ta biết nhiều nhất trên thế giới.

Tác phẩm của Amos Oz phong phú , đi từ việc riêng tư đến những sự kiện chung, từ tự truyện đến hư cấu, văn xuôi thơ mộng sang những bài kích chính trị.Toàn bộ những tác phẩm của Amos Oz hợp thành một bức tranh lớn tuyệt đẹp qua đó người đọc thưởng thức, qua tính cách nghiêm trọng, hóm hỉnh, thơ mộng dưới ngòi bút của ông và sự ra đời , sự trưởng thành phức tạp của xã hội Do Thái. Luôn luôn bằng nhân tính, bằng sự rộng lượng và với nụ cười khinh rẻ về tất cả mọi điều cuồng tín. Tác phẩm của Amos Oz là tác phẩm của cuộc đời làm cho người đọc hoàn thiện hơn, cởi mở hơn với những người khác .
Amos Oz được ca tụng khắp nơi trên thế giới và gần đây qua giải thưởng Asturies cho thấy sự chú ý từ nhiều năm qua là một người có thể đoạt giải thưởng Nobel Văn chương với những tác phẩm đã được chuyển dịch , phổ biến rộng rãi qua hơn 37 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và năm 2007 Amos Oz đã thật kề cận giải Nobel Văn chương đã xác định vị trí của ông, một trong những nhà văn xuất sắc khi còn sinh tiền. Song cùng lúc Amos Oz cũng lại thường xuyên được nhắc nhớ tới trong vị trí một thành viên sáng lập vào năm 1978 của phong trào Shalom Arshav - Hoà Bình Ngay Bây Giờ . Zvi Hendel, nghị viên của Parti National Religieux Do Thái đã tạo ra nhiều cuộc bút chiến khi ông này lên tiếng phản đối việc trao giải thưởng Prix d'Israël năm 1998 cho Amos Oz. " Về mặt văn chương của Amos Oz tất nhiên không có điều gì để có thể chối cãi được nữa. Nhưng thực không thể chấp nhận được khi giải thưởng này được trao cho ông ta, bởi vì ông ta đã viết một bài cách đây 12 năm so sánh tập thể những colon - dân di cư - với những chiến sĩ của phong trào Hezbollah (chiite Libanais ngả theo Iran) đối kháng với sự tự do ", đó là lời phát biểu của Zvi Hendel trên đài phát thanh Do Thái. Rất nhiều người Do Thái có thiện cảm với Amos Oz đã cực lực lên tiếng phản đối quan điểm của Z.Hendel vì đối với họ Amos Oz là một nhà văn quốc gia Do Thái không thể chối cãi được và việc xướng danh trao giải văn chương Israël năm 1998 (Prix d'Israël) cho Amos Oz của vị chủ tịch giải thưởng này nhân dịp lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập quốc gia Do Thái vào ngày 30 tháng 4 năm 1998 là một quyết định hiển nhiên và hợp lý.

Sự việc xảy ra này cũng cho thấy trong vai trò một người đấu tranh nhiều khi cũng che lấp vị trí của một nhà văn. Amos Oz thường xuyên hay được thỉnh ý trong những vấn đề tranh chấp giữa Do Thái và Palestine hơn là nói chuyện về tác phẩm văn chương của ông. Đề cập tới những chuyện thời sự nóng bỏng nhưng Amos Oz vẫn luôn nói với quần chúng những điều cốt yếu, rõ ràng. Ông tượng trưng cho một "hòn đảo nhỏ" của sự khôn ngoan và đạo lý trong cái thế giới đang lạc hướng vào những tư tưởng dẫn tới những hành động cực đoan.

Amos Oz là một nhà văn nhưng ông cũng không quên vai trò của một công dân. Hai khuôn mặt trong cùng bài học về chủ nghĩa nhân đạo .

« Sự bất thiện chẳng phải ở ngay cửa ra vào của ta, nó lảng vảng ở chính trong mỗi con người chúng ta, đôi khi nó thật khôn khéo hoá trang bằng chủ nghĩa lý tưởng và sự thành kính tôn giáo ». Hai chữ mà bà nội tôi đã nói lúc còn sinh tiền.

I)- NGƯỜI

« Khi lớn lên, tôi muốn được là một quyển sách. Việc này ít nguy hiểm hơn là trở thành một người, và, với sự may mắn, ít ra thì một bản của tôi sẽ còn tiếp tục sống...»

Để hiểu về tác phẩm và hành động của ông phải dành quyền để cho ông được nói, và Amos Oz lại là người hay nói giống hệt như những người kể chuyện khác: Ông nói nhiều và viết nhiều. Vả chăng phương cách ngắn nhất để theo những lối đi của Amos Oz là ở chỗ đọc « Israel Palestine and Peace, Selected Essays and Articles, 1994 » hoặc « The Real Cause of my Grandmother’s Death, xuất bản năm 1995 » trong đó Amos Oz viết rất rõ rệt. Hầu hết những câu danh ngôn của Amos Oz được người ta trích dẫn từ tập tiểu thuyết-tiểu luận này.

Điều đòi hỏi quan trọng nhất là người đọc cần phải theo lời hướng dẫn chí lý của ông :

« Để biết về tôi bằng duy nhất một chữ, đó là chữ « Gia Đình ». Để biết về tôi qua 2 chữ, đó là những chữ « Gia Đình Bất Hạnh ». Để biết về tôi một cách hoàn toàn nhiều hơn 3 chữ, hãy đọc những sách tôi viết. »

Và trong cái hạt nhân chủ yếu của nhân loại, gia đình đó, cùng lúc vừa là tâm điểm của ánh sáng lại vừa là sự tăm tối. Vừa bình an và cũng lại vừa xâu xé.

« Hãy thực chú tâm. Những giọng nói thân thuộc của gia đình thấm nhập vào da thịt anh. Hãy nắm lấy sức lực. Nén thở. Nhắm mắt lại. Có thể. »(trong Elsewhere, Perhaps - tập truyện xuất bản năm 1966) .

Trong bức tranh lớn đó hình thành nét vẽ âu yếm nhưng cũng mỉa mai của Amos Oz, khước từ tất cả biên giới khép kín giữa sự bi thương và hài kịch là mấu chốt của một tình yêu không bao giờ có sự đền đáp của những người gốc Do Thái (Juifs) ở Âu châu đối với một Âu châu đã ruồng bỏ họ, hủy diệt họ. Những người Do Thái đó đã là những người Âu châu thực thụ trong lúc những người khác chỉ là những kẻ yêu nước. Sự lưu vong kia tiếp tục đục khoét họ và đập giáng họ đối kháng lại sự lưu đầy của những người Palestines. Cả hai, Do Thái và Palestine đều bệnh hoạn vì Âu châu và cả hai lại tự nguyền rủa lẫn nhau trong khi những đao phủ thì lại ở nơi khác. Sự phân tranh đó vẫn lại là những gia đình, vì thế càng tàn ác hơn, càng mù lòa hơn , càng đẫm máu hơn.

Ở tầng nền tự truyện tưới đẫm hư cấu của Amos Oz cũng như một số chi tiết vế cuộc sống của ông không phải cần tới sự giả tạo thêm mắm dậm muối vào truyện kể, nhưng thường rất đơn sơ, giản dị.

II )- HÀNH TRÌNH CỦA NGƯỜI ĐÀN ÔNG

Amos Oz sinh ngày 04 tháng 5 năm 1939 tại thành phố Jérusalem. Thân phụ , ông Yehuda Arieh Klausner và bà Fania Musman đều là những người gốc Do Thái từ Đông Âu tới định cư tại vùng đất Palestine rất sớm. Gia đình tuyệt vọng này đã bị Âu châu, nơi mà họ đã từng thiết tha yêu mến, nơi đã ruồng bỏ họ dưới lằn roi của chủ nghĩa bài Do Thái điên dại.
Thân phụ Amos Oz theo học về lịch sử và văn chương ở Vilnius , thủ đô nước Lituanie sau đó trở thành một nhân viên thư viện và nhà văn trong những ngày lạc lõng tại thành phố Jérusalem. Yehuda Arieh Klausner sống giữa những quyển sách và những ngôn ngữ vì bản thân ông nói được hơn 12 và đọc được hơn 20 thứ tiếng khác nhau . Về phần bà Fania Musman , mẹ Maos Oz, bà có thể xử dụng được 7 thứ ngôn ngữ.

Tình yêu đam mê về Âu châu của Amos Klausner vẫn hiện diện trong văn chương của ông. Tuy nhiên như Amos Oz đã nói " Âu châu không ưa chuộng gì họ. Những người quốc xã và những người cộng sản đã gọi họ là "bọn sống lang thang lúc thì ở nước này khi thì ở nước khác " , " trí thức không cội gốc ", " vật ký sinh ", ... Họ đã bị mọi phe phái ruồng đẩy khỏi Âu châu từ những năm 1930. Nhưng họ đã có một cái may : Nếu không xảy ra như vậy thì tất cả đã bị sát hại vào những năm 1940. Cũng như những người khác, cha mẹ tôi đã trôi dạt đến tận vùng đất Palestine. Đó là sự chọn lựa duy nhất mà họ đã có ".

Amos Oz đã sống ngụp lặn trong biển sách vở thư viện của gia đình và trong văn hoá Âu châu, đặc biệt là Nga. Ông đã làm sống lại những nhân vật trong khu vực mà bà ngoại ông là sở hữu chủ của một chiếc cối xay ở Rivne, Đông Ba Lan (hiện nay là Ukraine), nhưng bà ngoại ông cũng đã đến Haïfa vào năm 1934.

Trong A Tale of Love and Darkness , Amos Oz đề cập đền thời thơ ấu của ông tại Kerem Avraham, một khu vực nghèo khó ở Jérusalem, và sự khủng hoảng tâm thần của ông có dính líu đến cái chết của mẹ ông, bà đã tự tử , lúc ông mới chỉ được 12 tuổi. Vào lúc được 14 tuổi, ông từ giã người cha, người mà ông không tha thứ vì đã không biết cách ngăn cản cái chết của mẹ ông. "Lúc 14 tuổi, tôi nổi loạn đối kháng lại cái thế giới của cha tôi, những giá trị, những truyền thống của thế giới này, và tôi bỏ đi tới sống tại một kibboutz . Cha tôi là một trí thực phe hữu, tôi quyết định trở thành một người lái xe kéo của phe tả. Cha tôi nhỏ con, tôi muốn cao lớn (điều này đã không thành sự thực). Tôi không viết được điều này nhất là khi cơn giận bùng lên che khuất lòng trắc ẩn. Bây giờ, tôi hình dung ra cha mẹ tôi giống như những đứa con tôi, đôi khi ngớ ngẩn, đôi khi lại khắc khe ác độc, những người không nhìn xa. Thật là vừa bản chất của con người lại vừa đáng buồn ".

Amos Oz đến sống tại một kibboutz tả phái, Houda, gần biên giới nước Jordanie. Ông đã sống với những điều không tưởng đẹp đẽ với sự bình đẳng tuyệt đối này . Cũng trong thời kỳ này, năm 1954, Amos Klausner đã lấy tên « Oz », tiếng Do Thái có nghĩa là « sức mạnh, lòng can đảm » . Cũng như phần đông những người Do Thái, Amos Oz đã phục vụ trong hàng ngũ Tsahal (quân đội Do Thái). Vào cuối những năm 1950 ông hiện diện trong một đơn vị Nahal (bộ binh) và tham dự trong những cuộc chạm súng tại biên giới Syrie; trong trận đánh - Guerre des Six Jours - 6 ngày vào năm 1967, Amos Oz có mặt tại một đơn vị thiết giáp trong vùng Sinaï; suốt thời kỳ chiến tranh Kippour từ năm 1973 ông đồn trú trên vùng cao nguyên Golan.

Rời bộ binh Do Thái, Oz theo học triết học và văn chương Do Thái cổ tại viện Đại Học Do Thái . Ngoại trừ một số bài viết ngắn cho những tờ báo của các kibboutz - nông trường tập thể - và tờ nhật báo Davar, ông không ấn hành gì khác trước năm 1965 . Tập tiểu thuyết đầu tiên của ông được xuất bản năm 1966 khi ông được 22 tuổi. Kể từ đó ông viết không ngừng nghỉ, xuất bản trung bình mỗi năm một tác phẩm hầu hết tại nhà xuất bản của đảng Lao Động, Am Oved.

Amos Oz vẫn cư ngụ trong kibboutz cho tới lúc ông và Nilly, vợ ông, dọn tới Arad, về phiá bắc sa mạc Néguev. Năm 1986 vì Daniel, con trai họ bị bệnh xuyễn.

Những năm sau này, trở thành nhà viết tiểu thuyết, Amos Oz đã làm một cuộc hành trình khá lâu trở lại Âu châu như để tìm lại cội rễ của ông.

Năm 1977, Amos Oz là một thành viên của phong trào « Hoà Bình ngay bây giờ », Shalom Arschav, một tập thể quốc tế của những người tranh đấu nêu lên khẩu hiệu đối thoại với những người Palestine, và tán thành việc thành lập một quốc gia Palestine, dù rằng phải trả một giá đau thương cho những sự nhượng bộ .

Tuy nhiên chính ông đã truyền bá tư tưởng này từ lâu trước đó...Ký tên trong thoả hiệp Genève, tên tuổi của Amos Oz thường xuyên xuất hiện trong báo chí thế giới. Cuộc chiến sau cùng tại Liban vào năm 2006, những biến chuyển trong vùng Gaza, cũng đã làm tổn thương niềm tin "không tưởng" vào hoà bình của ông. Ông vẫn tiếp tục đối kháng hăng hái với tất cả mọi làn sóng thù hận từ mọi phiá.

Năm 2006, Ams Oz trở lại với sách vở qua tập tiểu thuyết « Suddenly in Depth of the Forest » tiếp theo là một quyển sách có tính cách châm biếm về tầm vóc « nhà văn lớn » của chính ông, « Rhyming Life and Death ».

Amos Oz sống trong sự yên tĩnh tại căn nhà giữa sa mạc và trong căn hộ náo động tại hướng bắc Tel-Aviv, nhưng nơi cư trú thực sự của ông là trong những quyển sách càng ngày càng chất cao hơn trong những kệ sách.

Đối với Amos Oz, sự vĩnh cửu chỉ có thể dự kiến bởi những mảnh vụn, và những mảnh vụn của sự vĩnh cửu đi qua những trang sách. Và cũng đi qua bằng lòng luyến tiếc dịu dàng về thời ấu thơ của ông với những chú lính bằng chì, những bộ sưu tập tem thư, cửa hàng thực phẩm khô nhỏ bé, những quyển sách và những quyển sách, người cha nói rất nhiều thứ tiếng trên thế giới, bãi biển, sự u sầu của người mẹ, những con đường ở Jérusalem, những thầm kín riêng tư, ....

Ông đặt câu hỏi về những giằng co căn bản của con người :

«Làm thế nào để kết hơp được sự nỗi luyến tiếc hiểm nguy của lửa và sự khủng khiếp của đống tro tàn ».

Tất cả đều ở đó, giữa lòng ham muốn và nỗi hãi sợ. Giữa sự khao khát vượt lên của chúng ta và sự bắt rễ của chúng ta vào những sự xác thực.

Điều không tưởng cho phép sự vi phạm này trong điều kiện của thế gian, ngay rằng không có nhiều hy vọng :

« Ngay khi chúng ta chiêm ngưỡng, thán phục những vì tinh tú trên vòm trời, chúng ta cũng không thể chạm được tới . Điều đó vẫn không cấm đoán được chúng ta chuyên tâm vào chúng »

Sự bi quan tích cực này đã tạo thành sức mạnh của ông. Soi sáng công trình của ông.

III )- MỘT CÔNG DÂN

Amos Oz là người chuyển đạt tiếng nói của tương lai và hoà bình.

Để thực hiện điều này, ông công bố khái niệm của sự thoả hiệp, điều này không phải là một sự rút lui, hay một sự thua cuộc nhục nhã mà chỉ là sự nhìn nhận kẻ khác và tôn trọng lịch sử của họ.

« Không phải là bắt buộc phải đồng ý với qúa khứ, mà phải đồng ý với tương lai bởi lẽ điều này là điều chung của cả hai ».

Tiếng noí " nhà tiên tri Amos Oz " đã tạo sự phiền phức cho nhiều người, và người ta thường chỉ mong " giam hãm " ông trong những tiểu thuyết của ông hơn, song người ta chỉ có thể thực sự yêu chuộng sách của ông khi người ta nghe tiếng nói của một con người chân thực như ông. Amos Oz, người con của thành phố Jérusalem biết chính xác sức nặng của sự hy vọng và sự khắc họa của lời nói. Vì thề ông nói và ông viết, ông không đặt câu nói và ý kiến của mình cao hơn câu noí và ý kiến một người công dân khiêm tốn của nước Do Thái.

Amos Oz là một nhà văn đứng thẳng không chịu đựng sự bóp méo thực tế và ngôn từ. Vì thế một cách thực nhún nhường ông đã dần dà trở nên lương tâm của thế giới do thái vì ông đã chọn hoà bình và sự sống, chứng nhân và lòng yêu thương.

Ông luôn khăng khăng nói với mọi người những tiếng : « đừng bao giờ để sự thù hận lừa phỉnh chúng ta !». Amos Oz là một thành lũy đối kháng những luồng sóng ngầm ồ ạt của chủ nghĩa bảo thủ cực đoan : cuồng tín tôn giáo và quốc gia cực đoan.

Nhà văn Amos Oz với « tiếng nói nhân bản nhỏ bé của ông » đã ngăn chận tất cả trào lưu tôn giáo chính thống cực đoan.

«Thay vì chúng ta thử thay đổi người này hoặc người khác, tại sao chúng ta không nhớ lại được rằng đôi khi hãy đừng nên thêm thắt nỗi đau khổ kinh hoàng mà cuộc sống và cái chết đang dành cho chúng ta ? Và trong tận cùng cội rễ của chúng ta, những thầm kín của mỗi người cũng đều y hệt như nhau »
« Trong chuyện này, không có ai là người hiền lành hoặc là kẻ hung tợn, như những người Âu châu thích tin như vậy. Đó cũng không phải là một phim cao bồi viễn tây, không phải một cuộc chiến đấu giữa Thiện và Ác. Mà đó là một thảm kịch thực sự, một sự xung đột giữa hai yêu sách cực mạnh, có sức thuyết phục và có giá trị, sự xung đột giữa sự công bằng với sự công bằng ».

Amos Oz đã suy nghĩ rất lâu về lịch sử đất nước ông để đi đến kết luận cho một sự phân định mà ông đã chọn lựa bởi lẽ :

«Tôi đã viết những bài báo và những tiểu luận trong đó tôi kêu gọi một thỏa hiệp trong đó không đặt căn bản trên những nguyên tắc , không đặt trên sự công bình giữa người Do Thái và người Ả Rập palestines, bởi vì tôi đã thấy kẻ nào đi tìm một sự tuyệt đối hoàn toàn tự mình dấn thân vào cái chết ».

Amos Oz chiến đấu với những "căn bệnh đầy thú tính của con người" đã có từ rất xa xưa, đó là sự thù hận và lòng cuồng nhiệt. Hiển nhiên cuộc chiến đấu của ông không phải dễ dàng.

Nếu chỉ giới hạn thế đứng của Amos Oz trong cuộc xung đột Do Thái-Palestine là đã quên sự quan hệ đau đớn của ông với Âu châu, " thiên đàng lỡ " của gia đình ông , một gia đình đã được nhồi nặn trong chủ nghĩa "ánh sáng" lý tưởng . Và chủ nghĩa "ánh sáng" này đã đem lại những dấu vết nhọ nồi đen thui khó xóa qua nhiều cuộc tàn sát những người gốc Do Thái. Cái tình yêu điên rồ và phản bội này không chỉ hình thành dọc ngang trong những tác phẩm của ông như Touch the Water, Touch the Wind mà còn cả trong những ý nghĩ :

« 60 năm trước đây, trên những bức tường ở Âu châu nguệch ngoạc đầy những câu : « Les Juifs en Palestine ! » - người gốc Do Thái hãy về Palestine ! - Bây giờ , người ta lại được đọc : « Les Juifs hors de Palestine ! » - Người gốc Do Thái hãy đi khỏi Palestine ! ».

Sự mỉa mai ghê gớm của lịch sử nằm hiện diện đầy dãy trong lòng những tác phẩm của Amos Oz . Trong thâm tâm ông, sự giận dữ đối với Âu châu khi Âu châu vẫn lên tiếng để dạy đời dù rằng chính lịch sử Âu châu lại thấm đẫm máu lửa :

« Âu châu đã gây đổ máu cho biết bao nhiêu nạn nhân vô tội mà con số nạn nhân của tất cả mọi lục địa trên trái đất hợp lại cũng chưa nhiều bằng. Âu châu đã phải bỏ ra một thiên kỷ để tạo hoà bình. Cuộc chiến tranh của chúng ta sẽ ngắn hơn. Nếu tôi là một người Âu châu, tôi sẽ phải khiêm tốn hơn ».

Từ nhiều năm qua, Amos Oz đã trở thành "biểu tượng của lương tâm", dù ông không ưa danh từ này, cùng lúc của đạo đức và chính trị, và là tiếng nói công dân của phong trào hoà bình đã khởi xướng , đóng góp cho cuộc gặp gỡ tại Genève - “The Geneva Initiative”.

Amos Oz là hiện thân của những sự mâu thuẫn đã tạo sinh khí một phần cho sự tăng trưởng của xã hội Do Thái. Ông là niềm hy vọng cho sự chấm dứt của chu kỳ thê lương của lịch sử trong vùng cận đông này. Người ta không ngớt lớn tiếng chê trách ông là ngây thơ , cứ cho là như vậy đi, nhưng biết bao nhiêu là sức sống, biết bao nhiêu là tình yêu tha nhân trong tác phẩm "ngây thơ" của ông ! Mở rộng với cuộc đời bằng tất cả những kẽ hở thật nhỏ bé của lương tri. Do Thái tới tận cùng xương tuỷ nhưng Amos Oz lại là bài học cho chủ nghĩa nhân đạo và sự bao dung.

Sự hóm hỉnh, lòng quảng đại, sức tưởng tượng phong phú và niềm tin không chuyển dịch với tất cả sức mạnh trong và qua văn chương để cứu vớt thế giới, đã tạo cho những quyển sách của ông là những điểm tụ hợp của tình yêu, của đạo lý. Tỉnh táo, minh bạch, nhiều khi giận hờn, đôi lúc thịnh nộ, tất cả đã mang lại những dấu ấn "tiên tri" lời nói của ông. Amos Oz đã phủ chùm một cách uy nghiêm hình bóng đạo đức của ông trên toàn lãnh thổ nước Do Thái .

IV )- MỘT NHÀ VĂN

Dù rằng chính ông cũng đã xác định rằng : « Cách duy nhất để giữ cho giấc mơ luôn tồn tại là đừng bao giờ thực hiện nó », nhưng chính ông đã không theo đuổi câu ngạn ngữ bi quan này. Ông đã được tô điểm bởi những giấc mơ khó tưởng thật đẹp của đời sống bình thường và khước từ sự bi thảm cuối cùng của lịch sử.

Amos Oz là một người kể chuyện tuyệt vời, đôi lúc u sầu, đôi lúc mìa mai, nhưng luôn luôn được che chở bởi sự yêu kiều của những từ vựng. Ông biết một cách sâu xa rằng ông đã được thừa hưởng « cái văn minh về ngôn từ vô chính phủ » này từ trong Do Thái giáo . Và bởi sự tuyệt mỹ của những cuốn sách ông viết, Amos Oz tiếp nối truyền thống đó : « Đúng như thế đó, Do Thái giáo từ những thiên kỷ; như thế đó, Do Thái : một nghị trường vô tận . Tất cả mọi người biện luận, mỗi một người có một ý kiến hay hơn láng giềng của mình, khởi đầu là tôi. Đối với tôi, thuộc thành phần của cái văn minh này, không phải là bị đẩy bằng sức mạnh vào trong một chiếc hầm trú bom đạn . Đây là một sự chọn lựa. Sự chọn lựa khó khăn, trả giá đắt. Nhưng đấy là sự một chọn lựa đẹp, và tôi rất sung sướng ».
Amlos Oz là " người con của ngôn từ " và một người đưa từ vựng và tình nghĩa anh em. Người thợ tuyệt giỏi của ngôn ngữ, thợ thủ công tài cán của những tình cảm, ông đã xây dựng một công trình dịu dàng và mai miả, hoang tưởng chiêm bao và sâu đậm.

Khả năng biết « đặt mình vào hoàn cảnh người khác » của ông, tính tha giác phổ cập của ông, tạo cho « nhà văn lớn » trở thành một nhân chứng chính yếu của thế giới chúng ta đang sống.

« Ngôn ngữ là dụng cụ của tôi. Tôi là một người thợ, làm việc bằng những từ vựng, giống hệt như những người thợ mộc với gỗ. Hàng ngày, tôi đánh hơi chúng, tôi thử chúng, tôi thay đổi chúng, tôi chơi với chúng. ,Tôi nghĩ rằng tôi có một trách nhiệm nào đó đối với những từ vựng. Phi nhân hóa ngôn ngữ, hủ hoá nó, đối xử ai đó là ký sinh hay là sâu bọ, việc này luôn luôn là bước đầu tiên trước khi sát hại ngôn ngữ. Bởi vậy, khi tôi nghe một ngôn ngữ mất tính chất con người là tôi kêu lớn lên. Tôi không thể làm gì khác được ngoài việc kêu lên. Tôi cũng luôn luôn đặt mình vào hoàn cảnh của những người khác: « Vì sao mà anh ta hay chị ta lại như thế ?» Dù rằng đó là một người Ả Rập Palestinne hay một người di dân Do Thái ở vùng Cisjordanie. Tưởng tượng người khác, không có nghĩa nói là yêu hay đồng ý với họ ».

Bậc thầy của các thể dạng, đi từ những tiểu thuyết dưới dạng thư tín (Black Box, The Same Sea...) tới những saga gia đình hoặc tình cảm thầm kín riêng tư, từ loạt sự tích anh hùng tới sự trao gởi chuyện riêng tư, Amos Oz đã gởi tặng một điều vô cùng hiếm hoi: tình huynh đệ bằng văn tự. Ông đã biết làm cho sự thực rất tầm thường trở thành một hành vi đầy thi vị. Ông biết biến thành người phản xạ để sao chép lại những rung động và những ảo ảnh của thời kỳ ông sống. Tỉ mỉ, hoàn chỉnh, ông đẽo gọt đi đẽo gọt lại từng chữ ông viết.

Hàng ngàn lần ông đã sáng suốt đặt lại câu hỏi về sự sáng tạo văn chương khi đề cập lại người anh hùng của ông trong " Rhyming Life and Death" qua 4 câu "Lý do nào anh viết ? Và tại sao lại viết bằng phong cách này ? Vai trò nào truyện anh viết sẽ thủ diễn ?[...] Sẽ có Hiệu qủa gì nếu anh trở thành lừng danh ?". Amos Oz đã trải qua suốt đời đễ thử trả lời một cách thành thực khi viết kể lại những chuyện của ông , những câu truyện đã trở nên mật thiết với mọi người. Ông cũng phân cách chính trị một cách rõ ràng khi viết :" Khi tôi viết, tôi có hai cây bút. Một mực xanh và một là mực đen. Chiếc kia để viết những bài với nội dung đề cập tới giới cầm quyền, cây khác dành viết văn chương (tôi không nói với anh là cây bút màu mực nào). Hai cây bút , chính là, để nhắc nhở cho tôi rằng chính trị và văn chương là hai thứ khác nhau. Hai loại âm nhạc khác nhau ".

Vừa là nhân chứng laị vừa là người mang thảm trạng của con người, sự xuẩn động của con người với những sự cuồng tín của nó, Amos Oz viết từ hơn 50 năm qua, ngắm nghiá những người và những con cá trong bể nuôi cá của ông, và luôn luôn với giọng nói của những nhân vật mà ông viết . Văn phong của Amos Oz như biển, "một cái gì uyển chuyển , một cái gì vừa rất thấm thía lại vừa thật xa xôi ..."

« A Tale of Love and Darkness »«The Same Sea» là hai kiệt tác về tình yêu vào cuộc sống và khôi phục lạibiết bao nhiêu những cơ hội may mắn mới cho sự vĩnh hằng ...

« Bat Yam lại tụ tập đông đảo dân cư mới tới những người, tới lượt họ, trong quạnh quẽ của đêm tối, đã đôi khi tự hỏi rằng mặt trăng đã làm gì với biển cả và điều gì để tóm luợc lại được sự yên lặng. Họ không có hơn được những câu trả lời . Tất cả chỉ có ít nhiều trong sự mong manh...sự yên lặng tự tóm lược bằng sự yên lặng..." The Same Sea.

Amos Oz hình như tìm kiếm trong sự nhộn nhàng của thế giới đó, trong sự tĩnh lặng, sự đồng tình, sự hoà giải, một loại tha thứ bằng chữ viết.

Vừa vặn chỉ bằng những chữ cho việc này, những tiếng noí rời rạc, hy vọng, tình yêu, cuộc sống, sự tình cờ, lòng ham muốn, bí mật sâu kín riêng tư, lang thang, không tự thú, sự thấp hèn, sự chết, sự an ủi, sự cô đơn, chờ đợi, thứ tha, ...

« Duy nhất chỉ có biển còn ở đó , cũng vậy, với màu xanh đã biến thành mầu đen. Đừng tin vào đó cậu bé ơi. Hay thà là tin đi còn hơn. Hãy cứ tin. Cái gì cũng được ... Mọi giòng sông đều đổ ra biển, và biển là sự im lặng, im lặng, im lặng. Giờ đã là 10 giờ tối. Những tiếng chó sủa ở xa. Hãy cầm bút lên (...) »The Same Sea.

Amos Oz đã viết như thế, người yêu chuộng Tchékov, và âm nhạc của nhạc sĩ Amos Oz không rời chúng ta nữa.

"Với kinh nghiệm, tôi đã trở nên một người thoả hiệp. Đối với tôi, chữ thoả hiệp có nghĩa là cuộc sống. Trái ngược với chữ thoả hiệp này không thể là sự toàn vẹn cũng không thể là hai chữ lý tưởng. Đó là sự cuồng tín và cái chết ".

Cảm ơn Amos Oz, cảm ơn tất cả !

V )- VĂN NGHIỆP :

Amos Oz đã xuất bản 33 tác phẩm, trong đó có 13 tiểu thuyết, 4 tuyển tập truyện , sách dành cho thiếu nhi và 7 tập tiểu luận và khoảng 480 bài viết đủ loại về văn chương, chính trị, xã hội với chủ để về nước Do Thái và thế giới.

Những Tác Phẩm Chính :

- Where the Jackals Howl, tập truyện ngắn, 1965 - Elsewhere Perhaps, tiểu thuyết , 1966 - My Michael, tiểu thuyết, 1968 - Unto Death, hai tiểu thuyết , 1971 - Touch the Water, Touch the Wind, tiểu thuyết, 1973 - Different People, tuyển truyện , 1974 - The Hill of Evil Counsel, ba tiểu thuyết, 1976 - Sumchi, sách dành cho thiếu nhi, 1978 - Under this Blazing Light, tiểu luận, 1979 - A perfect Peace, tiểu thuyết, 1982 - In the Land of Israel, tiểu luận, 1983 - The Slopes of Lebanon, tiểu luận, 1987 - Black Box, tiểu thuyết , 1987 - To Know a Woman, tiểu thuyết, 1989 - Fima (The Third Condition), tiểu thuyết, 1991 - Report of the Situation, hai tiểu luận, 1992 - The Silence of Heaven, Tiểu luận văn chương , 1993 - Don’t Call it Night, tiểu thuyết, 1994 - Israel Palestine and Peace, tiểu luận bài viết tuyển chọn, 1994 cũng được xuất bản với tựa đề The Real Cause of my Grandmother’s Death, 1995 - Panther in the Basement, tiểu thuyết, 1995 - The Story Begins, tiểu luận văn chương , 1996 - All Our Hopes, tiểu luận, 1998 - The Same Sea, thơ xuôi, 1998 - Jerusalem Omnibus, hợp tuyển thơ ca, 2000 - The Sense of Peace, phỏng vấn, 2000 - A Tale of Love and Darkness, truyện , 2002 - But These are Two Different Wars, tiểu luận, 2002 - How to Cure a Fanatic?, tiểu luận, 2004 - A Conjuror of His Tribe, bài viết tuyển lựa , 2004 - Suddenly In the Depth of the Forest (A fairytale) 2005 - Israel und Deutscland, bài viết tuyển lựa, 2005 - Nota Autobiograficzana, 2005 - On the Slopes of a Volcano – The Slopes of the Volcano, tiểu luận, 2006 - Rhyming Life and Death, tiểu thuyết, 2007 - Les Héritiers, truyện , 2008 - Scenes From A Village life, truyện ngắn, 2009


VI )- GIẢI THƯỞNG, HUÂN CHƯƠNG VÀ DANH DỰ

. 1965 Holon Municipal Prize for Literature, Israel ( Where the Jackals Howl).
. 1976 Brenner Prize for Literature, Israel ( The Hill of Evil Counsel).
. 1978 Ze’ev Award for Children’s Literature, Israel (for Sumchi).
. 1978 Hans Christian Andersen Medal for Children’s Literature, Denmark ( Sumchi).
. 1983 Bernstein Prize for Literature, Israel ( A Perfect Peace).
. 1984 Officer of the Order of Arts and Letters of the French Republic .
. 1985 Writer of the Year, awarded by the Lotos Club, New York.
. 1986 Bialik Prize for Literature, Israel.
. 1988 Prix Femina, for best foreign novel appearing in France ( Black Box).
. 1988 Wingate Prize, London (for Black Box).
. 1988 Honorary Doctorate, Hebrew Union College, Cincinnati OH and Jerusalem.
. 1988 Honorary Doctorate, Western New England College Springfield, MA.
. 1992 Honorary Doctorate Tel Aviv University.
. 1992 Peace Prize at Frankfurt International Book Fair, awarded by German Publishers’ and Booksellers’ Association.
. 1993 Luchs Prize for Children’s Literature, Bremen Germany (for Sumchi).
. 1993 Hamoré Prize for Children’s Literature, France (for Soumchi).
. 1994 Maurice A. Stiller Prize for Literature, Baltimore Hebrew University, MD.
. 1997 Knight’s Cross of the Legion D’Honneur of the Republic of France, awarded của Tổng Thống Pháp Jacques Chirac.
. 1997 Blue Cobra Award, Switzerland ( Panther in the Basement).
. 1998 Honorary Doctorate, Brandeis University, MA.
. 1998 Israel Prize for Literature – Israel Jubilee Year.
. 1999 Elected Honorary Fellow, St. Anne’s College, Oxford England.
. 1999 My Michael selected by Bertelsmann international publishers’ panel of judges and readers’ club as one of the 100 greatest novels of the 20th Century.
. 1999 My Michael selected as one of the five best foreign novels appearing in China.
. 2002 Freedom of Expression Prize, awarded by the Norwegian Authors’ Union.
. 2002 International Medal of Tolerance, awarded by the polish Ecumenical Council.
. 2003 Wizo-France award for Israeli Literature (The Same Sea).
. 2003 Preis Der Geschwister Korn-und-Gerstenmann-Stiftung (Germany).
. 2004 Prix “France Culture” for A Tale of Love and Darkness
. 2004 International "Ovidius Literary Prize", from Romania’s writes union, for his literary merit and his peace work.
. 2004 Catalonia International Prize (Shared with Sari Nusseibeh) “A Tale of Love and Darkness”.
. 2004 International “Die Welt” Literary Award (Berlin) “A Tale of Love and Darkness”.
. 2004 International Prize for Autobiography "Viajes Con Cuaderno" (Spain).
. 2004 Sandro Onofri Literary Prize (Roma) “A Tale of Love and Darkness”.
. 2004 Lombardia Peace Prize (Milano).
. 2005 Bruno Kreisky Prize for Political Literature (Vienna) for “A Tale of Love and Darkness”.
. 2005 Nominated “Commander of the Order of Arts and Letters”, French Republic.
. 2005 KORET Jewish Book Awards (USA) for “A Tale of Love and Darkness”.
. 2005 Goethe Prize (Frankfurt) for lifetime literary and essayistic work, with and emphasis on "A Tale of Love and Darkness".
. 2005 Wingate Prize, London for “A Tale of Love and Darkness”.
. 2005 Nominated Honorary Member of the Hellenic author’s Society (Greece).
. 2005 Professor Emeritus from Ben Gurion University (Beer-Sheva, Israel).
. 2006 Honorary Doctorate, the Jewish Theological Seminary.
. 2006 National Jewish Book Award from the Jewish Book Council for "A Tale of Love and Darkness".
. 2006 Honorary Doctorate, Hebrew University, Jerusalem.
. 2006 SY Agnon Prize (Jerusalem) for "A Tale of Love and Darkness.
. 2006 Honorary Doctorate, Weitzman Institute (Rehovot).
. 2006 Prix Europa, (Berlin).
. 2006 Corine International Book Award (Germany).
. 2007 Member of the American Academy of Arts and Sciences.
. 2007 Ambrogino D'Oro Medal, awarded by the city of Milan.
. 2007 Nominated "Man of the Year by Tel-Aviv Museum of Art.
. 2007 Premio Grinzane Cavour (Italy).
. 2007 Prince of Asturias Prize (Spain).
. 2007 The Cross of Honour of the Federal Republic of Germany.
. 2007 "Maggid" Award from the World Union of Progressive Judaism in Israel.
. 2008 Stefan Heym Prize, City of Chemnitz, Germany.
. 2008 Dan David Prize (Tel Aviv University).
. 2008 Honorary Doctorate, University of Antwerp.
. 2008 Primo Levi Prize, Genova.
. 2008 Ulisses Prize, Genova.
. 2008 Heinrich Heine Prize, City of Dusseldorf Germany.
. 2008 Honorary Doctorate, Ben Gurion University (Beer-Sheva, Israel).


Ghi Chú :

Những hàng chữ nghiêng trích dẫn từ những câu của Amos Oz phát biểu trong những cuộc nói chuyện, đặc biệt với Dominique Simonnet và trong loạt nói chuyện tại chương trình phát thanh France Culture và những buổi thảo luận của ông tại Toulouse vào năm 2007.

Nguồn Tài liệu : Ben-Gourion University of the Negev - Do Thái


Viết tại La Sérénité-Troyes, 10 giờ 47 ngày 02.08.2009.









© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng ngày 03.08.2009
. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.