MƯỜI HAI
NHÀ THƠ MIỀN NAM
NHỮNG NĂM SÁU MƯƠI


    * cao mỵ nhân * diễm châu * đào minh lượng *
    * hà phương * hà yên chi * kiều thệ thủy * nhị thu *
    * như lan * tuyết linh * thanh nhung * trần dạ từ * viên linh *



DẪN NHẬP

Giới thiệu 12 nhà thơ mới nhất hôm nay của Miền Nam trong khoảng thời gian 1955 đến 1960, tôi không làm công việc phê bình mà chỉ ghi lại cảm tưởng riêng khi nhìn họ qua thơ trong giai đoạn bắt đầu - dù nhiều tác giả đã xuất bản thơ, như Hà Phương, Hà Yên Chi, Diễm Châu … và có tác phẩm đăng nhiều trên tạp chí, sách báo, đích thực đã là nhà thơ nổi tiếng với giới thi ca vào giai đoạn này.
Trước khi tập hợp một số bài báo thành cuốn MƯỜI HAI NHÀ THƠ MỚI NHẤT HÔM NAY (in ronéotypé trong Loại Sách Đại Nam Văn Hiến, Saigon 1961), những bài viết nói về các tác giả Cao Mỵ Nhân, Diễm Châu, Đào Minh Lượng, Hà Phương được đăng tải trên tuần báo Tân Dân, chủ nhiệm Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, vào những năm 60-61, ký Đường Bá Bổn.
1961

__________________________________________________

(*) Sách in lần này mang nhan đề : MƯỜI HAI NHÀ THƠ MIỀN NAM NHỮNG NĂM SÁU MƯƠI ký Thế Phong.







6 - KIỀU THỆ THỦY

( Nguyễn Ngọc Ánh, 1939 - 1989 )



Tháng 10.1960, một sự rất tình cờ, tôi gặp được tác giả ở Vũng Tàu. Thoạt tiên, ở một sạp báo góc đường Trưng Nhị, có một thanh niên lạ đến phía tôi, bặt thiệp lên tiếng: “..Thưa ông, có phải ông là Thế Phong?” Hồi ấy tôi đang bị xáo loạn qua nhiều bất trắc đe dọa. Tôi trù trừ dăm ba phút rồi người thanh niên ấy hỏi lại lần thứ hai, tôi mới nhận tôi là tôi. Và, rất vui mừng, khi biết người thanh niên ấy là nhà thơ Kiều Thệ Thủy - một nhà thơ trẻ góp mặt trong thi tuyển Hoa Mười Phương (tập thơ xuất bản chung với nhiều người - Trường Giang xb, Saigon 1959). Kiều Thệ Thủy là người làm thơ trẻ xứng đáng đứng hàng đầu trong những người làm thơ có mặt qua tập thơ trên.

Năm 1957, trên tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong, xuất hiện một số thi sĩ mới nhất hôm nay. Khởi điểm của họ là nhờ ở mảnh đất kia. Tôi cũng rất ngạc nhiên, vì quán trọ kia là đất dụng văn của họ khởi điểm - mà không bao giờ ngờ rằng chiêu-anh-quán lại là vươn thơ Văn Nghệ Tiền Phong. Xin đan cử ra đây những nhà thơ hôm nay có đủ lông cánh như Trần Dạ Từ (khi đó đăng thơ mang bút danh Hoài Nam), Viên Linh, Thanh Nhung, Kiều Thệ Thủy, Hà Phương vv… hơn một lần có thơ đăng và hơn một lần tôi phải tìm lại nguồn cảm hứng thơ ban đầu của họ trên báo ấy. Riêng với Kiều Thệ Thủy, những bài thơ như Duyên Mùa Hoa Phượng, Bài thơ trước khi vào thu, Ước hẹn vv… nếu không nói là tồi thì cũng chẳng mấy ai chú ý - nếu sau này không có những bài thơ đóng góp trong tập Hoa Mười Phương. Tôi chỉ xin nói đến giai đoạn thơ tiêu biểu của Kiều Thệ Thủy. Uyên Thao trong một bài điểm sách (§) về thi phẩm kia có chê kiểu làm thơ lập dị, có vẻ làm dáng trí thức của Kiều Thệ Thủy. Tôi cũng đồng ý điều này đúng, nhưng qua năm bài sau: Triển Lãm, Chân Dung Tôi, Bài Thơ Tình của Chúng Mình, Kinh Điển, Độc Thoại, nhiều lần đọc lại, sự cố ý lập dị của Kiều Thệ Thủy không đáng chê trách cho lắm. Sự biện bạch này là: tôi nhận thấy tác giả non tay trên con đường tìm nét độc đáo về ngôn từ mới trong thi ca. Mà mấy ai ban đầu chẳng vấp ngã? Tác giả muốn có ngôn từ mới, chữ lạ, âm thanh dị loại cho thơ anh sẽ không giống bất cứ thơ ai, chẳng hạn thế! Nhưng, bước đầu, anh chưa thể có ngay một bản sắc thơ riêng biệt được, ở góc độ cuộc sống - nên còn phải mượn ngôn từ sẵn có một cách chung chung, vay cú pháp người đi trước vậy. Thơ có ngôn từ mới cũng không khác chi triết học, đầu tiên phải có cuộc sống riêng biệt, từ đó mới phát sinh ngôn từ mới để tạo cho mình không giống những người đi trước mình. Bài Kinh Điển của Kiều Thệ Thủy sặc sụa âm thanh thơ Hàn Mặc Tử, như búng ra huyết:

ngực vi trùng trán hoàng hôn
búng đau thương đỏ loét tứa ra mồm
……………………………………………… (§)
người yêu thương hắt hủi
buổi chiều sầu linh hồn
- vì sao Sartre buồn nôn

Bởi vì, tôi tìm thấy chất liệu mượn từ Jean Paul Sartre trong phiên khúc nhỏ này mang tính chất làm dáng, giả tạo - chẳng nói lên điều gì - nó thiếu hẳn cảm nghĩ chân tình, thực mà nghĩ, thực mà trình bầy như câu gọi Picasso mà khóc cũng giống như câu vì sao Sartre buồn nôn.

Sau này Kiều Thệ Thủy có tìm được ngôn từ mới trong thơ của anh không? Từ 1958 trở lại đây, qua 6 bài tác giả trao cho tôi, hầu hết là thơ tự do, một hai bài lục bát cũng vẫn chỉ là bình cũ mà rượu chưa mới.( §§) Tôi phải xin lỗi để nhắc lại ở đây, thơ tự do muốn đạt được tới mức cao tuyệt độ, cần phải có nội dung sâu nhiệm hơn nữa, vốn sống trải rộng, cảm xúc đau khổ thực sự có hơn nữa, như nhà thơ Max Jacob của Pháp thời kỳ kháng chiến 1945, chiến đấu thật sự, xúc cảm thực sự mới viết nổi bài thơ Reportage, bài thơ mang nỗi buồn chán tột đỉnh và sẵn tài năng của thi nhân, Reportage (Tường Trình) của Max Jacob bất chiến tự nhiên thành. Nếu không vậy, hoặc chưa đạt được lý lẽ: cầm bằng ý nghĩa cuộc sống trong chùm chìa lủng lẳng trong tay - tất nhiên sự mang lại kết quả trong thơ tự do chỉ có thể lượm được một số ý thơ mới lạ, và hay, hoặc nhiều hơn một vài ba câu hay - còn lại, mang ý tưởng ngẩn ngơ, chất liệu thơ ngây ngô, xuẩn động, bí hiểm và tối tăm. Riêng về thơ Kiều Thệ Thủy hiện nay đang muốn chuyển sang thơ tượng trưng - trường thơ này cần súc tích và phong phú hơn nữa. Như bài Người khách ngả đầu điển hình trích dưới đây chỉ được một hai câu hay nhất: đĩa nhạc không ai quay đĩa nhạc đen và rồi chết với niềm đau đớn mới :

1 cái bàn đầu anh ngã xuống
1 người cũ mù theo hồn này
thấy linh hồn đã lụi
em lãng quên căn nhà kỷ niệm chưa em?

buổi chiều nước sông lớn mãi
giữa thành phố không còn hoang vu
ôi em còn ngây thơ còn ngây thơ
đội mũ lên đầu chào anh giấc chết

người mẹ đưổi cuộc tỉnh thời con gái đi
anh dìu anh biệt đường tàu, đồng không
                                                          mông quạnh
anh dìu anh biệt cồn hoang gò mả
trái tim chín cây chờ rụng
em hoảng hốt chưa em?
người lãnh đạm chưa người?
thôi, đầu anh ngửng nhìn sự vật
bàn ghế cô đơn là thi thể em
phà những hơi thở, trên mẩu thuốc tàn
bay đi ôi anh cười ngất
đĩa nhạc không quay đĩa nhạc đen
giờ anh từ biệt cái bàn 3 màu, ngấn nước
                                                         vết hôn
rồi chết với niềm đau đớn mới.

(Người khách ngả đầu)

Trong chúng ta, ai mà chẳng đọc thi ca Pháp, ít hay nhiều thôi, hẳn sao quên được Charles Baudelaire, A. Rimbaud, những thi tài của phái thơ tượng trưng đấy! Đến nay, chúng ta mới theo trường thơ kia, ít nhất phải vượt qua được thơ tượng trưng cũ ấy có - thì mới nói đến tân tượng trưng của nền thi ca mới, hay một cái tên gì khác nữa, song kết cuộc phải mới hẳn hơn cái cũ đã có. Tôi xin nói, lối thơ trên, giai đoạn tiền, kháng chiến nước ta đã có Văn Cao, cả Nguyễn Bính (thời kỳ 1956-57), nhất là nhà thơ Trần Dần có thể gọi là một chef de file của loại thơ symbole équivoque. Ở Ba Lan, thi sĩ nổi danh bậc thầy, đó là Adam Wazyk, hoặc Antoni Slorimski trong bài thơ Au fils de mes amis hoặc Miezyslaw Jastrun trong Entretien avec un écrivain và Le Diable (§). Thơ tượng trưng của những nhà thơ trẻ hôm nay như Viên Linh, lại cố tình làm mới bằng cách bắt chước lục bát cổ kính gieo vần Cung Trầm Tưởng, vốn thơ CTT đã sẵn mang màu sắc thơ hoang lạnh. Đọc thơ xong, lời thì đẹp, âm thanh thì chau chuốt đấy, nhưng vẫn không đủ làm cho người đọc nhớ lâu, vì đó là thơ biền ngẫu, mà loại thơ này khó qua mặt được thơ Ôn Như Hầu, Bà Huyện Thanh Quan … Sự thất bại của một số nhà thơ trên, cũng chẳng khác gì Thanh Tâm Tuyền hay nhóm Sáng Tạo, thơ không cảm không làm mấy ai rung động sâu sắc, vì bản chất thơ mà thiếu souffle thì khó tạo được isme mới! Hậu quả thơ của Sáng Tạo truyền lại cho lớp người thơ đi sau tạo thành một lối thơ tượng-trưng-nghiên-cứu (tạm gọi là surréalisme en spéculative), thơ không có hình tượng sống mới của sự sống một thời - từ cảm giác, rung động, tư tưởng, ngôn từ, hẳn thơ sẽ được coi như phù phiếm, ảo tưởng, thơ mình lại tự đánh lừa mình (style apocalyptique). Đọc thơ Adam Wazyk, M Jastrun (qua bản dịch Pháp văn), Trần Dần, Văn Cao (nhà-thơ-nhạc-hoạ-kịch hay kén chữ, chọn âm từ), người đọc thơ tiếp được nguồn cảm hứng ngay, bởi chất liệu thơ là chất sống rất động, rất hăng hái, nhiệt tình, hào hùng… Còn với người thơ mới chỉ có vốn sống nửa vời, chưa sầu đã kêu não nuột, chưa đớn đau đã la to quá khổ nàn, chưa hiểu ngọn nguồn thế nào là phi lý lại kêu to hơn hết là phi lý - tất cả, bao giờ cũng bắt đầu bằng bi quan yếm thế, chán chường giả hiệu để phê phán đời sống rồi lấy đó làm khởi điểm - đó là bi quan nửa vời. Nên những bài thơ như Hạ huyền của Ánh, Bài giảng Thánh số 1 hoăïc Vũng Tàu bis của Kiều Thệ Thủy có hình ảnh thơ đẹp, chọn lựa âm thanh từ ngữ phải kể khá tài tình; nhưng vẫn thiếu vắng động lực chính: sự rung động chân tình, sâu sắc và không có souffle thơ, khả dĩ làm cho người đọc thơ mình phải chuyển lay, xao động. Đọc thơ xong bình thản như khi chưa đọc, còn gì là động lực tính của thơ!
Bài Vũng Tàu bis chỉ có hai câu cuối là đẹp nhất (vẫn theo tôi), phải nói là thật tài tình, hào phóng, sảng khoái. Tôi kỳ vọng rất nhiều ở nhà thơ trẻ đang sung sức, đó là Kiều Thệ Thủy (§)

©

Trích thơ Kiều Thệ Thủy:

BÀI VŨNG TÀU BIS

bên kia lảng vảng sương mù
Ngói san cũng chất hoang vu núi rừng
nghe là bãi vía vòng cung
bao nhiêu tiếng hét buốn cùng muôn xưa
ngọn cờ đen chiụ tang ma
phận anh sóng vỗ gió đùa đấy thôi
triền đêm xuống hết tương lai
trông vời một ít cảnh đời tối theo
cỗ xe trở mặt trời chiều
đi chưa thấy đến lưng đèo, trút hơi
ngựa im bờm ngó biển khơi
này em, anh đã tự vùi hào hoa.

KIỀU THỆ THỦY



_________________________________________________________________________________________












© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 03.08.2009.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com