Một thiên kiến khá phổ biến cho
rằng miền Nam Việt Nam, vùng đất mới không còn truyền thống văn hóa dân tộc
dựa trên Nho học "Miền Nam không bị tiêm nhiễm bởi tư tưởng Nho giáo"
(1) lại tiếp xúc với văn hóa Tây phương sớm
hơn cả, chịu ảnh hưởng sâu đậm đến nỗi hầu như mất gốc: "Dự tiệc thấy có nhiều
người vào dân Tây nói toàn tiếng Tây; coi đó thì biết các bậc thượng lưu trong
Nam Kỳ tây hóa đã sớm lắm, hầu như không còn chút gì là cái phong thể An nam
nữa" (2).
Dựa vào một số tài liệu hiện có
về những năm đầu thời kỳ Pháp thuộc, chúng tôi thấy không thể không xét lại
thiên kiến trên.
I.- NÓI VẦN NHỮNG CÂU CHỮ
NGƯỜI TA QUEN DÙNG
Trong tập "Miscellanées ou
lectures instructives pour les élèves des écoles primaires communales,
cantonnales et les familles" (3) Trương Vĩnh
Ký đang một sưu tầm: Nói vần những câu chữ người ta quen dùng" ghi là của Đặng
Đức Tuấn làm gồm 148 câu (xem bảng photo)
II.- LỜI NÓI THƯỜNG DÙNG, RÚT
TRONG TAM QUỐC
Sưu tầm này, in trong tuần báo
"Nam Kỳ" ký tên "Mai nham" bút hiệu của Trương Minh Ký
(4) gồm 162 câu:
(xem bảng photo)
NÓI VẦN NHỮNG CÂU CHỮ NGƯỜI TA
QUEN DÙNG
Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất
lậu;
Chưởng đậu đắc đậu, Chưởng qua
đắc qua;
Tích thiện phùng thiện, tích ác
phùng ác;
Kiến cơ nhi tác, Dục tốc bất đạt;
Ẩn ác dương thiện, Nhứt cận nhị
viễn;
Hữu diện hữu thực, Bỉ cực thới
lai;
Dị tướng tắc hữu kì tài, Hồ giả
hồ oai;
Hữu tài hữu tật, Sự bất đắc dĩ;
Tiên xử kỉ, Nhi hậu xử bỉ;
Ích kỉ hại nhơn, Gia bần trí đoản;
Trường đồ tri mã lực, Quốc loạn
thức công thần;
Gia bầt tri hiếu tử, Nhơn vô viễn
lự tất hữu cận ưu
Tội hữu sở qui, Đương vi nhi vi;
Ngôn chi ngôn hựu, Bất cô tả hữu;
Vô tửu bất thành lễ, Quan, hôn,
tang, tế, bất tại cầm lệ;
Tận lương vô kế, Phi sầu tương
chế;
Độc dược khổ khẩu lợi ư binh,
Trung ngôn nghịch nhĩ;
Vô tiểu nhơn bất thành quân tử,
Chỉ nhứt sự hành nhứt sự;
Lão bất tử lão thành tặc, Đồng
ác tương tế;
Phụ truyền tử kế, Tứ hải giai
huinh đệ;
Bán đồ nhi phế, Nhĩ hà nhứt thể;
Tam niên thành lệ, Tân quan tân
chế;
Huinh đệ uích vu tường, Kì phụ
nhương dương nhi tử chứng chi;
Long mẫu xuất long nhi, Nhứt chứng
phi nhi chứng quả;
Bỉ ngã vô thù, Tiêu đầu lạn ngạch;
Thúc thủ vô sách, An như bàn
thạch;
Vô sư vô sách, vô mạch tắc chi;
Sự dĩ an bài, Tài cao trí túc;
Kỉ sở bất dục, vật thi ư nhơn;
Cận sơn thức điểu, cận thủy tri
ngư;
Đa thơ loạn tâm, Phụ tử tình
thâm;
Tửu nhập tâm, như hổ nhập lâm;
Vô tâm vô trí, Nam nhơn chi chí;
Hải hà chi lượng, Phu xướng phụ
tùy;
Sanh kí tử qui, Châu nhi phục
thi;
Ái nhơn như ái kỉ, Trắc dị
phòng nan;
Tri gian bất tố, Tứ cố vô thân;
Tiền tài phá nhơn ngãi, Kim
ngân phá luật lệ;
Cùng vô sở xuất, Phước bất
trùng lai;
Họa vô đơn chí, Kiên bất thủ
nhi tầm thiên lý;
Phú quí như phù vân, Thuận dân
sở hỉ;
Ngã vi ngã nhĩ vi nhĩ, Tự thủy
chí chung;
Hữu lao vô công, Tận trung tận
hiếu;
Ngôn thiểu tri đa, Quốc gia hữu
sự;
Khứ bất ly xứ, Lao tâm tiên tứ;
Hổ phụ sanh hổ tử, Phi kì phận
sự;
Khẩu phân khẩu xử, Hữu sanh hữu
tử;
Vô nam dụng nữ, Vô tử dụng tôn;
Đa ngôn da quá, Bá nhơn bá tánh;
Hữu thạnh hữu suy, Lão giả an
chi;
Khẩu thị tâm phi, Dĩ hư vi
thiệt;
Dĩ thị vi phi, Thiên nhi sử
nhiên;
Thiên niên bất tuyệt, Tha cầu
biệt sự;
Truyền tử lưu tôn, Năng ngôn
nhi bất năng hành;
Hậu sanh khả húy, Ấn thủ ấn vĩ;
Độc thơ cầu lý, Phú quý đa nhơn
hội;
Bần cùng thân thích ly, Tội qui
vu trưởng;
Lệnh tại hồ thượng, Hữu công
tắc thưởng;
Hữu tội tắc trừng, Ngôn dực
trường phi;
Phú quí hữu lễ nghi, Bần cùng
khỉ đạo tâm;
Dĩ hòa vi quới, Dáng lý bất
dung;
Thủy chung như nhứt, Tận nhơn
lực nhi tri thiên mạng;
Dưỡng hổ vi hoạn, Sanh tử hữu
mạng;
Phú quí tại thiên, Nhứt nhơn
truyền hư;
Vạn nhơn truyền thiệt, Tiền tài
nhơn nghĩa tuyệt;
Bá nhơn bá thiệt, Khẩu thiết vô
bằng;
Nghệ năng sở sử, Quân tử nhứt
ngôn;
Hậu hôn điền thổ vạng cổ chi
thù, Tam ngu thành hiền;
Hành thuyền kị mã tam phân mạng;
Bất tào tắc vãng, Quan san vạn
lý thậm ư chi khổ;
Vô cổ bất thành kim, Văn võ
kiêm toàn;
Bình an vô sự, Tử giai kì tử;
Đẳng đẳng đồng nhứt phân, Phụ
nhơn nan hóa;
Thái quá du bất cập, Xuất nhập
bất cấm;
Y cẩm dạ hành, Hậu dược thành
công;
Hữu ư trung tắc hình ư ngoại,
Tâm bất tại;
Lực bất kham, Sanh ngưu vô sanh
giác;
Sanh tử bất sanh tâm, Sự bất
quá tam;
Khẩu tâm như nhứt, Đồng thực
đồng thọ;
Nhĩ văn mục đỗ, Nam thực như hổ
nữ thực như miêu;
Bất phân kiêu hạ, Linh tại ngã
bất linh tại ngã;
Đồng tịch đồng tọa, Đồng tịch
đồng sàng;
Đồng quan đồng quách, Bất quá
như bá quốc;
Tác phước bất như tị tội, Bất
tùng giáo hóa;
Tấn thối lưỡng nan, Sanh thuận
tử an;
Phú quí bất như nhàn, Nhu thắng
cang nhược thắng cường;
Lịch lãm văn chương, Đại mộc
lưu giang bất đắc hồi cố;
Háo thiện ố ác, Húy tử tham
sanh;
Quí tinh bất quí đa, Tội báo
oan gia;
Thâu đa nạp thiểu, Hạc qui hoa
biểu;
Thố tẩu thanh sơn, Trạch nhơn
tri tài;
Thực nhơn tài cứu nhơn tai, Vạn
sự giai hưu;
Hữu dõng vô mưu, Bất oán thiên
bất vưu nhơn;
Bất ưu bần khổ, Bỉ hà nhơn ngã
hà nhơn;
Tiền bần hậu phú, Tiền phú hậu
bần;
Điền tho vấn cô nhơn, Tứ cố vô
lân lý;
Liệt hỏa thí kim, Gian nan thí
đức;
Tận tâm kiệt lực, Dĩ thực vi
tiên;
Điềm nhiên tọa thị, Tấn dị thối
nan;
Nhập giang tùy khúc, nhập gia
tùy tục;
Diện phục tâm bất phục, Thượng
hòa hạ lục;
Thâm sơn cùng cốc, Vị túc tín;
Thận chung tri viễn, Nhứt cử
lưỡng tiện;
Tri nhơn tri diện bất tri tâm,
Tiền dâm hậu thú;
Quyền huynh thế phụ, Ninh thọ
tử bất ninh thọ nhục;
Sanh thành dưỡng dục, Danh hư
nan thục;
Đệ tử phục kỳ lao, Tam sao thất
bổn;
Ngôn hành tương phản, Giáo đa
thành oán;
Cung kính bất như phụng mạng,
Thiên sơn vạn thủy;
Tàng đầu xuất vĩ, Thực bất tri
kì vị;
Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị;
Nhơn cô hà lý bất cô. Mãnh hổ
bất địch quần hồ;
Quân vô tướng hổ vô đầu, Quân
tử thực vô cầu bào;
Học giả hào bất học giả hào,
Hữu thỉnh hữu lai;
Vô thỉnh bất đáo, Huinh đệ cốt
nhục đồng bào;
Tiên giáo huấn nhi hậu hành
phạt, Lực bạc nan kham;
Thất nhơn tâm, Bá phát bá trúng;
Tín giả năng nhập, Thiên địa vô
tư;
Tích cốc phòng cơ, Dưỡng nhi
đãi lão;
An cư lac nghiệp, Thừa cơ nhi
nhập;
Bất tuân quốc pháp, Vô địa lập
chùy;
Bình phong tuy phá cốt cách du
tồn, Dưỡng lão khất ngôn;
Lý bất cập thế, Dĩ đào vi
thượng sách;
Hắc bạch phân minh, Vi phú bất
nhơn;
Vi nhơn bất phú, Lương cầm
trạch mộc chi thê;
Hiền thần trạch chúa nhi sự,
Cửu tử nhứt sanh;
Chấp bộ hô danh, Tập dữ tánh
thành;
Thượng hành hạ hiệu, Tích tiểu
nhi thành đại;
Nhiễu hại dân tình, Xả sanh thủ
nghĩa;
Tân quan vấn cựu lại, Nam phụ
lão ấu;
Nhập khẩu vô tang, Thiên bất
dung gian;
Phúc thủy nan thâu, Tân quế mễ
châu;
Lạm thâu lạm thực, Nhứt nhựt vô
vương thiên hạ đảo huyền;
Quân tử oán tam niên, Tiểu nhơn
oán nhãn tiền;
Mưu sự tại nhơn, Thành sự tại
thiên;
Cần bất như chuyên, Bá niên
giai lão;
Điên đảo thị phi, Đồng mông cầu
ngã;
Phi ngã cầu đồng mông, Nhơn
cùng tắc biến;
Vật cùng tắc phản, Nhơn tâm duy
nguy;
Diện thị bối phi, Dĩ nhứt suy
chi;
Nhơn tham tài nhi tử, Điểu tham
thực nhi vong;
Nội công ngoại kích, Nguyên
khiết tắc lưu thanh;
Lộ bất hành bất đáo, Chung bất
đả bất minh;
Vật khinh hình trọng, Vị bá
tánh bất vị nhứt nhơn;
Nhứt cận thị nhì cận sơn, Nhơn
nhơn các hữu kì tài;
Tửu nhập ngôn xuất, Hữu thế bất
khả ỷ tận;
Phong điều vô thuận, Ngư tầm
lạc nhạn;
Của Đặng Đức Tuấn làm.
Lời nói thường dùng, rút trong
Tam Quốc
Đồng tâm hiệp lực,
Phùng sơn khai lộ,
Phí y tẩy túc,
Tham sanh húy tử,
Tham binh mộ lợi,
Hồ quần cẩu đảng,
Thơ phù niệm chú,
Bì khai nhục liệt,
Tả xung hữu đột,
Văn thần võ sĩ,
Tế bần bạt khổ,
Lan tâm cẩu hạnh,
Văn quan võ tướng,
Sơ tài trượng nghĩa,
Chiêu hiền đãi sĩ,
Chủ ưu thần nhục,
Kình thiên giá hải,
Hô phong hoán võ,
Mại quan chúc tước,
Khi quân võng thượng,
Khí minh đầu ám,
Thâm căn cố đế,
Pháp Nghiêu thiện Thuấn,
Thiết mưu định kế,
Khuông quân phụ quấc,
Tích đức lụy nhơn.
Tức cổ yển kỳ.
Nhựt phục dạ hành.
Yến ngữ hoanh thinh.
Bội ngỡi vong ân.
Tắc hạn điện cù.
Diệu vũ dương oai.
Thiểu kiết đa hung.
Phấn cốt toái thân.
Quật kỉ đãi nhơn.
Kích cổ minh câm.
Tuấn lãnh cao san.
Cứu nạn phò tai.
Động địa chấn thiên.
Túc trí đa mưu.
Hải phất giang phiên.
Binh bại tướng vong.
Xu hổ thân lan.
Hạn quốc hại dân.
Tổn tướng chiết binh.
Nhạc hãm sơn băng.
Hỗ thể lân yêu.
An Hán hưng Lưu.
Xuất quỉ nhập thần.
Phí lực lao tâm.
Cơ thâm trí viễn,
Giao đầu tiếp nhĩ,
Canh y diệc phục,
Dư câm liễn bích,
Long tranh hổ đấu,
Đồ trư sát khuyển,
Yên dân tuất chúng,
Cường cung cạnh nổ,
Tương nam đái nữ,
Bạch kỳ huỳnh việt,
Trầm ngư lạc nhạn,
Cát ân đoạn ngãi,
Kim chi ngọc diệp,
Binh phù tướng ấn,
Binh tinh tướng dõng,
Giải nghi thích kiết,
Thiên sinh vạn tử,
Binh đa lương quảng,
Đức cao tài quảng,
Quyền khu đoạn thủ,
Bối minh đầu ám,
Thông câm bác cổ,
Công vi đức bạc.
Vân đồn võ tập,
Thị tài thủ họa,
Thần ky diệu toán,
Thiên văn địa lý,
Diện phương khẩu hượt,
Tiêu đầu lạn ngạch,
Phó thang đạo hỏa,
Thâm câu cao lũy,
Tinh binh mãnh tướng,
Trung quân ái quấc,
Báo đầu viên bế,
Cẩm bào ngọc đái,
Cụ đao tị kím,
Đơn mÿ tế nhãn,
Bại binh chiết tướng,
Khuynh tâm kiệt lực,
Từ tâm thiện hạnh,
Kỳ hoa dị mộc,
Bác văn cường ký,
Mụ chuyển thần diêu.
Khẩu thị tâm phi.
Lực lực tề tâm.
Nguyệt bạch phong thanh.
Niên ấu tài sơ.
Hắc diện trường thân.
Phụ phụng phàn long.
Suy cổ nghiệm câm.
Thố tử hồ bi.
Bế nguyệt tu hoa.
Khi bạn vong thân.
Tứ ý vọng vi.
Sáng nghiệp khai cơ.
Mục lạn mi thanh.
Mục động khẩu khai.
Mẫu huyết phụ tinh.
Âm tửu thưởng hoa.
Cộng hoạn phân ưu.
Đãn thán trường hu.
Phách tử tham sanh.
Thích đởm hoãn tâm.
Thiên dữ nhơn qui.
Đởm lạc hồn vong.
Địa tháp thiên thôi.
Lương quả binh vi.
Phủ bạn trúc tường.
Trí sĩ qui hương.
Tứ tước phong hầu.
Ngân quách kim quan.
Túng mã phóng ngưu.
Chủ quí thần vinh,
Địa đống thiên bàng.
Mĩ ngọc minh châu.
Ngộ thủy điệp kiều.
Phạt tội thưởng lao.
Tánh thậm danh thùy?
Đởm chiến tâm kinh.
Hùng biện cao đàm.
Hượt tróc sanh cầm.
Thủ chánh ố tà.
Trị quốc an dân.
Lễ sĩ kính hiền.
Kinh thiên vĩ địa,
Huyệt tường phát quí,
huynh thất đệ,
Chiêu hiền nạp sĩ,
Thiên sơn vạn hải,
Thế nguy lực khổn.
Vô chơn hữu giả,
Đồ hình họa ảnh,
Đồn lương tích thảo,
Khử tà qui chánh,
Trừ tàn khử bạo,
An thân bảo quấc,
Đơn nhơn độc mã,
Qui hương dưỡng bịnh,
Đoạn tỏa trảm quang.
Xả tử vong sanh.
Võng địa khí thiên.
Phạt tội điếu dân.
Thế cải thi di.
Điểm tướng thâu quân.
Mại chủ cầu vinh,
Tướng thạnh binh cường.
Lương thiểu binh đa.
Khí định thần nhàn.
Trảm thảo trừ căn.
Phá thạch tạc sơn.
Lộng giả thành chơn.
Tâm định thần minh.
Mai Nham.
*
Trong số những câu kể trên, chúng
tôi, những người lúc bé có học chữ Nho, thế hệ 60 tuổi chỉ nghe quen chừng 20
đến 30 câu. Vậy hàng trăm câu chữ Nho, Tam quốc được rút ra thành châm ngôn
ứng dụng trong đời sống hàng ngày thời Pháp mới sang bắt buộc chúng ta phải
nghĩ rằng Nho học của tứ thư ngũ kinh, truyện Tàu đã phổ biến sâu rộng trong
mọi giới, kể cả các tầng lớp dưới, là những tầng lớp ít người biết đọc chữ Nho,
nên đa số chỉ được nghe qua những lời khuyên dạy hoặc kể truyện.
Còn chữ quốc ngữ?
Trương Vĩnh Ký dịch chú giải tứ
thư bằng quốc ngữ vào những năm 1877, nhưng việc in còn hạn chế vì phần lớn in
thạch bản. Tam quốc được dịch, đăng từ số 1 Nông cổ mín đàm (1-8-1901) in
thành sách năm 1907. Nông cổ mín đàm phát hành với số lượng nhỏ vào những năm
đầu: "Nông cổ có 350
người mua" (Lời rao số
96, 2/7/1903). Vậy việc phổ biến sách nho, truyện Tàu trước khi có chữ quốc
ngữ và cả bằng quốc ngữ cũng rất hạn chế. Những ai phổ biến? Dĩ nhiên trước
hết là các nhà Nho "ông thày dạy chữ Nho" phổ biến sách nho, truyện Tàu từ
trên xuống dưới (từ tầng lớp trí thức xuống tầng lớp bình dân). Tuy nhiên số
các ông thày này không đông đúc gì, nên việc phổ biến sâu rộng phải do một lớp
người khác, chỉ thấy có ở vùng đất mới. Đó là cộng đồng người Việt gốc Hoa (Minh
Hương). Cuộc chung sống xen kẽ, chan hòa ở nông thôn của hai cộng đồng lưu dân
Việt và Hoa không thể không có những giao lưu văn hóa qua các tập tục, nếp
sống và đây là một truyền đạt văn hóa dưới với dưới hay từ dưới lên trên.
Sau khi xâm chiếm Nam Kỳ, người
Pháp thực hiện ngay từ đầu chính sách đồng hóa về văn hóa giáo dục. Dầu vậy,
ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa vẫn rất sâu đậm, cộng thêm ảnh hưởng những
tư tưởng mới do cách mạng Tân Hợi gây ra như báo cáo chánh trị của một viên
chức hàng đầu ở Nam Kỳ đã ghi nhận ở "số đông người Hoa cư ngụ ở Nam Kỳ, vai
trò lớn lao họ đảm nhận về mặt ảnh hưởng truyền thống đối với người Annam cũng
như về mặt kinh tế, những tư tưởng mới đang lan tràn khắp Viễn đông mà họ là
những người cổ võ nhiệt thành. Tất cả những điều kể trên, tạo ra một tương lai
bất trắc, đe dọa sự ổn định của thuộc địa và do đó cần có những biện pháp mới
ấn định mức nhập cư và quy chế cho những người Á đông ngoại quốc"
(5).
III. MỘT VÀI CON SỐ THỐNG KÊ
Ngay từ đầu, người Pháp đã thiết
lập một nền học chính dựa vào Tây học, nên có người mới học xong tiểu học đã
có thể làm thơ tiếng Pháp.
Để xem Nho học còn chỗ đứng trong
sinh hoạt văn hóa hay không, chúng tôi thử làm những bảng thống kê so sánh
sách báo bằng quốc ngữ trong quãng 50 năm sau khi Pháp chiếm Nam Kỳ
(6).
1. Báo Nông cổ mín đàm, Lục
tỉnh tân văn:
Điểm số tin, bài viết liên quan
đến Pháp, Tây phương, Trung quốc, Nho học trong 260 số đầu Nông cổ mín đàm và
50 số đầu Lục tỉnh tân văn, chúng tôi thấy:
- Pháp, Tây phương: rất ít được
nói đến. Số bài viết nhiều hơn bản tin, gồm một vài truyện Lang sa dịch ra
quốc ngữ; truyện dân gian, dạy Pháp văn hoặc kể chuyện các nước phương Tây nhu
mục Thái Tây tân sử, truyện Hoa kỳ. Tỷ lệ: 5% tổng cộng các bài.
- Trung Quốc, Nho học: những bài
về lịch sử Trung Quốc, về văn học, tư tưởng dựa trên Nho học thuộc mọi dạng:
sự tích, gương, sử, truyện, thơ, nghị luận thuần túy văn học hay liên quan đến
kinh doanh. Tỷ lệ: 95%.
2. Sách:
Một thư mục sơ khởi sách thời kỳ
này (1860-1930) do ông Bằng Giang thiết lập gồm 716 cuốn. Căn cứ vào bảng đối
chiếu số lượng mục tác phẩm xếp theo môn loại, chúng tôi thấy:
Truyện, thơ tỷ lệ 26,81
Truyện Tàu 13,96
Tiểu thuyết 30,86
Luân lý 14,52
Truyện giải buồn 3,49
Du ký, hồi ký 1,25
Sử ký 3,76
Tiểu sử 5,44
Sách luân lý, nghĩa là sách dạy
làm người dựa vào Nho học có tỷ lệ cao xếp hạng thứ ba, nhưng các loại truyện,
thơ, truyện Tàu, tiểu thuyết cũng đều lấy Nho học làm nội dung, cốt truyện,
mặc dầu về hình thức diễn tả, có sử dụng kỹ thuật Tây phương.
3. Công trình của Trương Vĩnh
Ký:
Một người Tây học, theo đạo Thiên
chúa. Nhưng trong toàn bộ công trình trước tác, rất ít có bài, sách nói về đạo
Thiên chúa hay giới thiệu văn hóa Tây phương. Dựa vào thư mục của Bằng Giang,
chúng tôi thấy:
a. Sách báo đã in:
- Văn hóa Pháp (tự điển, văn phạm...)
15 tập
- Nho học 45 tập
- Việt Nam học (nôm, quốc ngữ về
Văn hóa Việt Nam chịu ảnh hưởng Nho học) 70 tập
- Đông Nam Á học 20 tập
b. Bản chép tay:
- Hiện lưu trữ tại Thư viện Khoa
học xã hội Trung ương Hà Nội quãng 2000 tờ có 171 nhan đề. Trừ một số liên
quan đến văn hóa Pháp, tất cả đều liên quan đến Nho học và Việt Nam học chịu
ảnh hưởng Nho học.
- Lưu trữ tại Thư viện Khoa học
xã hội miền Nam (SAIGON) có 36 mục đều liên quan đến Việt Nam học.
4. Tác phẩm của Hồ Biểu Chánh:
Học Chasseloup Laubat, đỗ bằng
Thành chung (diplôme)
Tiểu thuyết 64 cuốn - Tất cả đều
có nội dung phản ảnh Nho học
Khảo cứu 23 cuốn - chỉ có 2 cuốn
nói về "Pháp quốc lược khảo" và "Âu Mỹ cách mạng sử"
IV. MỘT VÀI TÁC PHẨM, KHUÔN MẶT
TIÊU BIỂU
a. Việt âm thi tuyển:
Các thứ văn thư, từ phú quốc âm.
Tuyển giả: Lê Sum,
rédacteur
du Công luận báo Saigon. Imp. Việt 1919.
Trong lời tựa tuyển tập thơ của
các người đương thời, ông Lê Sum đã nói rõ ý nghĩa của việc làm tuyển tập: người
trí thức ngày nay, trong thực tế, chú ý đến
"thiệt học" như là cách trí học,
kỹ nghệ học, gia chánh học, công thương lý tài luận. Hầu sau có chỉ kỳ sở học,
thô vu sở hành, những lúc nhàn rỗi nghỉ ngơi thì lại tìm thú giải trí bằng thơ
văn cổ vì thơ văn cổ có khả năng giáo dục tình cảm theo lễ nghĩa thật cao".
b. Nguyễn Khắc Huề:
Ông đăng nhiều thơ cổ liên hoàn
trong Nông cổ mín đàm. Đọc các bài như: Hiếu trung hoài cổ vịnh, Háo sĩ từ
nông, Lục phụ tân thơ, ký tên Nguyễn Khắc Huề kính lục, chúng tôi cứ nghĩ ông
là thầy đồ nho; nhưng đọc Nông cổ mín đàm số 137 ngày 21/4/1904 mới biết đã
đoán sai, vì ông chính là một người Tây học và dạy chữ Tây:
"Trong Nam
Kỳ lục tỉnh, từ năm 1886 đến nay, những trang hương thời tùng sự vùng bậc học
sinh, khóa sinh nào ở trường bổn quốc Chasseloup Laubat xuất thân tưởng đều biết
rõ thầy giáo Nguyễn Khắc Huề, biệt hiệu Nam Sang là thầy dạy chữ Lang sa tại
trường tỉnh Bến Tre. Thầy này là thầy của chúng tôi nên chúng tôi biết chắc chắn
rõ ràng rằng: học Tây đủ sức, lại thêm Nho từ, gồm tài, thi, từ, trung hậu
tánh rất khoan hòa, bụng không chịu phô trương theo lề thế sự, cứ yên theo
lòng đạo, lo dạy con em cũng đã đằng đẵng 20 năm chẵn, giữ lời thanh bạch, tu
chí kiên tâm. Năm rồi có đi đến chỗ lăng đức Hậu tổ (ông Võ Trường Toản) tại
làng Bảo Thạch (Ba Tôn) mà sao dịch các tấm bia chỉ của ngài, gởi cho Sở Bác học
Đông Dương, nên Sở Bác học thấy thầy chúng tôi tài đức xưng tường có tặng cho
thầy chúng tôi hai tấm médailles Bến Tre tân cựu môn sanh đang đôn thư bái tặng".
c. Trần Chánh Chiếu:
Chủ xướng phong trào minh tân, chủ
bút Lục tỉnh tân văn.
"Kính cáo cùng chư quí viên trong
Lục châu đặng rõ: Nguyên tôi là người tài sơ học siển, cô lậu quả văn, nhơn gặp
lúc này bạn đồng bang ta đương lo mở mang việc thương cổ, kỹ nghệ mà tranh đoạt
lợi quyền cùng người ngoại
quốc, thì tôi cũng có lòng mừng và khen cho đồng liêu lắm. Vả người ở đời đã
biết rằng ai ai đều có chí nấy, song sự nghe thấy của một người thì không đủ
cho bằng sự nghe thấy của mười người đặng. Nên có câu rằng: Nhiệt nhơn chi kiến,
bất túc dĩ kiêm thập nhơn. Lại có câu: Độc trí bất như chúng trí nữa. Liệt vị
hãy xem mà coi, mua một năm nhựt trình này mà có năm đồng bạc, thì cũng không
phải là tốn hao chi lắm mà lại hữu ích về việc văn minh".
Trích lời "Chủ bút kính cáo" Trần Nhựt Thăng,
biệt hiệu Đông Sơ. Lục tỉnh tân văn số 1 ngày 14/11/1907 trang 1. Đó là văn của
một người Tây học, dân Tây nữa, mang tên Gilbert Chiếu. Các bài viết của ông
cũng như của những người cùng chí hướng trong 52 số đầu Lục tỉnh tân văn đều
không dựa vào tư tưởng, văn hóa Tây phương, mà vào Nho học để chủ trương Minh
Tân.
V. PHONG TRÀO MINH TÂN
Phong trào Minh Tân (tránh dùng
chữ Duy tân để tôn kính vua Duy Tân) ở miền Nam đưa ra khẩu hiệu: chống chệc
chống chà; Trả Thích Ca về Thiên Trước, trả Quan Công về Tàu. Khẩu hiệu được
tung ra gây xúc động mạnh như
"sấm nổ trong lỗ tai" (Phan Tấn
Sang, Đinh Ngọc Tú, số 1 trang 12 Lục tỉnh tân văn) và tạo ra một tranh luận
sôi nổi kéo dài hầu như cả năm, cho đến khi Trần Chánh Chiếu bị bắt và phong
trào bị dẹp.
Ở vùng đất cũ, những ông đồ nho
không biết chữ Tây, có khi cả Quốc ngữ, ham đọc Tân thư, cảm phục văn hóa Tây
phương, chủ trương duy tân dựa vào việc thực hiện những lý tưởng dân chủ dân
quyền của Montesquieu, J.J. Rousseau, và phê phán hủ nho. Còn ở vùng đất mới,
những ông đồ tây tốt nghiệp các trường tây lại không nói gì đến văn hóa Tây
phương, kể cả tư tưởng tiến bộ, cũng không phê phán nho học, trái lại lấy nho
học làm cơ sở lý luận cho phong trào Minh Tân, đòi đưa Thích Ca về Ấn Độ, và
Quan Công về Tàu. Thái độ trọng nho không phải chỉ ở việc đề cao tư tưởng Nho
mà cả ở hình thức, viết tên bài. Chẳng hạn số 1: Hiệp bổn tranh lợi, đạt báo hữu
ích luận; Dương nhơn thiên sự; công ngọc di thố; cấp báo lợi nguyên. Dính ngoa
tù, còn trong bài, thấy sử dụng không những các câu chữ nho đã thành châm ngôn
mà cả câu nói xuôi chữ nho.
Ý định rõ rệt của cuộc vận động
văn hóa dựa trên khẩu hiệu trên là đả phá những tập tục mê tín dị đoan mà người
Tàu và chà và đã khai thác để trục lợi về kinh tế, thương mại, nên hô hào trả
về cho Ấn Độ, Trung Quốc bọn ác tăng, thầy pháp, những nghi thức cúng tế dị
đoan du nhập từ hai nước đó. Ý định sâu xa hơn, không được hoàn toàn tán đồng,
do đó gây tranh luận là phê phán luôn cả Phật giáo, đạo thờ Quan Công và Thiên
chúa giáo (trả Đức Giê-su về Rôm) hiểu như những tôn giáo thờ các thần thánh
không có hiệu năng về chính trị, xã hội. Nói cách khác, thỏa mãn những nhu cầu
của con người, bảo vệ quyền sống của dân tộc. Dân Ấn Độ nghèo đói, bị đô hộ
"nửa Ấn Độ bị Hồng Mao chiếm
đoạt, Phật có giải quyết bảo
vệ được đâu, nước Việt Nam bị Lang sa chiếm đóng, các thần linh cố hỉ có đứng
ra đỡ đạn cứu dân cứu nước được đâu".
Sự phê phán tính cách bất lực, xuất thế của các tôn giáo đưa đến việc chấp nhận
nho học, không phải là tôn giáo mà chỉ là một đạo đức
học dạy tiến nhân xử thế. Còn nếu hiểu Quan Công không phải là thần linh, mà
chỉ là một người nêu gương nghĩa khí, thì Việt Nam thiếu gì, đâu cần đến Quan
Công. Sau cùng, ai muốn đi tu, thì cứ việc tu tại gia thờ cha kính mẹ cũng đủ
đắc đạo rồi.
VI. NHO HỌC TRONG HAI GIỚI XÃ
HỘI
Những biểu lộ nho học trong hai
giới thường bị coi là mất gốc hay vô luân.
1. Thiên chúa giáo:
Báo "Nam Kỳ địa phận" (thời đó
Nam Kỳ về phương diện giáo quyền gồm có lục tỉnh và Nam Vang) sống 37 năm từ
số 1 ngày 26-11-1908 đến số chót ngày 1-3-1945. Tờ báo này đáng lưu ý vì:
- Tuy là báo đạo nhưng chỉ nói về
đạo một phần ba, còn lại bàn về đủ mọi vấn đề đòi "hữu ích thì đem vô hết" từ
văn học dân gian (thai đố, chuyện giải buồn) đến thuốc bắc, thuốc nam, làm ăn
buôn bán v.v... cũng không dành riêng cho người công giáo. Mục đích tờ báo là:
"Cho thông phần đạo, và ngoan việc đời" nói theo bây giờ là "tốt đạo, đẹp đời".
Về phương diện văn hóa dân tộc
dựa trên nho học, tờ báo cho thấy:
1. Những bài đạo (chú giải kinh
Thánh, giảng kinh...) thường sử dụng tư tưởng nho câu chữ nho để diễn giảng.
2. Những truyện, sự tích thường
lấy các gương truyện Trung Quốc ra để minh họa đạo lý kitô giáo. Điều gây ngạc
nhiên thích thú là thấy tờ báo sử dụng cả truyện Tàu - viết truyện ta theo
truyện Tàu - thể hiện tinh thần đạo lý nho và kitô giáo. Truyện "ông Gioan Ngô
Kim Thạch" đăng từ số 403 (1916) đến số 451 (1917) khá hấp dẫn cho thấy truyện
Tàu ảnh hưởng tốt, không phải xấu như Phạm Quỳnh đã mỉa mai, miệt thị: "Những
tiểu thuyết Tàu từ tám mươi đời, triều ấy, văn chương đã chẳng ra gì mà truyện
thì toàn những truyện huyền hoặc quái đản của mấy bác cuồng nho bên Tàu đời
xưa ngồi không bịa đặt ra để khoái trá bọn hạ lưu vô học. Thế mà dịch nhiều
như vậy, thịnh hành như vậy, nghĩ cũng khả kinh thay" (Một tháng ở Nam Kỳ, báo
đã trích dẫn).
3. Những bài khảo luận dài sau in
thành sách về: Phép lịch sự của người Việt Nam trước khi chịu ảnh hưởng Tây
phương, phép làm thơ văn theo lối xưa v.v... đều dựa vào truyền thống văn hóa
dân tộc ảnh hưởng nho học.
Nam Kỳ địa phận bán được 2000 sổ,
so với các tờ cùng thời như Lục tỉnh tân văn, Nông cổ mín đàm, được phổ biến
rộng rãi hơn nhiều. Chắc hẳn nguyên nhân ở chỗ nội dung phong phú đa dạng còn
lối trình bày, lối viết rất gọn, rõ, đúng chính tả.
Ngược lên trước 1805, chúng tôi
có một bản dịch quốc ngữ chép tay vào cuối thế kỷ XIX (1816), cuốn "Sấm truyện
ca" của Lu Y. Đoạn viết bằng chữ nôm của thế kỷ XVII (1670), trước tác theo
tinh thần các truyện nôm dùng tư tưởng và ngôn ngữ nho học để diễn tả kinh
Thánh. Theo truyền tục, cuốn này được các nhà nho đương thời tán thưởng, nhưng
bị các thừa sai ngăn cấm vì cho là không "chính thống".
Ngoài ra chúng tôi cũng có Phi-nang
thi tập, Vịnh Evang (thế kỷ XIX) của Phan Văn Minh, linh mục, người cộng tác
vào việc soạn thảo tự điển Taberd, tử vì đạo, được phong thánh gần đây, hồi
còn du học ở Penang đã đề ra một xướng họa thơ bát cú với chủ đề Giatô cơ đốc.
Sau về nước vẫn tiếp tục xướng họa và ngay cả sau khi chết do những người giữ
tập thơ; vì thế có 4 bài đặc biệt liên quan tới thời cuộc tố cáo Pháp lợi dụng
đạo Thiên chúa để xâm chiếm Việt Nam. Những bài thơ xướng họa này, theo lời
giới thiệu của người sưu tầm, ông Nguyễn Cang Thường, nhằm "truyền bá lý tưởng
công giáo qua hình thức văn chương thơ phú sãn có để trao đổi những ý thức
được dung hòa giữa nho học, truyền thống của dân tộc và giáo huấn của phúc âm
thư".
2. Trộm cướp:
Trộm cướp ở miền Nam thời kỳ đầu
thuộc địa không giản dị chỉ là thuần túy lấy của người khác bằng bạo lục để
tiêu xài, nghĩa là một hành động phi pháp vô luân, nhưng là một hiện tượng
phức tạp vì có khía cạnh đạo lý, chính trị bên trong. Đọc những báo cáo chính
trị của các thống đốc, toàn quyền thời kỳ đầu thuộc địa, hầu như không có báo
cáo nào không nhắc đến nạn trộm cướp vũ trang. Chính nhà cầm quyền Pháp đã
nhìn nhận trước khi Pháp sang cai trị, tình hình an ninh xã hội tương đối ổn
định vì: Người Annam sống tự do trong làng xóm của họ, an hưởng của cải họ làm
ra. Họ tự đặt cả những người quản trị xã thôn, sự di chuyển các gia sản thực
hành đúng đắn, nhà nước hoàn toàn không can dự gì vào đó. Thuế khóa vừa phải...
(7). Nhưng đến khi người Pháp sang, chỉ ít
lâu sau, tình hình an ninh xã hội trở thành tồi tệ như Le Myre de Villers đã
thú nhận: "Luật lệ không được tuân hành nữa, chỗ nào
cướp trộm và rối loạn cũng hiển nhiên như ban ngày"
(8).
Như vậy, nguyên nhân sa sút về an
ninh xã hội bắt nguồn từ chế độ thuộc địa: thuế má tăng gấp 2 lần thời cựu
trào; thời này đôi khi lúa gạo bị cấm xuất cảng để dự phòng nạn đói, nay được
khuyến khích xuất cảng vì mục đích chủ yếu thêm tiền thuế.
Những xáo trộn do mở mang đô thị
tạo nên số đông sống bằng những nghề tạm bợ, rất dễ rơi vào tình cảnh thất
nghiệp. Những người này cũng thường không có nơi cư ngụ nhất định vì phải thay
đổi làm đủ nghề để sống, dễ trở thành du đãng. Tất cả những thành phần sống
bên lề xã hội này ít nhiều đều thấy ông chủ gây ra những khổ cực tủi nhục của
họ là người Pháp, chế độ thuộc địa và những tay sai giàu có nhờ bám vào chế độ
này. Nếu không nhận định như trên, không thể hiểu được tại sao những băng cướp
lại thường nhằm tấn công những cơ sở chính quyền hoặc những tư nhân người Pháp,
chà và, tư sản, địa chủ người Việt giàu có vì được chia phần áp bức bóc lột.
Cung cách làm ăn của những tay
trộm cướp còn cho thấy một khía cạnh khác khá rõ nét và đặc biệt. Khía cạnh
đạo lý qua việc họ kết nghĩa với nhau và cử chỉ nghĩa hiệp với người khác. Đây
là ảnh hưởng của truyện Tàu mà có lẽ không một người nào sinh ra, lớn lên lại
không đọc hay nghe kể, hoặc đã xem tuồng đôi ba lần. Truyện "Kim thời dị sử"
của Biến Ngũ Nhi, một tiểu thuyết trinh thám bán rất chạy hồi đầu thế kỷ là
một dẫn chứng về khía cạnh đạo lý trong nghề đạo tặc ở miền Nam, mặc dầu thứ
đạo lý này không hẳn là nho học chính thống.
Gần đây một vài cuốn tiểu thuyết,
ký cũng viết về những tay trộm cướp tham gia các tổ chức cách mạng. Phải chăng
những người này có lẽ rất khó chuyển hướng nếu họ chỉ là những tay trộm cướp
chuyên nghiệp? Điều đáng lưu ý hơn nữa trong truyện "Chân dung một quản đốc"
của Nguyễn Hiểu Trường (9) là nhân vật chính
sau khi đã trải qua quá trình chiến đấu rèn luyện đảm nhận một chức vụ lãnh
đạo trong tổ chức cách mạng vẫn giữ được những nét đẹp của phong cách đạo lý
của kết nghĩa và nghĩa hiệp. Cuốn ký của Nguyễn Hùng về "Người Bình Xuyên"
(10) cũng làm nổi bật tính chất đặc biệt của
một tổ chức nổi tiếng một thời đã muốn thể hiện nếp sống của những nhân vật
trong Thủy hử, Tam quốc. Hầu hết những người này đều tham gia những hoạt động
chính trị, cách mạng. Người theo cách mạng rồi bỏ, người theo đến cùng. Nhưng
tất cả đều cố giữ những đòi hỏi đạo lý của việc kết nghĩa: giữ lời hứa, chữ
tín, không bao giờ phản bạn. Cả các lối văng tục, chưởi thề, khi không phải
trường hợp thói quen dùng làm câu đệm nhưng để bày tỏ thái độ chống đối sự giả
dối, đê tiện, thiếu nghĩa hiệp cũng bao hàm những ý hướng đạo lý đích thực,
đáng phục.
Tuy nhiên dẫn chứng có tính
thuyết phục hơn có lẽ là những ghi nhận của chính nhà cầm quyền Pháp thời kỳ
này:
1. Hội Vạn xe:
Một băng du đãng lấy tên là Hội
Vạn xe ở Saigon hồi 1888 do một người lính cựu ngạch tên là Bếp Tốt cầm đầu.
Hội này có tòa án riêng, hoạt động trong vùng Chợ lớn. Một nhóm bị bắt gồm các
tay đánh xe ngựa vì đã xâm nhập nhà thương Chợ Quán giết y sĩ giám đốc. Cùng
phối hợp với Hội Vạn xe có một băng du đãng 7 người bị bắt đày đi Côn Đảo vì
đã đánh Cai tổng Long Hùng Hạ và một viên chức quận 20, đốt nhà, giết chết vợ
chồng Phó tổng Long Hùng Hạ, làm đầu nậu thâu tiền các nhà buôn trên bến Lê
Quang Liêm (11).
Những băng cướp này phải chăng là
thuần túy du đãng. Nếu ở nơi họ không có một chút gì đầu óc quốc gia, tinh
thần cách mạng, làm sao có thể hiểu được một tập đoàn xe thổ mộ có quá khứ lâu
dài khi có dịp trở thành một lực lượng tranh đấu? Chính họ đã hưởng ứng lời
kêu gọi của tờ La Lutte tổ chức cuộc đình công lớn nhất đầu tiên ngày
4/11/1935 để kỷ niệm Cách mạng tháng 10.
2. Du đãng trộm cướp trong báo
cáo chính trị:
a. Trong một báo cáo chính trị
của toàn quyền Đông dương gởi Bộ Thuộc địa số 16 ngày 22/2/1906, có nhắc đến
nỗi lo ngại của các quan đầu tỉnh về những băng du đãng sống bên lề pháp luật,
thỉnh thoảng xuất hiện tấn công các trụ sở công lập, hoặc các nhà tu ở Vĩnh
Long, Biên Hòa, Mỹ Tho và hầu như khắp nơi.
b. Trong báo cáo chính trị của
Toàn quyền gởi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa số 2005 ngày 14/1/1906 có dẫn phúc trình
báo cáo của Thống đốc Nam Kỳ về sự phát triển các hội kín thật đáng lo ngại và
sự liên kết giữa các hội kín và các tay du đãng. "Người ta thấy những bọn du
đãng có những hoạt động ít nhiều kết quả, móc nối với những tổ chức kể trên để
tìm những kẻ đồng lõa".
c. Báo cáo về tình hình chính trị
kinh tế ở Nam Kỳ (1906): Sau khi nhắc đến tình hình mất mùa, bão lụt liên tiếp
từ 1904 đến 1906, bản báo cáo rút ra một hậu quả nghiêm trọng mà Nam Kỳ đã
chịu đựng từ nhiều năm qua. Nạn du đãng hoành hành khắp nơi, tổ chức thu thuế,
dùng giấy căn cước giả, nên thoát được những vụ kiểm tra xét giấy tờ hoặc bị
đưa ra tòa. Những tay du
đãng này cũng tham gia các hội kín và thành lập một hội gọi là Hội tương trợ
cho cái xấu (C"est ce qui
a lieu pour les vagabonds qui s"enrôlent dans les sociétés dites secrètes et
contribuent ainsi à constituer ce qu'on pourrait appeler la mutualité pour le
mal).
d. Báo cáo của toàn quyền Đông
Dương gởi Bộ Trưởng Bộ Thuộc địa số 116S ngày 2/8/1917 có ghi:
"Những kẻ du đãng giả danh đi
buôn để đi lại tự do trong xứ thuộc địa này và
thường nói ra những lời đối nghịch chống lại sự cai trị của chúng ta. Khi có dịp
thuận tiện, những tay đi buôn này trở thành quần chúng, không ngần ngại khủng
bố các viên chức, tìm bắt những người tố cáo chúng và dọa trả thù".
e. Báo cáo về tình hình chính trị
ở Nam kỳ quý IV/1911 của văn phòng Thống đốc:
"Phải kể đến một vụ cướp táo bạo
hiếm có vào hồi tháng chạp xảy ra ở ty thuế đoan Mỹ Thanh (Bạc Liêu) ngày 22
vào lúc 6g30 chiều, như tôi đã trình bày trong văn thư số 4-H: Một toán gần 15
tên đột nhập Ty sau khi đả
thương ông Giaccôbi và ngăn chặn những viên chức bản xứ có mặt can thiệp bằng
những lời hăm dọa, chúng bẻ khóa két, lấy 3 ký thuốc phiện và 600 đồng cùng với
một khẩu Mousqueton, một khẩu Lebel và 100 viên đạn, một khẩu súng sáu và 2
súng lục. Rất may những vết thương của ông Giaccôbi không trầm trọng".
NHẬN XÉT & GIẢ THUYẾT GIẢI
THÍCH
Một vài tài liệu kể trên cho thấy
sự kiện: Văn hóa dân tộc dựa trên nho học vẫn tiếp tục được phổ biến sâu rộng
trong mọi từng lớp thời kỳ đầu Pháp thuộc ở vùng đất mới. Riêng trong giới trí
thức, mặc dầu được đào tạo hoàn toàn theo tây học, họ vẫn trọng nho, thông nho
vì học từ chữ nho, nhất là vì được hít thở bầu khí nho văn thấm nhuần sâu đậm
gia đình xã hội. Những trí thức tây học này chắc hẳn hiểu biết, cảm phục văn
hóa tây phương, nhất là phần tiến bộ của nó. Họ trực tiếp lãnh hội bằng tiếng
Pháp, không qua tân thư như các người đương thời ở vùng đất cũ. Vậy tại sao
sách báo họ viết hầu như không hề đề cao, thậm chí không nói đến văn hóa Pháp,
tây phương? Ngay cả trong trào lưu Minh Tân, cũng chỉ thấy họ chấp nhận kỹ thuật
Tây phương: kỹ thuật làm báo, viết tiểu thuyết, buôn bán, hùn vốn lập hội, lập
công ty, mở khách sạn, ngân hàng v.v... Tại sao họ vẫn đề cao văn hóa dân tộc
dựa trên nho học? Dĩ nhiên phải xem họ hiểu thế nào là văn hóa dân tộc, hoặc
nho học mà họ trọng dụng là thứ nho học nào? Nhưng có điều thật rõ rệt: họ đã
chọn văn hóa dân tộc dựa trên nho học làm tư tưởng chỉ đạo cho các loại tiểu
thuyết, hoặc làm cơ sở lý luận cho phong trào Minh Tân. Nói cách khác, họ
không coi nho học là yếu tố ngăn chặn hướng phát triển kinh tế, xã hội.
Sự kiện trên không phải cá biệt
chỉ xảy ra với vài ba người, ở trong một giới xã hội, mà hình như bao gồm cả một
lớp người thuộc một thế hệ ở các giới xã hội khác nhau. Những linh mục trí thức
như Hồ Tấn Đức, Nguyễn Thanh Chiêu, phụ trách tờ Nam Kỳ địa phận những năm đầu
thế kỷ, am hiểu nho học sử dụng thành thạo văn nho, những người mà sau này thật
khó thấy trong giới Thiên chúa giáo, cho thấy ngay cả giới Tây hóa là Công
giáo cũng biểu lộ xu hướng chung của một thế hệ.
Riêng đối với từng người, không
phải sự lựa chọn nho học chỉ xảy ra ở một quãng đời như vào tuổi già, mà ngay
từ thời trẻ tuổi và vẫn giữ luôn mãi sự lựa chọn đó suốt cả cuộc đời, sự nghiệp
của mình. Chẳng hạn Hồ Biểu Chánh viết hơn 60 cuốn truyện, vẫn chỉ có một tư
tưởng chủ đề là đạo lý Nho mà thôi.
Giả thuyết giải thích đề nghị dựa
vào mấy hướng tìm hiểu sau đây:
1. Những điều kiện địa lý,
chính trị của vùng đất mới:
Những điều kiện khách quan này
chi phối đến một chừng mực nào đó nếp sống văn hóa của người lưu dân.
Vì thế Nho giáo ở Miền đất mới
này không thể giống hệt như nơi quê cũ. Cuộc sống khai hoang đã sàng lọc lại,
bỏ bớt những gì là từ chương nghi lễ câu thức. Đạo nho của lưu dân khai hoang
và con cháu họ được hiểu theo cốt lõi, tinh túy hơn nơi quê cũ. Khoan nói tới
tam tòng, ngay tam cương cũng đã được lưu dân hiểu đúng với ý ban đầu của Khổng
Tử, nhất là của Mạnh Tử. Thí dụ: Cương thú nhất trong tam cương là vấn đề quân
thần, vấn đề trung quân. Nếu ở miền đất cũ, trung quân được hiểu như một gắn
bó chung thủy với một ông vua, một triều đại duy nhất thì ở các lưu dân không
hẳn là vậy. Chiến tranh liên miên, đổi thay chế độ cùng vua chúa quá nhiều. Đó
là đối với lưu dân Việt Nam. Còn đối với lưu dân gốc Hoa như nhóm Dương Ngạn Địch,
Mạc Cửu và con cháu họ - những kẻ cựu thần của Minh Triều đã bỏ quê hương mà
đi vì không chấp nhận nhà Mãn Thanh, một triều đại của kẻ xâm lăng đối với Hán
tộc, thì trung quân được hiểu ra sao?
Trước hết đối với họ: hành động bỏ
Trung Quốc chạy ra nước ngoài là trung quân. Dương Ngạn Địch thay mặt 3000
binh sĩ cùng gia đình trình lên Chúa Nguyễn năm 1679 tâm tư và nguyện vọng như
sau: "Chúng tôi là tôi lưu
vong của nhà Đại Minh, vì nước thề hết lòng trung, nay lực kiệt, thế cùng, quốc
tộc nhà Minh đã chấm dứt, chúng tôi chẳng chịu làm tôi nhà Thanh, nên chạy đến
quý quốc, thành tâm xin làm tôi tớ".
Chúa Hiền chấp nhận lời xin, "khiến đặt yến tiệc đãi họ, an ủi, khen ngợi, cho
các tướng lãnh y chức cũ, phong thêm quan tước mới", khiến
vào ở đất Đông phổ để mở mang đất mới (12). Họ
chia làm hai: Dương Ngạn Địch định cư ở Mỹ Tho, Trần Thượng Xuyên (1 tướng
khác trong đoàn lưu vong) định cư tại Biên Hòa:
"Ở hai nơi ấy, hai đoàn di dân vỡ
đất, phá rừng cất phố, lập chợ, từ đó thương thuyền
các nước Trung Hoa, Nhật Bản, Tây Dương, Đồ Bà qua lại tấp nập, và cũng từ đó,
phong hóa Trung Quốc thấm dần vào xứ này".
Đối với Mạc Cửu cũng vậy. Khi Mạc Cửu, cũng không chịu thần phục Mãn Thanh, đến
xin nhập cảnh lập nghiệp, chúa Nguyễn năm 1708 cũng đối
xử tử tế, cho định cư ở vùng Hà Tiên...
Những lưu dân gốc Hoa này, cùng
con cháu họ trung quân thế nào? Dĩ nhiên trong nội bộ (Vương triều Nguyễn để
cho họ tự trị khá lâu dài) họ vẫn hoài bão, một hoài bão phai nhạt dần với thời
gian: "bài Mãn phục Minh".
Còn trên thực tế, họ đã khá trung với Vương triều Nguyễn, Vương triều Nguyễn
không những đã bao dung cho họ có cơ hội làm lại cuộc đời, lại còn trọng dụng
phong quan tước. Bản thân
Dương Ngạn Địch, Trần Thượng Xuyên, Mạc Cửu và con cháu họ sau này bao giờ
cũng đứng về phía Việt Nam, phía vương triều Nguyễn trong cuộc đấu tranh giành
đất ở Nam Kỳ chống lại Cao Miên và Xiêm La.
Những thứ trung quân nặng về ơn
nghĩa này của lưu dân Trung Hoa không hẳn là thứ trung quân của lưu dân Việt.
Đối với lưu dân Việt, sự trung quân của họ
"chính danh" hơn. Đối với vua
chúa, họ chỉ trung nếu vua tỏ ra xứng đáng là vua, họ chỉ tuân theo quan lại
Triều đình nếu quan lại thanh liêm, cai trị vì hạnh
phúc nhân dân. Còn vua tồi tệ,
quan lại tham ô thì chưa chắc. Quân có ra quân, thì thần mới ra thần. Quan hệ
vua tôi là quan hệ hai chiều và khi có mâu thuẫn thì họ viện dẫn Mạnh Tử: Dân
vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh.
Chúng ta hãy coi vài thí dụ tiêu
biểu:
- Hồ Biểu Chánh trong
"Ngọn cỏ gió đùa" đã cho nhân vật
Thể Hùng, trước khi rời nhà tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, tranh luận
với cha vợ như sau:
"Thưa cha, hễ làm vua mà không
biết trọng nghĩa của tôi, thì Tôi phạt, chẳng cần biết ai là
quân ai là thần, mà gọi đó là phản nghịch.
- Hứ, mày nói vô quân vô phụ dữ.
Vậy chớ mày quên câu: "Quân
xử thần tử, thần bất tử bất trung; phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu" rồi
sao?
- Thưa, câu sách đó là câu của
người nịnh hót nhà vua họ đặt ra mà làm cho ám muội lòng dân đặng tiện bề cai
trị, câu đó là câu hại dân, chớ có ích chi đâu mà phải làm theo
(Sđd trang 194).
- Cũng văn Hồ Biểu Chánh, trong
tiểu sử "Truyện Chưởng Hậu
quân Võ Tánh" có ghi lại việc sau: Một quan thân tình của Nguyễn Ánh đã thu
thuế gấp đôi số quy định để bỏ túi một nửa. Võ Tánh khuyên Đông cung Cảnh
trình nội vụ. Cảnh sợ bố không dám. Võ Tánh tức điên nói:
"Ngài là Đông cung Thái tử, còn
chúng tôi đây là bọn trung thành của vua. Hễ trong nước có xảy ra việc gì
không phải, thì chúng ta
phải tâu cho Hoàng thượng hay liền. Nếu Hoàng thượng ra lịnh bất minh, chúng
ta cũng cứ nhắm mắt bịt tai mà thi hành, không kể chi quấy phải, dường ấy sao
gọi là con thảo trong nhà, sao gọi là Tôi ngay trong nước. Nếu ngài không chịu
tâu với Hoàng thượng thì tôi với Tôn Thất Hội tâu. Chúng tôi không lẽ làm
thinh được, bởi vì thấy vua làm sai mà tọa thị điềm nhiên, thì là trái đạo làm
Tôi lắm".
- Tân Dân Tử trong lịch sử tiểu
thuyết "Gia Long tẩu quốc"
có kể lại sự việc sau: Đỗ Thành Nhơn, tư lệnh quân đội của Nguyễn Ánh, để tăng
cường hải quân chống Tây Sơn, cho lệnh dân Trấn Biên (các tỉnh miền Đông Nam Kỳ)
đóng 51 thuyền chiến. Sau đó lại bắt
góp ngay 3.000 hộc lương cho đội
thuyền này.
Quan địa phương này vẫn là người
phe đảng của Đỗ Thành Nhơn ỷ thế cậy vai, thừa dịp ấy mà ép buộc nhân dân, chẳng
những bức bách hiến nạp quân lương mà thôi, lại còn kiếm chuyện hà lạm bạc tiền,
đặng bỏ cho đầy túi, bằng ai bất tuân mạng lịnh, thì phải bị khảo kẹp giam
còng và làm nhiều điều rất hà khắc thảm khó, lại sai một đạo quân đi rảo các
làng các xóm, coi nhà nào lúa nhiều, thì thâu năm bảy chục hộc, một đôi trăm,
coi nhà nào có năm mười giạ để chi độ vợ con, thì cũng ép mỡ rán dầu, mà tóm
thâu sạch hết.
Lúc đó, có quan huyện lệnh Đặng Hữu
Tâm thương dân nghèo tới hoãn và miễn giảm cho dân thì bị Đỗ Thành Nhơn không
những không nghe, còn khép Tâm vào tội vi phạm quân lệnh mà xử tử. Tức quá,
huyện lệnh Tâm mắng Đỗ Thành Nhơn như sau:
- Đỗ Thành Nhơn hỏi mi, mi làm một
chức Quận công thượng tướng là một bậc cha mẹ của nhơn dân, sao mi chẳng biết
bảo hộ dân nghèo, xót thương kẻ khó, nhơn dân là ích tử của Triều đình, là cội
rễ của nhà nước, nếu không có dân thì mi làm quan với ai?
Đó là điểm về tam cương, còn ảnh
hưởng của Tam tòng ở vùng đất mới ra sao?
Điểm đầu tiên cần ghi nhận là các
nhà nho và các nhà văn Tây học có Nho học vẫn rao giảng thứ đạo lý kiểu Nguyễn
Đình Chiểu: "Gái thời tiết
hạnh là câu trau mình".
Các nhân vật nữ của các vị ấy vẫn đua nhau thủ tiết - dù phải trả giá bằng
sinh mạng mình: Kiều Nguyệt Nga của Lục Vân Tiên, Nhan Khả Ái của Phan Yên ngoại
sử, Ngọc Sương của Gia Long tẩu quốc, Bạch Thu Hà của Giọt máu chung tình...
Nhưng trong khi nhân dân Nam Kỳ vẫn
say sưa kể Lục Vân Tiên cho nhau nghe, Vân Tiên vẫn bảo Nguyệt Nga:
"Khoan khoan ngồi đó chớ ra,
Nàng là phận gái ta là phận trai..."
thì nhân dân vẫn xì xào truyền khẩu
hai câu sau:
"Vân Tiên ngồi núp bụi môn,
Chờ cho trăng khuất sờ l... Nguyệt
Nga"
Đối với các nữ nhân của giới lưu
dân khai hoang, nhất là phía Việt Nam, thì cái thứ tiết hạnh, tam tòng tứ đức
của các cụ nho, chỉ là truyện nặng về sách vở, không phải họ
"hư" hơn gái Bắc gái Trung, chưa
ai dám nói như vậy, nhưng cuộc sống khai
hoang - cuộc sống này bây giờ vẫn
còn tiếp tục tồn tại ở U Minh, Đồng Tháp... và các vùng kinh tế mới - không
cho phép họ cư xử như các cụ muốn.
Trong cuộc sống khai hoang hoặc
có chiến tranh liên tục, đàn ông thường xuyên vắng nhà. Sấu dưới sông giơ miệng
táp, cọp về vườn, rắn vào nhà, người nữ khai hoang đương nhiên xông ra chiến đấu
bảo vệ con, bảo vệ mình. Không thể có mục phu xướng phụ tùy, mà chỉ có sự phân
công hợp lý giữa nam và nữ. Người nữ thực hiện phần việc của mình, không hề có
mục ăn bám, hoặc phụ thuộc kinh tế vào người nam. Do đó bình đẳng với người
nam hơn bất cứ nơi nào ở Việt Nam. Tứ đức thì còn tạm thông qua, chứ tam tòng
thì khỏi có.
Người ta có thể nhận thấy hiện tượng
này nơi phụ nữ Hoa Kỳ. Trước 1945, ngay dân các nước Âu châu còn ngạc nhiên
trước sự bình đẳng của phụ nữ Mỹ: chồng đi làm thì vợ cũng đi làm, ăn xong thì
chồng phụ vợ cùng rửa bát. Cảnh một nam nhi Hoa Kỳ lau nhà, bế con thay cho vợ
là cảnh thường có và mọi người đã cắt nghĩa hiện tượng này bằng sự kiện Hoa Kỳ
là một đất nước tạo bởi các lưu dân tự nguyện, là xứ sở xây dựng bởi những con
người khai hoang. Xem những phim cao bồi chống da đỏ trước đây, những cảnh đàn
bà cầm súng chiến đấu cạnh nam nhân là thông thường.
Vậy các người nữ khai hoang không
thể là các nhân vật nữ ẻo lả, mình mai vóc hạc gió thổi bay, hơi một tí thì ngất
xỉu hay sướt mướt ướt đẫm bảy khăn tay. Họ khẳng định họ là những con người,
người nữ tất nhiên, khỏe mạnh, bằng xương bằng thịt. Đọc các truyện của các
nhà văn miền Nam người ta đều thấy các nhân vật nữ đầy sức sống và có khả năng
chiến đấu - như đàn ông. Họ đã là như thế từ lâu.
2. Chống lại một chính sách đồng
hóa về văn hóa:
Đạo lý truyền thống dân tộc dựa
trên nho học, tuy được hiểu khác đi cho thích hợp với hoàn cảnh vùng đất mới,
vẫn rất sống động mãnh liệt nhờ những giao lưu văn hóa từ dưới với dưới, với cộng
đồng người Hoa. Đạo lý truyền thống dân tộc dựa trên Nho học còn trở thành một
ý thức đối kháng đặc biệt của các tầng lớp trên chống lại một chính sách đồng
hóa thâm độc nhằm xóa bỏ văn hóa truyền thống và tiêu diệt dân tộc. Trong những
chương sau về lịch sử tiểu thuyết, chúng tôi sẽ chứng minh việc viết sử ký, tiểu
thuyết lịch sử nhằm mục đích làm cho người dân miền Nam đừng quên quá khứ dân
tộc, do đó người ta thấy xu hướng trội bật của các thể loại này nói chung dù
ảnh hưởng lối viết truyện Tàu hay Tây phương đều có nội dung phản ảnh đạo lý
truyền thống dân tộc dựa trên Nho học. Chúng tôi cho rằng không thể giải thích
được sự kiện này nếu không đặt vào hoàn cảnh chính trị có mối đe dọa không những
chỉ mất độc lập về chính trị, mà nhất là mất gốc về văn hóa.
Thời Nguyễn Đình Chiểu, thời xâm
lược, các nhà nho tẩy chay cả việc sử dụng những đồ dùng như xà bông, không phải
vì không thấy những tiện nghi, giá trị thực dụng của những đồ dùng đó, nhưng
vì những giá trị thực dụng đó đang được lợi dụng gắn liền với ý đồ biện minh
cho việc xâm lược nên phải chống, tẩy chay tất cả những gì Tây đem lại
(13).
Thời bình định, khai thác thuộc địa,
những người trí thức tây học không phải là không biết, không phục những giá trị
tinh thần tư tưởng của văn hóa Pháp, văn hóa Tây phương nhưng khi những giá trị
đó bị lợi dụng gắn liền với một chính sách đồng hóa tiêu diệt bản sắc dân tộc;
Họ không thể không chống lại. Nhưng không thể chống lại bằng cách đả kích văn
hóa Tây phương vì bản thân nó có những giá trị tốt, phổ biến, cũng không thể
chống lại bằng cách tố cáo những lợi dụng chính trị của nhà cầm quyền Pháp vì
đã chấp nhận làm báo, viết sách công khai hợp pháp.
Vậy chỉ còn cách là không nói đến,
bỏ quên bỏ qua văn hóa Tây phương và đề cao văn hóa truyền thống dựa trên Nho
học.
Đường lối chống đối này có vẻ thuận
lợi khi chính người Pháp phải điều chỉnh chính sách đồng hóa triệt để của họ.
Sau khi nhận được những báo cáo báo động tình trạng vô kỷ luật, sa sút đạo lý,
ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng do một chương trình chỉ dạy những kiến
thức thông thường bằng quốc ngữ, mà không dạy những kiến thức đạo lý vì những
kiến thức này chỉ có trong các sách bằng chữ nho là thứ chữ người Pháp đã bãi
bỏ cấm dạy vì nó dựa vào ý thức về đạo lý dân tộc dựa trên Nho giáo, nhà cầm
quyền Pháp bắt buộc phải cho soạn những sách giáo khoa bằng quốc ngữ dạy đạo
lý Nho giáo, vì không thể thay thế bằng đạo lý dựa trên Thiên chúa giáo mà
chính họ không ưa thích (bản thân họ là những người vô thần chống giáo sĩ phu,
theo tam điểm...) và dân chúng cũng chưa chấp nhận mặc dầu chỉ trong giới Công
giáo, việc học chữ quốc ngữ không gây ra môt khủng hoảng đạo lý vì giáo lý,
Hành các Thánh v.v... đã thay thế cho đạo lý Nho học.
Những ông đồ Nho Tây học đã lợi dụng
sự nhân nhượng, hòa hoãn này của người Pháp để soạn và xuất bản rất nhiều sách
giáo khoa, thơ, truyện noi gương đạo lý của các danh nhân để phục vụ đường lối
không phải chỉ đề cao đạo đức nói chung như người Pháp muốn, mà là đề cao đạo
đức truyền thống dân tộc dựa trên Nho học.
Nhận xét của Phạm Quỳnh về người
Nam mất gốc có đúng một phần. Điều đó chứng tỏ chính sách của người Pháp thâm
độc và hiệu nghiệm, đồng thời cũng không đúng, chỉ hời hợt bên ngoài, vì rất
nhiều trí thức vùng đất mới chỉ nói tiếng Tây, cư xử như Tây ở ngoài xã hội,
còn về gia đình, có thể họ vẫn giữ nhiều tập tục xưa cũ mà ngay miền Bắc không
còn nữa.
??? nhất là họ vẫn am hiểu, thông
thạo nho học. Do đó ở vùng đất mớ sau nửa thế kỷ thuộc địa, dưới chính sách đồng
hóa, vẫn không thấy xuất hiện một Tú Xương than trách về số phận Nho học hoặc
thấy một phong trào phê phán đả kích Nho học, bị coi là lỗi thời, ngăn cản đà
tiến hóa, đòi hỏi canh tân, phát triển.
Ở vùng đất cũ thời kỳ này, mới chỉ
sau 30 năm bảo hộ, chế độ thi cũ vẫn còn được duy trì, đa số trí thức vẫn là
nhà nho, một vài người trong số đó biết chút ít chữ Pháp, lại có xu hướng bài
nho. Từ "nhà nho" có nghĩa
xấu xa, miệt thị. Đông Dương tạp chí, bộ I vào những năm 1913-14, có nhiều bài
phê phán phong cách nhà nho như loạt bài "Nhà nho" từ các số 82, 83, 85... của
một người tự xưng là nhà nho đã viết: "Cái tiếng nhà nho
là một tiếng nhạo báng, một tiếng rất khinh bỉ, rất đê tiện, vì những tật xấu
của nhà nho như: tính lười nhác, tính dút dát, hay nghĩ chuyện viển vông, tính
cẩu thả v.v... Miệng thì vẫn lẩm nhẩm nói rằng: vạn sự xuất ư nho, mà tư tưởng
hiện nay thì nhà nho ta không được việc gì ích cho đời là mấy. Chẳng những là
làm ruộng kém sức, đi buôn kém tiền, làm thợ thì chẳng biết nghề gì, mà đến những
việc không phải dùng đến tiền đến sức, chỉ dùng bằng trong nghề thường nhà nho
ta xưa nay như thiên văn, địa lý, toán số, y khoa, kể ra cũng không việc gì có
ích, vả lại không nghề gì là biết cho tinh tường, chẳng qua chỉ biết lỏm bỏm
ít nhiều, đã tự đắc là hay giỏi. Thiên văn nọ khải minh thái bạch, đông phần
nào chủ nắng chủ mưa, địa lý kia hổ thủy long sơn điểm huyệt ấy phát đình phát
phủ, thậm chí tính thái ất mà việc cách sau năm trăm năm cũng biết, trong địa
tâm mà vật ở dưới ba thước đất cũng hay, thì nói khí ngoa quá. Thuốc tự xưng
là Hoa Đà diệu thủ, mà người bụng báng đoán sai ra bụng mang thai. Bởi tự đắc
là giả hạc chính chuyên, mà gái chồng còn đoán lầm ra chồng đã chết, thế mới
ngộ nữa. Ấy là nghề tay trái của nhà nho mà thường đã hồ đồ thế, huống chi là
việc khác".
Sau đó hơn 10 năm, Tự Lực văn
đoàn ra đời, tiêu biểu cho giới trí thức Tây học hoàn toàn, còn mấy ai trong
giới này biết chữ nho và cảm phục nho học?
Vậy là có sự khác biệt về lối
nhìn, đánh giá nho học ở vùng đất cũ và đất mới. Sự khác biệt này chắc hẳn bắt
nguồn từ những nguyên nhân, điều kiện khách quan khác nhau quy định.
____________________
Chú thích
(1) Đất Việt phỏng vấn giáo sư
Phan Huy Lê. Báo Đất Việt số 3 năm 1986 CANADA.
(2) Phạm Quỳnh: Một tháng ở Nam
Kỳ - Nam Phong số 17 năm 1919.
(3) Miscellanées số 9 Janvier
1889 Jayon trang 4.
(4) Nam Kỳ nhựt trình, năm thứ 2,
số 80 ngày 11-5-1899 Saigon trang 1265-1267.
(5). Rapport sur la situation
politique de la Cochinchine pendant le 4è trimestre 1911. Cabinet du
Gouverneur No 74 Saigon 2/2/1912.
(6). Những bảng thống kê đối chiếu
này chỉ có giá trị gợi ý mà thôi.
(7, 8) Paul Vial: Les premières
années au Tonkin, tích lại của Phan Khoang, trong bài "Những biến chuyển đầu
tiên trong xã hội Việt Nam khi tiếp xúc với văn minh Âu Tây. Bách khoa số 67
ngày 15/10/1959 trang 18-19.
(9). Nhà xuất bản Thành phố HCM
1983.
(10). Nhà xuất bản Công an Nhân
dân Hà Nội 1985.
(11). Theo báo cáo của Tham biện
Gia Định. Hồ sơ E.03 trích lại theo Tạ Chí Đại Trường trong "Người lính và cơ
chế thuộc địa Nam Kỳ". Bản thảo trang 96.
(12) Trích trong Việt sử: Xứ Đàng
trong 1558 - 1777 của Phan Khoang.
(13). Dĩ nhiên khi cuộc chiến đấu
không còn nữa, mà vẫn tiếp tục thái độ tẩy chay cả ý nghĩa chính trị thì có thể
trở thành bảo thủ...
© Copyright Nguyễn Văn Trung 1980,
2005