NICCOLO PAGANINI

(1782-1840)










    (Kiến Thức Văn Học)

    (Trích TÀI HOA MỆNH BẠC III )




III

            (1805-1809)

            Tháng 5/1805, tại Milan, Napoléon tự phong mình là vua nước Ý; thời gian ngắn sau đó lại ban cho những phần tử trong gia đình thống lĩnh những vùng đất quan trọng của Ý. Với công chúa Elise và người chồng, Felix Baciocchi, hai tỉnh Piombino và Lucca được dành cho họ.

            Cũng giống như người anh nổi tiếng, vị Công chúa Elise 28 tuổi này đã cho điều chỉnh lại hầu hết những lề lối thưởng thức nghệ thuật sao cho hợp với tính cách kiêu kỳ của bà. Vì vậy, người ta không ngạc nhiên khi thấy Paganini thay vì tiếp tục một nghề nghiệp hứa hẹn trong vai trò một nhạc sĩ biểu diễn tự do, lại chỉ quanh quẩn trong cái tỉnh mà ông đã kết hợp được chung quanh mình nhiều bạn hữu và các cuộc vui, để rồi cuối cùng trở nên nhạc sĩ giàn nhạc cung đình, dưới quyền điều khiển của công chúa Elise.

            Thời gian này, ông là một chàng trẻ tuổi vô tư lự chỉ biết có âm nhạc, rượu, và đàn bà (thêm bệnh giang mai!). de Courcy, nhà viết tiểu sử Paganini nhấn mạnh rằng: “Paganini quả nhiên rất ưa thích đàn bà nhưng gần như chưa bao giờ là người tình chung thủy.”

            Một lần, Paganini hứa với một nữ quý tộc, trong buổi trình diễn kế tiếp sẽ đem cho bà nỗi ngạc nhiên, “một thứ trang sức bằng âm nhạc là điều chứng nhận cho sự liên hệ của chúng ta.” Quả thế, lời hứa được thực hiện: Một bản nhạc được chơi chỉ trên hai sợi giây cao nhất (Mi) và thấp nhất (Sol) trong bốn sợi của đàn vĩ cầm, miêu tả cuộc đối thoại giữa hai kẻ yêu nhau. Mười chuyển đoạn rất phù hợp với tình cảm trai gái, (ví dụ: Ve Vãn, Đòi Hỏi, Tán Thành, E Thẹn, Hài Lòng, Giảng Hòa, Cãi Cọ..v.v.) Bản nhạc đem lại kết quả tốt đẹp: Paganini chinh phục không những trái tim vị nữ quý tộc kia mà còn được cả triều đình ngợi ca nồng nhiệt.

            Đến phiên công chúa Elise, có lẽ bởi tính ưa đòi hỏi, hay cũng bởi kiêu hãnh muốn hạ danh tiếng Paganini khi nghĩ rằng ông dành sự đặc biệt cho một phụ nữ khác, nên hỏi ông:

            “Anh đã phô diễn rất hay một bản nhạc trên hai giây, vậy có thể nào anh cho chúng tôi nghe thêm bản nữa trên chỉ một giây độc nhất?”

            Ý tưởng này lôi cuốn Paganini; ngay lập tức ông bắt tay vào một sáng tác chỉ chơi trên một sợi giây Sol duy nhất, đặt tên là “Bản Sonate Của Napoléon” và trình diễn nó trong buổi lễ mừng sinh nhật hoàng đế, tổ chức vài tuần sau đó.

            Hẳn nhiên, Paganini càng được ca ngợi. (“Đây là sự khởi đầu cho nỗi ưa thích của tôi về sợi giây Sol,” Paganini kể lại. “Về sau, người ta cứ muốn nghe nhiều hơn các tác phẩm loại này. Vì thế, tôi phát triển khả năng từng ngày cho đến cuối cùng trở nên điêu luyện kiểu thức biểu diễn ấy.”)

*

* *

            Năm 1803, nhân một buổi trình diễn của Paganini tại Leghorn, một tay buôn đàn người Pháp (ông Livron) đã cho Paganini mượn cây violon do Giuseppe Antonio Guarnerius (1698-1744), một nhà làm đàn nổi danh ở Crémone, chế tạo. Sau buổi trình diễn, cảm phục tài năng nhạc sĩ, ông này bèn tặng luôn cây đàn cho Paganini. Từ đó nó được đặt tên là Cây Súng Đại Bác và cũng là vật bất ly thân với Paganini cho đến hết đời.

            Lại một lần khác, ở Parma, một nhà quý tộc tên Pasini hứa sẽ tặng cho Paganini một cây vĩ cầm đáng giá (cùng tên Guarneri) nếu Paganini có thể đàn ngay một bản nhạc khó mà không cần nhìn qua trước. Và Paganini đã thắng cuộc.

            Paganini bắt đầu sưu tầm những cây violon và có được một bộ nhiều nhạc khí quý giá, chế tạo bởi gia đình Stradivarius(5) và gia đình Guarnerius(6). Ngay từ những năm đầu thập niên 1800, những món này đã thật rất cao giá. Trong “My Music Life”, H. R. Haweis đưa ra cho thấy vài điều chú giải thú vị về giá tiền cây violon thời ấy. Ông kể rằng, có lần một hoàng thân mua lại của Paganini một trong những cây violon Stradivarius với giá 80 quan Ý, “một tổng số lớn vào thế kỷ 19. Thời gian trôi, giá cả thay đổi, vài năm sau (1888), không ai dám nghĩ rằng với giá 300 quan lại có thể tậu được một nhạc khí hạng nhất trong tay”.

            Tiền bạc không phải lập tức mà đến với Paganini. Trong vai trò nhạc sĩ giàn đại hòa tấu Lucca, ông khởi sự được 12 lires (khoảng $15.00 USD) một tháng, sau đó dần dần tăng lên đến 28 lires. Một mặt, các cuộc độc tấu đã tạo thêm lợi ích cho ông. Dẫu vậy, sự giàu có vẫn chưa thực sự xuất hiện với chàng tuổi trẻ.

            Năm 1820, ông giao cho G. Ricordi ở Milan xuất bản bộ 24 Caprices cùng với Opus 2, 3, 4 và 5, những sáng tác duy nhất được in ra trong thời Paganini còn tại thế.

            So sánh với Opus I (gồm 24 Caprices Soạn Cho Đàn Vĩ Cầm Độc Tấu), những Opus 2 và 3 kém quan trọng hơn. Đó là hai bộ, mỗi bộ gồm 6 Sonates viết cho đàn vĩ cầm và tây ban cầm; bộ thứ hai đề tặng Eleonora Quilici, con gái út một nhà thợ may giao thiệp thân mật với Paganini(7).

            Opus 4 và 5 là hai bộ gồm ba tứ tấu khúc (quartet) soạn cho đàn vĩ cầm, viola, violoncelleguitare, phản ảnh sự lưu tâm cẩn thận của tác giả trong những năm tháng ở Lucca. Cả hai bộ này được đề tặng cho “những người ái mộ Niccolo Paganini”, -ám chỉ những người bạn khiêm tốn mà ông từng giao thiệp, như gia đình Quilici.

            Một điều đáng tiếc là các nhà viết tiểu sử đã không khêu được từ Paganini bất cứ tài liệu nào về những sáng tác nói trên, đặc biệt với Opus I để biết do từ cảm hứng nào mà ông đã viết ra và cơ hội nào, nếu như có, ông từng biểu diễn những bài bản ấy.

*

* *

            Trước năm 1810, tại Âu Châu, trong những buổi trình tấu, cách biểu diễn chỉ trên hai hay ba sợi giây đàn violon là những ngón nghề làm kinh ngạc và lôi cuốn đối với đám thính giả. Nhưng kể từ sau 1810, những điều ấy chỉ khiến Paganini bị đánh giá không phải nhạc sĩ, mà chính là một ảo thuật gia nhiều hơn. Ông mua vui cho thính giả bằng cách làm cho âm thanh cây vĩ cầm giống như tiếng một con lừa, con gà trống, con chó; và người ta yêu thích như thế. Suốt cả đời, Paganini chỉ trình diễn trước công chúng các bản nhạc tạp nhạp do chính ông soạn mà không bao giờ tấu những concerto thật sự vĩ đại của các nhà soạn nhạc đi trước, ngay cả có thể cũng không từng đàn những Caprices của chính ông nữa. Tuy nhiên, không phải vì thế mà người ta có quyền phủ nhận giá trị của các bản Caprices, qua đó, hiệu lực lôi cuốn là tính âm nhạc chứ không chỉ mỗi sự khoa trương. Từ đầu đến cuối, những bản này có cái cấu trúc, nhịp điệu, âm tiết và kiểu thức mang giá trị thật sự, những điều rất quan trọng trong ngôn ngữ âm nhạc. Hầu hết các bản Caprices đều nói lên tài năng của người sáng tác ra chúng; họa hoằn mới có một, hai bản nặng phần kỹ thuật tay trái.

            Vì vậy, phải nói một cách khẳng định rằng bất cứ ai chỉ trích Paganini chỉ là một nhà soạn nhạc trên vùng trời biểu diễn không thôi thì rõ ràng người ấy cho thấy đã chẳng từng nghiên cứu 24 Caprices của ông.

            Nếu như Paganini không viết gì khác nữa ngoài các bản Caprices này, ông hẳn sẽ dành được một địa vị bên cạnh J.S. Bach, (một trong những nhà soạn nhạc vĩ đại trên những tiết mục biểu diễn vĩ cầm); và cũng sẽ tự cứu mình một cách ngẫu nhiên khỏi những chỉ trích sau khi đã qua đời.

            Bộ 24 Caprices chứa đựng loại âm nhạc rất được các nhạc sĩ vĩ cầm yêu thích, luôn cả thính giả, bởi nét đẹp khác biệt và chân chất của nó. Bằng chứng rằng Liszt, Schumann, Rachmaninov và Brahms là những người, giữa nhiều nhà soạn nhạc nổi tiếng, đã phỏng theo bộ 24 Caprices này để thực hiện nhiều tác phẩm quan trọng của họ.

            Trên thực tế, bộ này rất ít được biểu diễn công chúng vì tính kỹ thuật rất cao, khó đạt được nhuần nhuyễn. Nhưng bất cứ ai đã từng nghe hay nghiên cứu đến đều không thể chối nhận giá trị hoàn hảo của chúng. Dẫu cho vài trong những tác phẩm về sau không được thành công lắm, Paganini vẫn phải nên được đánh giá như một soạn nhạc gia chính hiệu. Câu ghi chú “Agli Artisti” (Tặng cho giới nghệ sĩ) trên bộ Caprices ngụ ý rằng chính Paganini cũng đã ước ao như thế.

            Danh vọng đang lên, cơ hội đang nắm trong tay, nên Paganini không cần phải vội vàng gì cả. Người Ý yêu quý ông và ông kiếm tiền được ngay chính trong quê hương mình. Nếu so sánh với những phần đất khác của Ý vẫn còn trong vòng rối loạn chính trị, thì cuộc sống vui thú an bình của Paganini ở Lucca có thể được gọi là đáng thỏa mãn cho một thanh niên ở vào lứa tuổi ba mươi như ông. Ông có thể củng cố tên tuổi tại Lucca hay Florence trong vị thế một giáo sư tài giỏi, đồng thời là một vĩ cầm thủ lẫy lừng theo đúng truyền thống của các tiền nhân Ý (chẳng hạn Nardini); nhưng Paganini lại là con người mang trong tâm hồn rất nhiều hoài bão, hơn nữa vẫn ưa thích tự do bay nhảy hơn.



IV.

            (1809-/1813)

            Năm 1809 mở ra một bước ngoặc quan trọng trong đời Paganini khi ông quyết định bỏ rơi chức vụ nhạc sĩ cung đình để tự biến thành một vĩ cầm thủ chuyên độc tấu các nhạc phẩm ông từng sáng tác(8).

            Vào giữa thế kỷ 18, tại Leipzig, nước Đức, một loạt các buổi trình diễn lưu động được tổ chức bởi một nhóm tài tử trong hằng nhiều năm trước khi một nhà hát thường trực được các nhà quý tộc thành lập cho họ. Từ đó, một giàn nhạc đã được tạo dựng và trở thành danh tiếng dưới sự điều khiển của Mendelssohn trong thế kỷ 19, lưu lại cho tới ngày nay.

            Trong những tỉnh khác nhỏ hơn của nước Đức, những cuộc biểu diễn lan rộng với những nghệ sĩ tài tử, mọi chi phí được hỗ trợ từ các cuộc bán vé công cộng. Nhưng đó chỉ là một sự phiêu lưu may rủi, bởi ngay cả một nghệ sĩ danh tiếng được trọng vọng mà đặt vào một cuộc trình diễn dưới những điều kiện bấp bênh về số lượng khán giả và số tiền thu vào như thế thì hiệu quả thành công hay thất bại vẫn là điều không ai có thể dự đoán trước. Ngay cả Mozart với tên tuổi đã được củng cố từ các bản đại nhạc kịch (opéra), khi làm vài cuộc trình diễn các nhạc phẩm viết cho nhạc khí của mình, cũng không đạt được thành công. Riêng Beethoven ở Vienne, nước Áo, đã phải nhờ vào sự bảo trợ của các người bạn giàu có mới có thể làm được các cuộc biểu diễn công chúng cho mình.

            Năm 1813, tại Luân Đôn, giàn nhạc giao hưởng Philharmonic Society được thành lập bởi một nhóm tài tử có năng khiếu. Một trong 30 thành viên nguyên thủy là Charles Neate, người tự nhận là học trò người Anh duy nhất của Beethoven. Mục đích của nhóm nghệ sĩ này là giúp “làm đầy lỗ trống trong các cuộc trình diễn nhạc khí cá nhân”, điều mà “hầu như chẳng ai nghĩ tới” trong thời đó. (9)

            Tại Pháp và Ý, giàn nhạc trình tấu công chúng cũng mang một lịch sử như ở Đức, nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ 19 mới có một lớp khán giả thường trực được xây dựng trong vài tỉnh lớn.

            Như vậy cho thấy rằng khi Niccolo Paganini quyết định lao vào một cuộc biểu diễn tự do ngoài công chúng thì điều ấy vẫn còn trong thời kỳ phôi thai và chẳng có gì bảo đảm cho sự thành công của một nghệ sĩ nổi tiếng. Tách ra ngoài những khó khăn để có được một thính phòng và giàn nhạc phụ đệm tương đối, vẫn còn có những vấn đề khác nữa, ví dụ như sự xa lạ giữa khán giả với một tên tuổi mới chưa được chứng thật qua tác phẩm.

            Tại Ý, tên tuổi ông được biết đến nhiều nhờ đại hí viện, nơi tạo dựng cơ may cho một nghệ sĩ mới. Càng trình diễn bao nhiêu thì càng được công chúng tán thưởng bấy nhiêu. Paganini bị lôi cuốn bởi không khí kịch trường từ hai lý do rõ rệt: thứ nhất, nó lấp đầy cho ông sự cần thiết tách rời khỏi thế giới của những thực tế khắc nghiệt; thứ hai, các nữ diễn viên trong các tỉnh ở Ý đều đẹp và xem nhẹ đạo đức. Do đó, với một khí chất sôi nổi bất thường như của ông, sự kích thích trong những buổi trình diễn, tiếng hoan hô, những chuyến du hành liên tục là những điều cần phải có. Nhưng muốn đạt được thành công cho loại âm nhạc ngông cuồng của mình, Paganini cần phải trang bị cho riêng mình một lối trình diễn mới mẻ và một bề ngoài kỳ quái.

            Bức chân dung được vẽ bởi Ingres (họa sĩ Pháp, 1780-1867) vào năm 1819 trình bày Paganini như một nhân dáng tương đối hòa nhã, một cái cười mỉm hài lòng, nét mặt không có vết nhăn, đôi mắt trũng sâu đầy vẻ tự tin, cây vĩ cầm được kẹp thoải mái dưới cánh tay phải và cây cung được cầm một cách trang nhã dưới những ngón tay dài; mái tóc quăn tự nhiên bao quanh vầng trán rộng khi ấy vẫn còn để ngắn. Tóm lại, toàn thể bức tranh diễn tả một cá nhân đáng kính và khá oai nghiêm, gây được ấn tượng mạnh cho kẻ khác.

            Tuy nhiên, đó có phải đúng thật là Paganini thời điểm ấy? Tác phẩm của Ingres cho thấy đã thiếu đi một nét đặc biệt: “tính cách khôi hài” trên dáng dấp Paganini.

            Boucher de Perthes, (người về sau trở nên nổi tiếng trong vai trò một nhà khảo cổ) từ Leghorn viết cho cha năm 1810 như sau: “Con từng kể cha nghe về con người con đã có dịp giao thiệp trên lãnh vực âm nhạc tại giàn hòa tấu của Hoàng thân Baciocchi. Ông là người xứ Genoa, tên Paganini, tự học âm nhạc lấy. Ông cũng vừa làm vài buổi trình tấu rất thành công ở đây. Cách chơi đàn của ông thật là đặc biệt. Nhưng ông đã tự làm hỏng mình bằng những trò hề vô giá trị so với nghệ thuật và tài năng tuyệt vời của ông. Con đã nghe ông ta thêm vào trong một bản Concerto của Viotti một đoạn cadenza, bắt chước tiếng lừa kêu, tiếng chó sủa, tiếng gà gáy, tiếng chim hót...”

            Xem ra những điều như thế nói lên quyết định của Paganini là muốn tự trình bày mình trong vai trò một anh hề. Với lớp khán giả Ý trong các tỉnh nhỏ ở miền Bắc, điều này rõ ràng được chấp nhận. De Perthes viết trong cùng lá thư nói trên: “Người Ý hoan hô Paganini như điên dại và khi ông rời nhà hát, có cả đến ba trăm người theo chân ông về khách sạn.”

            Dẫu vậy, song song với tính cách hài hước nổi bật trên bề mặt là một diện khác u tối hơn đã thấy xuất hiện trên Paganini trong thời kỳ trình diễn công chúng này, về sau tạo thành một ấn tượng rất mạnh trên lớp khán giả Âu châu, đem cho ông cái tiếng là “một con người bí mật”. Bức vẽ của George Patten năm 1833, khi Paganini 50 tuổi, trình bày một hình ảnh hoàn toàn khác với bức của Ingres . Trong bức sau, đôi mắt nhà nhạc sĩ mang đầy vẻ u trầm nhạo báng; mái tóc màu đen được để dài, hai mép tóc mai rủ xuống trên đôi má hóp; cái mũi khoằm; những ngón dài xương xẩu của bàn tay phải thì nhọn hoắt giống như những cái móc câu.

            Trong quyển “Man of Mystery” (London, 1977), Colin Wilson đã viết: “Đầu óc con người có khả năng điều khiển vài thể thức của một loại tiềm năng nào đó không thể biết. Có nhiều chứng cớ biểu tỏ rằng trong những buổi trình diễn, Paganini đã tạo nên được trên lớp khán giả cái ấn tượng ông là một con người đã thấm nhuần một loại quyền lực đặc biệt, điều mà vài nhà quan sát gọi là nhân điện, và chính ông cũng diễn tả điều đó trong một lá thư như sau: ‘Thứ điện lực tôi trải qua trong sự trình diễn tạo nên loại âm nhạc thần kỳ của tôi nhưng cũng là điều làm tổn hại tôi không ít. Nghị lực tôi gần như bị rút cạn đi, mồ hôi thường xuyên toát ra dầm dề, toàn thân run rẩy.’ Trước mỗi buổi trình diễn, ông thường có thói quen ngơi nghỉ trên giường, không ăn uống trong trọn một ngày.”

            Với quyển “Biographical Notice of Niccolo Paganini”  (London, 2nd éditions), F.J. Fétis cũng viết: “Phần lớn thời giờ trong ngày, ông nằm lại trên giường, chỉ rời phòng vào buổi tối để đi dạo chừng một giờ. Căn phòng ông thường được để tối, không thắp đèn. Tại đó, ông ngồi hằng nhiều giờ trên ghế bành, đắm chìm trong nghĩ ngợi, toàn thân bất động. Khi phải rời phòng, trông ông rất tiếc nuối. Xem ra ông chỉ tìm thấy hạnh phúc trong sự hoàn toàn cô đơn.”

            Suốt ba năm (1810-1812), Paganini xuất hiện trong nhiều tỉnh nhỏ và vài tỉnh lớn hơn ở miền Bắc nước Ý --như Modena, Parma, Rimini, Ancona, Ferrara. Nhưng cho mãi đến mùa Xuân năm 1813, Paganini mới tìm đến Milan. Tại đó, cuối cùng, con người và cái kỹ thuật đáng mê mẩn của ông mới thật sự đạt tới đỉnh cao tăm tiếng. Từ một con nhộng trong bóng tối, Paganini bắt đầu nổi lên như một nghệ sĩ quốc tế, người đã làm kinh ngạc toàn thể thế giới âm nhạc đầu thế kỷ 19.

 



... CÒN TIẾP...













© tác giả giữ bản quyền.
. đăng tải theo nguyên bản của tác giả ngày 15.06.2009.
. Mời qúy độc giả đọc những tác phẩm của Trần Thị Bông Giấy đăng tải trên tranthibonggiay.net