VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU
“THƠ MỚI” HIỆN NAY
(Bài 2)


ĐỖ NGỌC THẠCH


Trong bài viết này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến việc “Nghiên cứu lại THƠ MỚI” hiện nay và bài được chọn để “trao đổi” là bài “Giới thuyết về thơ mới (1930-1945)” của tác giả Bùi Quang Tuyến (BQT) đăng trên Website Tạp chí Sông Hương gần đây, bởi bài viết đã đề cập đến một số vấn đề quan trọng của Thơ Mới…
Mở đẩu bài viết, BQT khẳng định:”Thơ mới là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam nói chung và thơ ca nói riêng trong thế kỷ XX. Nó vừa ra đời đã nhanh chóng khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với các "hoàng tử thơThế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử v..v...” – sự khẳng định này là đúng và nếu như bài viết của BQT làm rõ nhận định đó tức là đã góp phần giúp Thơ Mới “khẳng định vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc” bởi Thơ Mới nhiều phen đã bị hạ thấp, thậm chí phủ định “sạch trơn” thành tựu và bị gán cho rất nhiều “tội”! Song, thật đáng tiếc là BQT đã không làm được như vậy !...
Phần đầu của bài viết, tác giả BQT đã “điểm lại những khái niệm về Thơ mới của các bậc thầy đi trước và tìm câu trả lời cho hợp lý trong bao nhiêu ý kiến trái ngược nhau” , song, sự “điểm lại” này được trình bày khá lộn xộn và dường như tác giả đã tự làm rối vấn đề mà thực ra không có gì mà phải dài dòng văn tự như thế. Biết biến cái phức tạp thành cái đơn giản là một năng lực số một, năng lực để phân biệt người làm công tác nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học với người sáng tác và công chúng văn học, nó là phẩm chất không thể thiếu của ngưới viết lý luận, phê bình. Song, ở đây, tôi thấy tác giả BQT đã làm ngược lại: biến cái đơn giản thành cái phức tạp! Để chứng minh cho nhận xét đó, xin đọc một đoạn sau trong bài viết của BQT:
”Thơ mới là gì? Chính Phan Khôi, người đề xướng ra nó, cũng chưa biết gọi tên là gì, chỉ giới thiệu sơ lược trên Phụ nữ Tân văn số 122, 1932, như sau: "...Tôi sắp toan bày ra một lối Thơ mới. Vì nó chưa thành thục nên chưa có thể đặt tên là lối gì được, song có thể cứ cái đại ý của lối Thơ mới này ra, là: đem ý có thật trong tâm khảm mình tả ra bằng những câu, có vận mà không phải bó buộc bởi niêm luật gì hết". Một năm sau, cũng trên Phụ nữ Tân văn (số 211), Nguyễn Thị Kiêm, một trong những nhà diễn thuyết đầu tiên ủng hộ phong trào Thơ mới cho rằng: Muốn cho tình tứ không vì khuôn khổ mà đẹt mất thì cần một lối thơ khác, do lề lối nguyên tắc rộng rãi hơn. Thơ này khác lối xưa nên gọi là Thơ mới.
Theo ý hai tác giả trên thì Thơ mới là thơ tự do. Mười năm sau, khi Thơ mới tương đối ổn định, chính lúc đó Hoài Thanh. Hoài Chân tổng kết phong trào lại cho rằng: "Không thể hiểu theo cách định nghĩa của ông Phan Khôi. Thơ tự do chỉ là một phần nhỏ trong Thơ mới. Phong trào Thơ mới trước hết là một cuộc thí nghiệm táo bạo để định lại giá trị những khuôn phép xưa".
Trong cuộc thí nghiệm ấy "phong trào Thơ mới vứt đi nhiều khuôn phép xưa, song cũng nhiều khuôn phép nhân đó sẽ thêm bền vững... trong các khuôn phép mới xuất hiện đều bị tiêu trầm như thơ tự do, thơ mười chữ, thơ mười hai chữ, hay sắp sửa tiêu trầm như những cách gieo vần phỏng theo thơ Pháp".
Các tác giả "Thi nhân Việt Nam" cũng đưa ra kết quả của cuộc thí nghiệm đó trên các thể thơ truyền thống được vận dụng sáng tạo bởi các nhà Thơ mới để chứng minh cho phần nhận định của mình.
Sau này (1971), Hà Minh Đức thống kê 168 bài thơ của 45 nhà Thơ mới được Hoài Thanh, Hoài Chân tuyển vào tập Thi nhân Việt Nam và đi đến kết luận: "Nhìn chung các thể thơ 7 từ, 8 từ, lục bát và năm từ là những thể thơ được phổ biến nhất trong phong trào Thơ mới.
Kết luận của Hà Minh Đức về các thể thơ phổ biến của phong trào Thơ mới cho ta thấy nhận xét ban đầu của Hoài Thanh, Hoài Chân có giá trị và xác đáng.
Đi tìm thực chất của khái niệm về Thơ mới, các tác giả "Thi nhân Việt Nam" dừng lại ở chữ "tôi" và cho rằng đó là điều quan trọng - tinh thần của Thơ mới. Theo các ông "tinh thần thời xưa - hay thơ cũ" nằm trong "chữ ta", "tinh thần thời nay - hay Thơ mới" nằm trong "chữ tôi", "tức là ở nguồn cảm hứng của chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa lãng mạn đã trở thành linh hồn của Thơ mới thời bấy giơ". Các ông cũng thấy tinh thần của thơ ấy buồn xôn xao, vì "thiếu một lòng tin đầy đủ". Quan niệm về Thơ mới như vậy là đúng đắn và có chừng mực, tiếp cận được thực chất của vấn đề. Các nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan, Dương Quảng Hàm cũng không đi xa ngoài ý kiến của Hoài Thanh, Hoài Chân.
Bên cạnh quan niệm về Thơ mới bằng cách đối sánh với "thơ cũ"' đã nêu ở trên, một quan niệm về Thơ mới đối sánh với "Thơ cách mạng” cũng đáng chú ý. Chẳng hạn: "Thơ mới ở đây là phong trào thơ ca lãng mạn1932 - 1945 mang ý thức hệ tư sản và quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật" (Phan Cự Đệ 1997:22). "Phong trào Thơ mới cũng như khuynh hướng lãng mạn nói chung là biểu hiện của cá nhân tư sản" (nhóm Lê Quý Đôn 1957:290). "Thơ mới trong thời kỳ này có nghĩa không bằng lòng với cuộc sống trước mắt, nhưng nó hướng người đọc vào những con đường bế tắc" (Viện Văn học, 1964:79).
Một quan niệm như vậy rõ ràng đã đánh giá thấp, phê phán nặng về nội dung tư tưởng và tác dụng của Thơ mới, dù có vạch ra một ranh giới giữa Thơ mới với thơ cách mạng và kháng chiến trước và sau 1945.
Bước vào thời kỳ đổi mới, khái niệm Thơ mới được nhiều nhà nghiên cứu đối sánh với thơ hiện đại. Huy Cận (1933: 10 - 11) cho rằng: "Thơ mới đã tạo ra cảm xúc thi ca chung cho cả thời đại, và những bài thơ đương thời có giá trị đều được sáng tác với luồng cảm xúc mới ấy cho dù các đề tài mà các tác giả lựa chọn có thể rất khác nhau... Thơ mới đã tiếp tục sống, tiếp tục phát triển, nở nhiều hoa, kết nhiều trái qua các giai đoạn phát triển của thơ ca dân tộc". Phan Cự Đệ (1997:22) cho rằng: "Phong trào Thơ mới là một hiện tượng lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ, nó đã đưa thơ ca Việt Nam vào thời kỳ hiện đại, góp phần tạo nguồn và còn ảnh hưởng đến thi ca hôm nay".
Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao Thơ mới, gần như muốn đánh đồng Thơ mới với Thơ Việt Nam hiện đại.” (Đến đây, tất có người sẽ nói tại sao tôi lại trích dẫn nhiều như vậy? Xin thưa ngay rằng nếu không dẫn ra dài như vậy thì làm sao minh chứng cho cái sự “dài dòng văn tự” và “biến cái đơn giản thành cái phức tạp” của tác giả BQT? Văn lý luận, phê bình cần sự mạch lạc, ngắn gọn, nói ít hiểu nhiều chứ như đoạn dẫn trên thì quả là rối như canh hẹ!...).
Theo chúng tôi nghĩ, vấn đề định danh “Thơ Mới” (hay còn được gọi là “Phong trào Thơ Mới”) cần phải “khép lại” và trở thành “văn bản dưới luật” bởi chính cái danh xưng “Thơ Mới” đã thể hiện rất rõ ràng và đầy đủ nội dung cũng như hình thức của một hiện tượng văn học độc đáo, có một không hai là THƠ MỚI mà ngay từ khi xuất hiện, nó đã được gọi là THƠ MỚI ! Lịch sử đã sinh ra nó và đặt tên cho nó là THƠ MỚI thì nó là THƠ MỚI ! Tên gọi đó là sự “mặc định” cho nên chúng ta không thể tùy tiện đặt tên cho nó là “cam,quýt, mít, dừa”!
Phần tiếp theo của bài viết “Giới thuyết về thơ mới (1930-1945)”, tác giả BQT viết:
”Nhiều ý kiến muốn xác định phạm vi thời gian và không gian cụ thể của nó. Phổ biến nhất hiện nay là ý kiến cho rằng khởi điểm của Thơ mới là 1932 và kết thúc 1945. Ý kiến này căn cứ vào những hiện tượng văn học ra đời năm 1932, trong đó có Tự lực văn đoàn và bài thơ Tình già của Phan Khôi, và sự kiện Cách mạng tháng Tám thành công năm 1945.. Cách xác định như vậy có sự thiếu nhất quán: mốc đầu thì lấy mốc văn học còn mốc cuối thì lấy mốc lịch sử. Tại sao lại thay đổi sự phân định trước đây về giai đoạn văn học 1930 - 1945 trong đó có Thơ mới?
Và gần đây có ý kiến cho rằng toàn bộ thơ hiện đại kể cả thơ hôm nay về cơ bản là sư lặp lại và nối tiếp Thơ mới. Một quan niệm như vậy đề cao quá mức và gán cho Thơ mới những giá trị mà vai trò lịch sử cụ thể của nó không thể có được. Đồng thời, ý kiến này vô tình hay hữu ý phủ nhận giá trị và vai trò lịch sử của thơ sau 1945, một nền thơ đã có sự đổi mới về thi hứng lẫn thi pháp.
Chúng tôi cho rằng nên quan niệm Thơ mới là một hiện tượng văn chương có tính lịch sử, là một phong trào văn chương, một cuộc vận động đổi mới về văn chương có phần lý thuyết và thực hành, có người khởi xướng về quan niệm và có nhà thơ sáng tác đi đến khẳng định thành tựu với những tác phẩm có giá trị trong một giai đoạn lịch sử văn học nhất định. Đó là giai đoạn văn học 1930 - 1945.
Có thể nói, Thơ mới được đóng khung trong giai đoạn 1930 - 1945. Trước đó đã có mầm mống bắt đầu của Thơ mới. Đó là năm 1928, Nguyễn Văn Vĩnh với bài thơ dịch "Con ve và con kiến" (La Cigale et la Fourmi) lần đầu tiên xuất hiện trên Trung Bắc Tân Văn. Bài thơ không niêm, không luật, không hạn chữ, hạn câu cho độc giả thấy khuôn khổ bài "thơ cũ" bắt đầu rạn nứt, báo hiệu mầm mống Thơ mới sau này. Còn về cảm hứng thì như Hoài Thanh, Hoài Chân (1941) nhận xét: "Trong đôi bài thơ của Tản Đà mới thấy phảng phất chút bâng khuâng, chút phóng túng của thời sau". Ngoài ra, Tiên sinh "vẫn ca đi hát lại bấy nhiêu đề thơ bằng bấy nhiêu dòng thơ không di không dịch".(Trích dẫn lại hơi bị dài! – Đ.N.T).
Sau khi phân tích chút ít về bối cảnh lịch giai đoạn 1930 – 1945, tác giả BQT viết :
“Theo chúng tôi, không nên xem Thơ mới chỉ là hiện tượng thơ ca đơn thuần riêng lẻ, mà phải gắn bó với nguồn gốc xã hội lịch sử cụ thể của nó. Từ năm 1930, nhiều sự kiện lịch sử, chính trị, văn hoá, tư tưởng với yêu cầu cấp bách có tính chất kịch liệt ảnh hưởng đến xã hội, tác động đến văn học, tạo sự chuyển biến hiện đại hoá về mặt xã hội cũng như văn chương. Do vậy, chúng tôi chọn mốc 1930 làm khởi điểm phong trào Thơ mới, và kết thúc năm 1945, khi cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công, xoá bỏ ách nô lệ của thực dân Pháp hơn 80 năm trên đất nước ta, đem lại độc lập tự do cho dân tộc, đưa đất nước sang một kỷ nguyên mới, làm thay đổi toàn bộ xã hội về mọi mặt, trong đó có văn học. Thế là năm 1945 đã mở ra một giai đoạn văn học mới và tất nhiên là phải khép lại giai đoạn được mở ra từ 1930.
Phải lưu ý rằng trong giai đoạn 1930 - 1945 cũng có những nhà thơ không thuộc Thơ mới. Chẳng hạn như Tản Đà, Á Nam, Ưng Bình... đã sáng tác thơ từ những năm 20, sau năm 1930 cũng tiếp tục làm thơ, vẫn tiếp tục mạch thơ cũ. Còn Tú Mỡ cùng Đỗ Phồn và nhiều nhà thơ trào phúng khác trong giai đoạn này không thể xếp vào phạm trù Thơ mới. Chính Hoài Thanh và Hoài Chân cũng không tuyển thơ của Tú Mỡ trong "Thi nhân Việt Nam". Quả thật, thơ Tú Mỡ mang hình thức truyền thống với nội dung đả kích, trào phúng. Riêng Tố Hữu là trường hợp đặc biệt, làm thơ từ những năm 1937 khi phong trào Thơ mới phát triển ở đỉnh cao. Tác giả ý thức rằng khuôn phép thơ cũ gò bó, khó mà nói hết được nhịp sống mới mẻ của thời đại, nếu như không có một hình thức khác phóng khoáng hơn - hình thức Thơ mới. Từ ấy được sáng tác với ý thức như vậy. Cho nên Xuân Diệu mới cho rằng thơ Tố Hữu trước 1945 thoát thai từ phong trào Thơ mới. Nhưng thơ Tố Hữu khác Thơ mới ở chỗ: thi hứng hoàn toàn khác và mới, một thi hứng của tình cảm, tư tưởng cách mạng được biểu hiện dưới hình thức Thơ mới. Hay nói như Trần Đình Sử (1994): "Trên quỹ đạo của hình thức Thơ mới đương thời, Tố hữu đã phát hiện lại cái tôi nhiệt huyết cảm tính, đem cái tôi cá nhân gắn với cái ta đoàn thể quần chúng, tạo ra những vần thơ bay bổng và sức mạnh".
Như vậy, không phải trong những năm 1930 - 1945 mọi sáng tác thơ đều là Thơ mới, mà có nhiều dòng thơ cùng tồn tại. Thơ mới ra đời và nhanh chóng chiếm được ưu thế trên văn đàn, thơ cũ cũng vì thế mà từ từ rút lui vào hậu trường. Bên cạnh đó còn có một dòng thơ sôi sục đấu tranh của các chiến sĩ cộng sản, dòng thơ cách mạng, tiêu biểu là Từ ấy của Tố Hữu. Và một dòng nữa - dòng thơ trào phúng với Tú Mỡ... Tất cả các dòng trên sau Cách mạng tháng Tám, hợp lưu và chuyển biến thành dòng thơ cách mạng và kháng chiến sau năm 1945.”(Cũng không thể trích dẫn ngắn hơn! – Đ.N.T).
Ở đoạn trích dẫn trên, BQT viết “ Có thể nói, Thơ mới được đóng khung trong giai đoạn 1930-1945” và ở đoạn sau là “chúng tôi chọn mốc 1930 làm khởi điểm phong trào Thơ mới, và kết thúc năm 1945…” : Cái mốc khởi điểm của “Phong trào Thơ Mới” là năm 1932 với sự trình làng bài Tình già của Phan Khôi là một “sự kiện văn học” lớn mà kéo theo sau sự kiện này là cuộc “bút chiến” sôi động kéo dài tới năm l936 với sự toàn thắng của Thơ Mới không chỉ bằng “luận chiến”: Lê Tràng Kiều đã viết hàng chục bài “luận chiến” ca ngợi Thơ Mới, và trên Hà Nội báo số l8 (năm 1936) đã viết những lời khái quát khẳng định sự tất thắng của Thơ Mới bằng giọng văn bốc lửa:”Không có cái lý luận nào hùng hồn để bênh vực Thơ Mới cho bằng chính lại là những bài Thơ Mới… Một nhà thơ như Thế Lữ chẳng hạn, không phải là anh của tôi, của một người nào, mà là con công của một nước, của hiện tại, của tương lai…Mặc ai bữu môi, mặc ai khinh khỉnh, chúng ta cũng có quyền kêu to lên rằng: Chúng ta ngày nay đã có những nhà thi sĩ xứng đáng vậy”; Còn Vũ Đình Liên đọc bài thơ Nhớ rừng của Thế Lữ đã thốt lên:” Chỉ hai câu “Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối/ Ta say mồi đứng uống ánh trăng trong” cũng có sức mạnh của một tuyên ngôn để bênh vực cho Thơ Mới”(Dẫn theo GS. Lê Đình Kỵ: Thơ Mới – những bước thăng trầm, NXB TP.HCM, 1993, tr.18); mà cả bằng sự xuất hiện gần như đồng thời và liên tiếp những Thi sĩ “Tuổi trẻ tài cao” như Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Nguyễn Nhược Pháp, , Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính, Tế Hanh,Vũ Hoàng Chương,Hàn Mạc Tử, Bích Khê, v.v…(Cái danh sách Thi sĩ này có thể kéo dài tới ba mươi người trong số hơn bốn mươi người mà Hoài Thanh đã chọn trong Thi Nhân Việt Nam!).
Sự phân kỳ giai đoạn văn học 1930-1945 với ba dòng văn học Lãng mạn, Hiện thực phê phán Cách mạng thì “Phong trào Thơ Mới” là một “hiện tượng văn học độc đáo” thuộc dòng Văn học Lãng mạn, như thế đương nhiên “không phải trong những năm 1930-1945 mọi sáng tác thơ đều là Thơ mới, mà có nhiều dòng thơ cùng tồn tại” – điều đó đã quá rõ, vậy mà tác giả BQT lại phải cất công chứng minh “Phải lưu ý rằng trong giai đoạn 1930-1945 cũng có những nhà thơ không thuộc Thơ mới. Chẳng hạn như…” thì quả là thừa và làm rối bài viết! Sự phân kỳ giai đoạn văn học 1930-1945 vừa nói quả là còn nhiều tranh cãi về văn học sử, song cho dù sau này có thay đổi, co giãn thế nào thì “Phong trào Thơ Mới” – một “hiện tượng văn học độc đáo” thuộc dòng Văn học Lãng mạn như tôi vừa nói trên vẫn không thể thay đổi “ngày sinh tháng đẻ” từ năm 1932 lùi về năm 1930 như ý kiến của tác giả BQT vừa nói trên. Nếu như BQT theo bài viết của GS Trần Thanh Đạm “Thơ mới 1930-1945 và thơ hôm nay” mà cho rằng Thơ Mới có khởi điểm từ năm 1930 thì một là BQT đã hiểu sai ý của GS Trần Thanh Đạm hoặc là cả GS Trần Thanh Đạm cũng muốn sửa năm khai sinh của Thơ Mới?
Ở đoạn cuối bài viết của tác giả BQT, vẫn thể hiện cái nhược điểm mà tôi đã nhận xét về phần đầu bài viết: ý tứ không mạch lạc, sính dùng những câu văn sáo, và đây đó lại có những nhận định sai lạc. Cách tốt nhất là xin dẫn nguyên văn lại đây để bạn đọc xem xét,( và ở một số chỗ không đừng được, tôi xin đưa ra nhận xét ngắn, được in nghiêng, xen kẽ):
“Cách mạng tháng Tám thắng lợi, hầu hết các nhà Thơ mới đều đi theo cách mạng, họ tự nguỵện hoà cái tôi của mình vào cái ta cộng đồng, cái ta dân tộc. Họ đã lột xác trở thành các nhà thơ của quần chúng cách mạng, Tiếng thơ của họ không còn quanh quẩn trong vòng cái "tôi" tự biểu hiện mà thay vào đó là nhằm biểu hiện đời sống cách mạng, kháng chiến sôi động, hào hùng của nhân dân, của dân tộc. Rồi những nhà thơ trường thành trong kháng chiến như Chính Hữu, Trần Mai Ninh, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Bảo Định Giang, Xuân Miễn, Nguyễn Viết Lãm, Lưu Trùng Dương, Lương An.v..v.. không phải là những Thơ mới. Thơ họ khác Thơ mới, khi mà ý thức hệ thay đổi, cảm hứng về nhân dân, về cách mạng đầy ắp, dồn nén trong thơ họ. Có thể nói thơ họ là cuộc chia tay của thơ kháng chiến với thơ tiền chiến (tức là Thơ mới)(Không hề có “cuộc chia tay của thơ kháng chiến với thơ tiền chiến – Đ.N.T). Về thi pháp, cùng nằm trong phạm trù hiện đại nên ta có thể thấy những câu thơ, thể thơ "hao hao", "na ná" như Thơ mới. Nhưng thật ra sau Cách mạng thơ đã thay đổi nhiều, khi tâm hồn của quần chúng kháng chiến dâng lên như nước vỡ bờ, thơ ca - nhịp đập của trái tim - đã đi tìm hình thức mới để biểu hiện. Chẳng hạn: thể thơ tự do ra đời từ "Thơ mới", ít phổ biến (81/654) bài, nay đã phát huy chiếm tỷ lệ gấp 1/2 (theo thống kê của Văn Tâm, tập thơ kháng chiến 1945 - 1975 (văn học - 1985) có 98/213 bài). Thể thơ tám chữ là một cách tân lớn được sử dụng phổ biến nhất ở Thơ mới (194/654 bài) (thống kê của chúng tôi) nay ít được chú ý. Hiện tượng vắt dòng, tiếp thu ở thơ Pháp, rất thịnh ở Thơ mới nay cũng ít thấy. (Những con số đó không nói được nhiều điều về Thi pháp – Đ.N.T)
Do vậy khi bàn về Thơ mới 1930 - 1945 và thơ hôm nay, trên tinh thần khách quan, khoa học với một quan điểm lịch sử đúng đắn, giáo sư Trần Thanh Đạm (1994) viết: "Từ sau Cách mạng Tháng Tám quả đã bắt đầu một nền thơ ăn thua với cuộc đời chung, góp phần vào sự nghiệp chung của dân tộc. Về cơ bản, tinh thần Thơ mới đã chấm dứt với Cách mạng tháng Tám, để khởi đầu một cuộc cách tân mới của thơ với nguồn thi hứng mới kéo theo một hệ thi pháp mới, với những thành tựu mới, tiến xa hơn cao hơn thời Thơ mới".
Phải nói rằng, Thơ mới là một hiện tượng văn học có giá trị đầu thế kỷ XX. Nó có một phạm vi lịch sử cụ thể, từ 1930- 1945, trước nó chỉ có mầm mống, đồng thời với nó, có nhiều trào lưu thơ không phải thuộc Thơ mới và sau 1945 càng không phải là Thơ mới (câu này ý tứ lộn xộn, rối , có chỗ ngớ ngẩn: sau 1945 thì ai gọi là Thơ Mới nữa ? – Đ.N.T). Trong phạm vi lịch sử đó, Thơ mới có sự đổi mới đồng bộ nghệ thuật thơ: thi hứng hiện đại, thi pháp hiện đại, tạo thành tựu xuất sắc trong thơ Việt Nam hiện đại, để lại dấu ấn sâu sắc, rõ rệt trong thơ nhưng không tránh khỏi hạn chế. Sự đổi mới ấy có gốc rễ rất sâu vào truyền thống. Do vậy, Thơ mới có một bộ mặt riêng, một vị thế riêng, là một bộ phận chứ không phải là Thơ ca hiện đại nói chung (câu này tối nghĩa – Đ.N.T), cần được đánh giá xứng đáng.”

Việc nghiên cứu lại Thơ Mới nói riêng và những hiện tượng văn học độc đáo trong toàn bộ tiến trình lịch sử văn học nói chung, là một công việc không bao giờ có điểm dừng. Hy vọng chúng ta sẽ có được những kết quả tốt hơn, hoặc chí ít cũng không thua kém những người đi trước…Điều tôi muốn nói thêm ở đây là: khi nhận định về Thơ Mới, tình trạng khá phổ biến là người nghiên cứu đã làm một “thao tác” sai lầm là “cân đong đo đếm” xem Thơ Mới có bao nhiêu “Công”, bao nhiêu “Tội”?! Và, tùy theo sự “nóng, lạnh” của “Thời tiết” mà lúc thì “Công ít Tội nhiều”, lúc thì “Công nhiều, Tội ít”!? Đó không phải là sự nghiên cứu khoa học đích thực. Chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những bài viết sau và ở đây chỉ muốn lưu ý bạn đọc đến một người với những bài nghiên cứu có tính khoa học cao mà chan chứa chất nghệ sỹ đó là giáo sư Đỗ Đức Hiểu với cuốn “Đổi mới phê bình văn học” (Nxb Khoa học xã hội liên kết với Nxb Mũi Cà Mau in năm l993, đã tái bản), trong đó có những bài viết thật xuất sắc về Phong trào Thơ Mới và một số tác giả của Thơ Mới, đặc biệt là Hoài Thanh với Thi nhân Việt Nam, giáo sư Đỗ Đức Hiểu đã khắc họa chính xác chân dung của Hoài Thanh qua bài viết “Thơ Mới và Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh” – giáo sư đã khẳng định Hoài Thanh là “Ca sĩ của Thơ Mới” với Thi nhân Việt Nam – một “siêu văn bản” của Thơ Mới…


________________________________

Sài Gòn, Tháng 6-2009

© tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 16.06.2009.
. Tải đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com