Vài Lời Thông
Cảm : Triệu Từ Truyền đã suy nghĩ
nhiều cho bài viết này, vừa làm sao dễ hiểu, ngắn gọn mà chuyển tải những ngọn
núi tư tưởng của thế kỷ 13, 14 và thế kỷ 20, 21.
Đây chỉ là một gợi mở,
rất mong các bạn quan tâm đến triết học trong và ngoài nước phát triển đấy đủ
hơn, đồng thời chỉ giáo cho những thiếu sót. Thiết nghĩ những nhà thơ càng nên
quan tâm vấn đề thú vị và rất thiết thực. Triệu Từ Truyền sẽ còn viết tiếp trực
cảm hòa nhập thể (*) này cho thế kỷ 21.
Triệu Từ Truyền
Con người thường suy nghĩ
trước rồi hành động sau, tuy nhiên suy nghĩ cũng có quán tính, nên nhiều
giai đoạn trong đời người và giai đoạn lịch sử chỉ hành động theo suy nghĩ của
ai trước đó, thế là yên tâm sống.
Con người với bản năng sống
bầy đàn, hành động theo số đông, thích tạo thành phong trào trong mọi lãnh vực,
mà số đông và phong trào cần sức mạnh nên suy nghĩ giống nhau là điều kiện tiên
quyết, vì vậy chỉ cần một người suy nghĩ cho mọi người sao y lại trong tư duy,
việc ấy lợi trong thời gian dài và có hại trong thời gian dài hơn sau
đó.
Người viết bài này, xét
trên góc độ dân tộc, trào lưu tư tưởng ngoại bang không thể hoàn toàn phù hợp
thỏa đáng với một quốc gia nào đó. Việt Nam, có hai nhân vật tư duy độc lập
thoát khỏi trào lưu tư tưởng ngoại bang. Trần Nhân Tông ở thế kỷ 13 và Trần Đức
Thảo ở thế kỷ 20.
Trần Nhân Tông làm
thơ:
Bán song đăng ảnh mãn sàng thư
Lộ trích thu đình, dạ khí hư
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng, nguyệt lai sơ. (Nguyệt)
Tạm diễn nghĩa: Đầy giường
sách qua ánh đèn trong khung cửa sổ/ Mùa thu sương móc rơi trên sân đình đêm hư
không/ Thức giấc tiếng chày (đập vãi) không còn nghe/ Ánh sáng trăng vừa rọi
trên hoa mộc tê. (Trăng) (1)
Những năm cuối đời Trần Đức
Thảo viết:
« ...
khi tự vấn mình, ý thức đòi
hỏi Thiện
trong hành động, Chân trong
tri thức, và
Mỹ trong sự hoàn thành
các quá trình nghiệm sinh, qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành
nhân
giới, xứng đáng với con
người. » (la conscience dans son appel à soi même pose l'exigence du
bien dans l'action, du vrai dans la connaissance, et du
beau dans l'achèvement des processus vécus. Par là, la conscience fait du
monde naturel un monde humain, valable pour l'homme. Un itinéraire.
Một hành trình. Tác giả xuất bản, Paris 1992.)
Một bài thơ chữ Nho và đoạn
văn tiếng Pháp nêu trên, chúng cách nhau đến 7 thế kỷ, đọc qua tưởng chừng như
chẳng dính dáng gì nhau. Đọc kỹ lại nhận biết hai cách diễn đạt khác nhau, một
bên là thi pháp phương đông, bên kia là lập luận triết học, thơ thiền thì cảm
nhận, tiểu luận thì nhận thức. Đọc kỹ hơn, chúng cùng một thông điệp trong dòng
chảy văn hiến, giống như hai bờ của một dòng sông, bờ này là vách đá, bờ kia là
đất phù sa của cánh đồng. Cụ thể hơn, bài thơ của Trần Nhân Tông nêu lên thái độ
nhân sinh bằng truyền cảm qua bút pháp tượng trưng của thơ thiền, tiểu luận của
Trần Đức Thảo cũng xác lập thái độ hiện sinh bằng phân tích rạch ròi theo triết
luận phương Tây. Rõ ra thái độ trước thân phận làm người chính là dòng nước chảy
giữa hai bờ ấy.
Nhiều nhà nghiên cứu thơ
thiền đều có chung cảm nhận bài Trăng: Trong đêm khuya tĩnh lặng giữa không gian
hư vô, thức giấc nhìn thấy hoa nhờ trăng sáng , người trí thức (giường đầy sách
qua ánh đèn) ngừng đọc, và người lao động chân tay (tiếng chày đập vãi không còn
nghe) đã nghỉ việc, làm bật lên hình tượng ánh trăng soi sáng hoa mộc tê, cũng
là làm bật lên chủ đề hòa nhập tâm hồn người vào tịch lặng của tự nhiên bao la,
nói cách khác bản thể vũ trụ đã cuốn hút bản ngã trở về.
Phải chăng chủ đề trên là
nội dung của câu nói đầy khát vọng : “… qua đó tạo ra ý thức về biến thế giới tự
nhiên trở thành thế giới con người…” của Trần Đức Thảo?
Vì hai chỗ đứng đối diện
nhau, nên cách nói về hòa nhập khác nhau, thiền sư Trần Nhân Tôn, trực cảm và
tổng quan, (Mộc tê hoa thượng, nguyệt lai sơ – ánh trăng sáng là biểu tượng của
vũ trụ), đứng ở phía bản thể vũ trụ (dòng năng lượng tâm linh) thu hút bản ngã
(năng lượng vật chất và tinh thần cá nhân) để giúp con người thanh thản và sáng
suốt. Nghĩa là con người giao cảm với vũ trụ để có được sức mạnh và tự do của vũ
trụ.
Trong lúc triết gia
Trần Đức Thảo theo tập quán triết học phương Tây, luận lý và phân tích, cho rằng
nhờ ý thức (la conscience fait du monde naturel un monde humain),
mới thu hút tự nhiên, trong đó có cả bản năng động vật - con người, phát triển
thành thế giới văn minh đích thực, giúp con người tự do và sáng suốt.
Tuy nhiên vấn đề không nằm
ở chỗ khác nhau bề ngoài của cái vỏ của diễn đạt tư tưởng, mà chính là nhìn thấy
được cốt lõi tư duy của thiền sư và triết gia, cần hòa nhập lẫn nhau mới thật sư
có tự do, thanh thản và sáng suốt.
Ở đây, không nêu vấn
đề tranh cãi đúng sai của chỗ đứng, lại càng không bàn về duy
tâm hay duy vật, mà tập trung nhìn nhận thái độ hòa nhập giữa chủ thể và
khách thể của thiền sư và triết gia, cả hai chung một dân tộc và lịch sử tổ
quốc Việt Nam.
Vui lòng nghiền ngẫm một
bài thơ khác của Trần Nhân Tông:
Đăng Bảo Đài Sơn
Địa tịch đài dũ
cổ
Thì lai xuân vị
thâm
Vân sơn tương viễn
cận
Hoa kính bán tình
âm
Vạn sự thủy lưu
thủy
Bách niên tâm ngữ
tâm
……..
Tạm dịch:
Đất hoang vắng đài cổ
kính
Tới đây mùa xuân chưa
qua
Mây núi xa gần gần quấn
quít
Đường sáng chập chờn
trổ hoa
Sự đời nước cuốn xa
tít
Trăm năm dặn lòng
ta.
Bài thơ toát lên thần khí
của triết lý sống: con người tự do: phá chấp, vô ngã. Thời đại Lý Trần, nhà thơ
luôn xóa bỏ cách nhìn phân chia đối kháng: niết bàn và địa ngục; mê muội và giác
ngộ; người phàm và bậc thánh… Suy ra theo khái niệm phương Tây ngày nay thì
chẳng cần phân chia chủ thể và khách thể; tất nhiên và ngẫu nhiên; nội
dung và hình thức … Vì vậy phải có bản lĩnh tìm ra cách sống hòa điệu với vũ
trụ, tự tin ở chính mình để hành động tự do.
Thiền sư phá chấp ngay với
chính lý tưởng Phật pháp. Mặc dù Phật giáo thâm nhập vào Việt Nam từ thế kỷ thứ
hai, và có nhiều bằng chứng cho biết xứ Giao Châu (nơi phát nguyên dân tộc Viêt
Nam) theo đạo Phật trước cả Trung Quốc, (1) thế mà thái độ phá chấp đến mức có
thiền sư đã viết: mê chi cầu Phật/ hoặc chi cầu thiền (Diệu Nhân).
Tuệ Trung còn nói : “Phật
và Tổ cuối cùng chẳng cần lễ”, vì nếu cầu Phật, cầu Thiền chính là “chấp ngón
tay mà quên mặt trăng”. Cũng một tinh thần như vậy mười ba thế kỷ sau, Trần Đức
Thảo đã phê phán một lãnh tụ vì ông này chỉ biết rằng chân lý là do va chạm,
tranh biện giữa những ý kiến trái ngược nhau theo phép biện chứng Platon, thay
vì phải bắt nguồn từ biện chứng của Héraclite, theo hướng sự vật luôn luôn vận
động, tương tác, biến đổi và chuyển hóa (sự đời theo dòng nước trôi trong tự
nhiên). (2) Từ đó Lãnh tụ nọ diễn giải giáo điều và chủ quan duy ý chí cho nhiều
vấn đề thực tiễn, gây tác hại lớn vào những quốc gia theo chủ nghĩa Marx. Còn
nhiều lập luận của Trần Đức Thảo và thơ thiền của Trần Nhân Tông làm sáng tỏ sự
phá chấp, không giáo điều; còn vô ngã, hai ông viết ra sao?
Dưới đây là một bài thơ
thiền với thông điệp vô ngã tuyệt hay của Trần Nhân Tông:
|
Song song đôi
bướm trắng,
|
Trong khi Trần Nhân Tông,
cảm nhận mùa xuân vẫn cứ đến dù người có biết hay không? Cái tiểu ngã chẳng cần
phải tách khỏi cái mênh mông của thiên nhiên, không vì thế mà con người thiếu tự
tin, tự hào để làm việc phải làm. Và Trần Đức Thảo khi nhận định về chủ nghĩa
hiện sinh của Jean Paul Sartre đã viết: chủ nghĩa hiện sinh dẫn đến nghịch
lý là hiện hữu của tôi, mặc dù được xem như tồn tại hiện thực, vẫn tiếp tục đối
lập với thế giới và chối bỏ tự nhiên bao quanh mình, như thế không phải là chủ
nghĩa hiên sinh và lại càng không vô thần được.
Trong tác phẩm
Chủ Nghĩa Tồn Tại và Chủ Nghĩa Duy Vật Biện Chứng (Existentialisme et
Matérialisme Dialectique – 1949), Trần Đức Thảo viết: «bởi vì thế
giới hiện thực chỉ có thể là cái thế giới phơi mở trước mắt tôi, với tất cả
ý nghĩa có thể có đối với tôi, trong khi tôi trầm luân trong ấy», tiểu ngã
của mỗi người không thể tách rời hiện thực vũ trụ, nếu không muốn hư vô hóa, cho
nên Sartre luôn bị ám ảnh l’Être et le Néant (hữu thể và hư vô).
Người viết minh chứng điều
này không nhằm đề cao hay hạ thấp một trong hai triết gia, hai bộ óc xuất sắc
của thế kỷ 20. Ai cũng biết Trần Đức Thảo và Jean Paul Satre tương kính nhau,
Ông Thảo từng nói Sartre là triết gia biết đặt những câu hỏi đáng đặt ra nhất.
(3) Ở đây muốn nói Trần Đức Thảo cùng một tư duy vô ngã với thiền sư Trần Nhân
Tông, vì triết học hiện sinh thực chất là tô đậm bản ngã, tách rời với thực tại,
với bản thể vũ trụ.
Phải chăng thái độ văn hóa
của hai triết gia ấy cũng tương tự như ở thế kỷ 13; 14, những Nhà Nho dù bài bác
Phật, vẫn làm bạn với Thiền Sư (Trương Hán Siêu; Phạm Sư Mạnh…). Vì vậy, thời
đại này được cho là tam giáo đồng nguyên; đồng nguyên ở chỗ Phật luôn lưu ý
nguồn gốc, bản chất con người (hình nhi thượng), Nho để tâm vào trách nhiệm, mục
đích sống của con người (hình nhi hạ), Lão gần như một lực lượng thứ ba trong
triết học phương đông. Bài thơ sau đây của Trần Anh Tông với thông điệp dung hòa
giữa Phật và Lão: Dã bất tạo ác/ dã bất tu thiện/ thụy lai đã miên/ cơ lai khiết
phạn/ tòng tha nhiễu nhiễu/ nhậm nhĩ phân phân/ nguyên lai y cựu/ thái vũ chủ
nhân. (cũng không gieo ác/ chẳng thèm làm lành/ buồn ngủ vào giấc/ bụng đói liền
ăn/ kệ nó nhiễu xách/ hỗn độn mặc tình/ xưa nay nào khác/ là chủ vũ trụ). Suy
cho cùng trong thế giới vật chất, con người có rất nhiều vật dùng, tùy việc mà
sử dụng. Không thể lấy dao cắt cỏ ra phát ruộng, mà phải dùng máy cày. Tại sao
trong thế giới tinh thần, không biết khéo léo kết hợp những ưu thế của nhiều học
thuyết để tạo ra bản lĩnh phù hợp với thực tại? Điều này hoàn toàn khác với thỏa
hiệp hoặc chia ghế quyền lực, đó là kết tinh của nhiều tinh túy để có nguyên khí
quốc gia.
Trần Đức Thảo đã thực hiện
khát vọng trên từ giữa thế kỷ 20, lúc ông viết: Chủ nghĩa Marx và hiện tượng
học. Nhà triết học RoLant Barth mở đầu điểm sách viết: «Quyển sách của Trần
Đức Thảo là một thử nghiệm liên kết hai phương pháp cho đến nay vẫn bị xem là
thù địch bởi những người chủ trương của cả hai phía: hiện tượng học của Husserl
và chủ nghĩa duy vật biện chứng». (4) Điều tạo ra hòa nhập thể giữ hai phái thù
địch, truyền thống duy lý Platon chưa hề xảy ra ở trời Tây, chắc chắn triết gia
Thảo làm việc này bắt nguồn từ tiềm thức sâu thẳm của triết học phương
Đông.
Ý nghĩa của sự kết hợp đó
đã giúp cho một thời đại biết tự thấy những giới hạn của mình, mà nhà triết học
Rolant Barth đã đúc kết:
«Rất đặc sắc, sự
chứng minh của Trần Đức Thảo có giá trị lớn là đã đặt sự tiến hoá của tư tưởng
và huyền thoại vào trong sự tiến hoá của Lịch Sử chiều sâu, đó là lịch sử của sở
hữu, hay đúng hơn nữa, của ý tưởng sở hữu. Chắc hẳn đây không phải là một hệ
thống phương trình đã giải cạn những giai đoạn của Lịch Sử. Như đã được viết,
quyển sách của Trần Đức Thảo tiêu biểu cho tình trạng sau cùng - nhưng chưa phải
là tối hậu - của chủ nghĩa Marx tư duy ». (4)
Phải chăng tình thế Việt
Nam luôn yêu cầu người yêu nước chân chính phải biết hòa nhập trong tư duy, bao
dung trong xử sự và luôn phải động não độc lập thoát khỏi mọi ràng buộc tầm
thường như hư danh và hư vị, phần lớn do giáo điều và học thuyết ngoại bang mang
lại, làm chia rẽ và hủy hoại tinh hoa của dân tộc.
Trần Nhân Tông, một nhà vua
lãnh đạo chống ngoại xâm lừng lẫy, đại thắng chấn động hành tinh, xã hội thịnh
trị, cũng chính là thiền sư, tổ thứ nhất thiền phái Trúc Lâm, nói theo bây giờ
là triết gia, sáng lập học thuyết đặc trưng cho dân tộc.
Trần Đức Thảo, triết gia,
biện luận xuất sắc của chủ nghĩa Marx và Hiện tượng luận Hurserl, từ bỏ môi
trường thuận lợi, lao vào kháng chiến và chịu đựng những bất công sau đó; sáng
tạo ra con đường tư tưởng mới cho nhân loại, trước hết là vì Việt Nam (dù còn dở
dang, tin chắc rằng thế hệ sau sẽ phát triển tiếp);
Hai nhà tư tưởng vĩ đại đủ
xóa bỏ mặc cảm Việt Nam không có triết gia, và đặc trưng của triết gia Việt Nam
là không duy lý giáo điều, không cực đoan, tạo ra một hòa nhập thể có tính toàn
cầu, phù hợp với những thành tựu của cấu trúc vĩ mô không - thời gian và hấp dẫn
lượng tử, mà những nhà vật lý vũ trụ hậu bán thế kỷ 20 đã chứng minh bằng toán
học.
Đã đến lúc, mỗi người Việt
Nam không nên suy nghĩ theo quán tính, hoặc giao phó tư duy cho người khác, đặc
biệt là những người giữ trọng trách. Nghiên cứu Trần Nhân Tông và Trần Đức Thảo
toàn diện và sâu sắc sẽ giúp hóa giải bế tắc triết học của nhân loại hiện
nay.