MƯỜI HAI
NHÀ THƠ MIỀN NAM
NHỮNG NĂM SÁU MƯƠI


    * cao mỵ nhân * diễm châu * đào minh lượng *
    * hà phương * hà yên chi * kiều thệ thủy * nhị thu *
    * như lan * tuyết linh * thanh nhung * trần dạ từ * viên linh *



DẪN NHẬP

Giới thiệu 12 nhà thơ mới nhất hôm nay của Miền Nam trong khoảng thời gian 1955 đến 1960, tôi không làm công việc phê bình mà chỉ ghi lại cảm tưởng riêng khi nhìn họ qua thơ trong giai đoạn bắt đầu - dù nhiều tác giả đã xuất bản thơ, như Hà Phương, Hà Yên Chi, Diễm Châu … và có tác phẩm đăng nhiều trên tạp chí, sách báo, đích thực đã là nhà thơ nổi tiếng với giới thi ca vào giai đoạn này.
Trước khi tập hợp một số bài báo thành cuốn MƯỜI HAI NHÀ THƠ MỚI NHẤT HÔM NAY (in ronéotypé trong Loại Sách Đại Nam Văn Hiến, Saigon 1961), những bài viết nói về các tác giả Cao Mỵ Nhân, Diễm Châu, Đào Minh Lượng, Hà Phương được đăng tải trên tuần báo Tân Dân, chủ nhiệm Mai Lâm Nguyễn Đắc Lộc, vào những năm 60-61, ký Đường Bá Bổn.
1961

__________________________________________________

(*) Sách in lần này mang nhan đề : MƯỜI HAI NHÀ THƠ MIỀN NAM NHỮNG NĂM SÁU MƯƠI ký Thế Phong.









3- ĐÀO MINH LƯỢNG

(1936 - )



Claude Blesnay (§) viết về cuộc đời nhà văn lớn Pouckhine, thi sĩ tài ba số một nước Nga, cho rằng: Chàng là kỵ mã của Công lý. Ngoài đời hôm nay, Đào Minh Lượng là chàng kỵ mã của công lý mà còn là thi sĩ từ trước đó. Tên thật dùng làm bút-danh-thơ, sinh năm 1936 ở miền Bắc. Tác giả những bài thơ thuở còn đi học Trường Quốc Học Huế, là bạn học cùng trường với nhà thơ Huy Trâm. Năm 1954, có thơ đăng trên tuần báo Đời Mới (Saigon), qua bút danh Minh Lượng. Năm 1960, làm thẩm phán và cũng là năm anh cho xuất bản tập thơ VÔ CÙNG do Sùng Chính Viện (Uyên Thao chủ trương), in ronéo, tập thơ gồm 118 bài, ba đề mục : Vô cùng, Trong thành phố và Bài thơ yên nghỉ.

Một vài nét mới lạ về tập thơ này, Uyên Thao nhận định về sinh hoạt thơ văn trong năm 1960 (§§). Hơn một trăm bài thơ, chỉ có một bài lục bát, đó là bài Bài thơ yên nghỉ. Những bài còn lại đều viết theo thể thơ tự do.

Viết Tân (một bút danh khác của Hồ Nam) đã phê bình tập thơ ấy (§§§) ngoài sự biểu dương khen tặng còn nêu ý kiến chung cho tập thơ: đại để cho rằng thơ Đào Minh Lượng nói riêng, và thơ tự do nói chung, làm cho độc giả mệt vô cùng!

Ở đây cũng cần nói rõ hơn, thơ tự do mang tính chất như Viết Tân nhận định không lấy gì làm lạ. Bởi, cuộc sống hôm nay cần phải có một lối diễn tả mới cho đời sống mới ấy. Ăn theo thuở, mặc theo thì! Nhất là cuộc sống hiện tại chứa chấp nhiều băn khoăn, nói như Doudintsev, thời đại này không phải chỉ sống bằng bánh mì - một vế trên của câu này được trích ra từ một câu trong Thánh Kinh, người ta còn sống theo lời Chúa, mà nhà văn Nga trên không nói ra. Đi ngược lại, thời bình trước chiến tranh, xa hơn nữa, thế kỷ trước, cuộc sống bình thản hơn nhiều. Có lẽ vì thế, phong trào thi ca lãng mạn nước ta bành trướng đầy vần thơ du dương, âu yếm nhiều hơn hết. Định nghĩa về lối thơ mới ở trước chiến tranh cũng còn là trả lời cho số người làm thơ hủ lậu đề cao thơ là phải có vần điệu, thơ phải làm cho người ta thuộc, nhớ - nhớ và thuộc đó cũng chưa gây được một biến động nào xoay chuyển tâm hồn? Với tôi, khi viết vào đề (một cách nói thay viết tựa) cho ba nhà thơ hôm nay (§) có định ý như sau: một câu thơ hay, một bài thơ hay, đã có một tác động lớn lao chuyển được biến động lớn.

Trong thế giới thơ Đào Minh Lượng, tôi tìm thấy nhiều lẽ siêu hình mà trong thơ của các người thơ khác không có. Nó mở ra trước mắt tôi nhiều hình tượng mới chưa bao giờ khám phá trong mỗi bài thơ được đọc, chịu nỗi mệt nhọc, nỗi băn khoăn thắc mắc không thôi kia - một chân trời mới nấp sau hàng chữ thơ. Phần đầu trong 29 bài Vô Cùng, lối nhìn đời, tác giả chịu ảnh hưởng trực tiếp J. Prévert, P. Eluard.

Ai từng đọc Paroles, hẳn không quên Barbara, hoặc một bài khác, trong đó có câu: Anh ra chợ nô lệ tìm mua / nhưng không có gì mua tặng em, kết quả sau bao nhiêu lần người đàn ông tìm mua quà tặng người yêu. Thật hàm xúc, bao gồm ý nghĩa yêu đương được xếp đặt tuyệt đích của độ yêu tuyệt đối. Và, ai từng quen thuộc với thế giới thơ P. Eluard, chẳng lạ gì với Poème ininterrompue (lối thơ kéo dài từ đoạn này qua đoạn khác, tuy là phân chia đoạn, nhưng bao giờ cũng liên tục ý tưởng với nhau). Ở Vô Cùng có điều quen thuộc đó. Còn nữa, ai từng không lạ lẫm với thơ tuyên ngôn, nào có xa lạ gì khi đọc đoạn thơ này:

- Nếu
các anh lựa chiến trường lên anh hùng chiến sĩ
Có nhiều người tô tên anh chữ hoa
Các anh nêu lý tưởng miệt mài chạy đuổi
Và các anh an ủi
Kiếp làm người mang nhãn hiệu tự do
Chưa bao giờ hở môi thú thật
Thì tôi
Nhân danh đứa con khốn khổ tối tăm
Tôi chọn tình yêu làm lá làm hoa
Như âm nhạc chảy xuống chiều khắc khoải.

(Vô Cùng, khúc 1)

Tôi càng chiêm nghiệm và thấy đúng hơn nữa, trong thơ Đào Minh Lượng thuộc lớp người chỉ sống bằng con mắt gia nhập cuộc đời, thiếu hẳn kinh nghiệm xương máu. Cho nên, truờng thơ hôm nay của anh chỉ bàng bạc nói về hình tượng sống mà tràn ngập tình cảm yêu đương - cái vốn hiện tại anh có. Ngôn từ sau này đè trĩu hầu hết nội dung tập thơ, tình yêu lại diễn biến tới trăm nghìn lần, qua trăm vạn cảnh tượng khác nhau. Vì thế, đôi lúc làm cho người đọc kỹ tính, thấy tác giả nhai lại cảm giác, rung cảm, diễn đạt bề bộn khắp nơi.
Loại trí thức thanh niên dưới 30 này không tham gia Ngày Lớn như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Đào Minh Lượng … một khi nhìn thấy ảo tưởng đời phi lý - thì những người thơ ấy bao giờ cũng dễ xét nét bi quan, chưa đánh đã bỏ cuộc - khi mổ xẻ một vấn đề và tìm lối thoát:

Tôi không biết mình có hay không
Để kêu lên tiếc hoài
Đánh mất
Trống rỗng vòng tay
Bóng tối nặng nề xõa tóc chàng
khắc khoải
Giữa thời gian phiến loạn
Quá khứ chuyện thần tiên
Bi kịch mở màn vào giờ thức dậy
Tôi sẽ không chọn một
Hai đường đều buồn tối

(Vô Cùng, 5)

Thơ có giọng khắc khoải, đôi khi rất tối tăm, tất lý kể cả người làm thơ đọc thơ không thể hiểu tại sao mình lại có độ cảm hứng như vậy? Theo các nhà phê bình văn học Âu châu, lối đó gọi là obscurantisme(§), thực mà nói ở Đào Minh Lượng ít hơn Thanh Tâm Tuyền. Nên cả người thơ tác giả Vô Cùng muốn đem sức mạnh của mình ra chiến đấu, tòng quân, khởi và kết cuộc cũng chỉ có thể đi tới mức này là cùng (tôi trích dưới đây). Vì thế, lớp thi nhân trí thức tôi vừa nói ở trên, nặng về siêu hình tối tăm nhiều hơn - nếu khi phải ló dạng hình tượng nào thuộc về loại gia nhập đời sống bằng thơ vẫn là hình tượng nghiên cứu thơ:

Tôi muốn tòng quân cho Tưởng Giới Thạch
Đoàn quân xung phong ………………
Để nói rằng đời người đầy ý nghĩa
Và mỗi lần tôi xả súng bắn miên man
Tiếng quý kim rung cười gờn gợn
Nghĩa là tôi đi đánh nhau thuê
Những ngày nghỉ hành quân về phép
Tôi đi vào ngõ tối hắt hiu
ôm giấc mơ riêng tư
Ngủ giữa lòng người gái lạ.
Áo rách lên đùi
Thương người lính trẻ

(Vô Cùng, 7)

Đến khi đem hình ảnh xã hội vào thơ tranh đấu, Đào Minh Lượng không sao làm hơn được cách thương mà nói đến,thương mà ghi lại, tất chỉ vì thương mà tranh đấu. Nó không sao lấp được sự lộng giả thành chơn:

Hôm nay trời mưa trẻ nhỏ nhà nghèo
Hứng mái trước hiên
Cánh tay khẳng khiu múa may tiếng cười
Vô tư
Thách đố
Hôm nay trời mưa và còn mưa nhiều như hôm nay

( Vô Cùng, 8)

Qua con mắt bình thường, hình ảnh trên đây đẹp lắm! Cũng như Les Conquérants của André Malraux chỉ có một Lev Davydovitch mới dám phê bình thẳng vào mặt A.Malraux rằng:“Ông không phải là nhà cách mạng thực sự, tuy nhiên văn phong ông bay bướm, lịch duyệt”.
Những phiên khúc tình yêu (hầu hết trong tập Vô Cùng) mang một ý nghĩa lý thú, qua những câu thơ đẹp, từ lựa chọn âm thanh, tiết tấu (hay nói cho rõ hơn, nhạc điệu rất riêng biệt - xem Vô Cùng 15, 17, 19):

Yêu là chết đi không ngừng
Và yêu là được phục sinh
Vì chết đi trong tôi là sống lại trong em

( Vô Cùng, 17)

đó là một bằng chứng - bậc thầy của loại thơ tình kiểu: bàn tay trắng ngọc vuốt dài gãi lưng anh - tôi cho một thành ngữ chung như vậy để chỉ bản chất thơ đúng nhất về Nguyên Sa.Thơ tình Đào Minh Lượng đẹp như luồng gió mát trùng dương lùa vào khe cổ mồ hôi tóc xõa:

Khi chết đi tôi làm ngôi sao thủy tinh
Một ngôi sao xa xôi nhìn xuống trùng dương
Để thủy thủ đi đêm không biết
Một ngôi sao bé nhỏ vô cùng
Ôm giấc mơ riêng tư chập chờn mắt khép
Khi chết đi tôi làm cây thùy dương
Nằm gần sóng vỗ
Những đêm bão biển không người
Tôi ru người yêu ngủ.

(Vô Cùng, 25)

Và dầu có là Pouckhine, hơn một trăm nhân tình chính thức, còn có lần bị mal d’amour, huống hồ một nhà thơ nâng giấc tình yêu mà nhiều lần phải thốt:

Em không yêu tôi không còn yêu tôi
Một hai ba … trăm vạn lần nhắc thế
Không được một lần tê tái
Ghế đá sương đêm
Con tàu thành khói
Tượng văn nhân cô độc giấc ngủ say.

(Vô Cùng, 26)

Sang phần hai tập thơ: Trong thành phố gồm 41 bài. Đào Minh Lượng có nỗi buồn đơn bóng, của ngày đêm dạo gót vỉa hè khuya. Mang theo một lối diễn tả riêng biệt, đề cao tình yêu như báu vật trong đời. Tôi không thể dự đoán nổi khi nhà thơ trên ba mươi còn đam mê tình yêu, như có lần nào P. Mérimée cho : sau tình yêu, văn chương mới chiếm được một chỗ quan trọng. Hay, anh sẽ ít nói về tình yêu, sau tuổi thành gia thất. Bây giờ, hãy đọc nỗi thầm kín tình yêu của nhà thơ hai mươi lăm tuổi:

Tôi muốn viết bài thơ lục bát
Của Whitman của Pasternak về già
Và thay biển tím ngã tư thành phố
Bằng tên người yêu
Của các anh và những người con gái
Tôi rất yêu
Không tài nào không một ngày xa lánh được.

(Trong Thành Phố của Saigon)

Và đôi khi chịu ảnh hưởng trong văn La Peste của Albert Camus, về những hình-ảnh-thơ-buồn-đẹp:

Mỗi khi tôi đóng cửa nhà
Như bệnh dịch lan tràn trong ngõ
Bạn bè xa vắng chiều xiên từ cửa sổ
Vào giường ngủ
Màn chăn xô lệch
Tình buồn ru ngã xuống vai.

(Trong Thành Phố, 3)

Và thế giới tĩnh vật - dù là động vật được soi dưới cặp mắt đốm sâu nhìn đến, nó tĩnh quá, buồn và thảm, lặng lẽ như trong cung phòng ẩm ướt. Tiếng thơ như sặc mồ hôi thau đồng lạnh như tiền:

Hãy ra xem những đứa trẻ rãy rụa ngoài đường
Người ta vất ra khỏi mái nhà lòng mẹ
Môi còn hoi sữa con nai tơ bánh ngọt
Nó rãy rụa bánh xe đường đá răm
Mắt còn ngước nhìn về phía cửa.

(Trong Thành Phố, 7)

hoặc rất tối nghĩa và tầm thường như:

Tôi đã biết những người bị cầm tù
Từ lâu
Trong tháp cao lâu đài
Bên dưới cỏ xưởng máy mật đường
Và chung quanh
Động cơ xe ngựa tiếng reo tiến bộ
Nền văn minh khói thoát lên nền trời
Đặc xệt bụi than ăn mứt kẹo rượu thịt ứa đầy
Tôi biết lắm
Những người rạo rực đứng ngồi
Làm sao tin được những người lính canh
Võ trang mẹ xẹo đường mòn
Và ban ngày tạp dịch nhà máy
há miệng động cơ nuốt chửng.

(Trong Thành Phố, 6)

Trong đề tài Thơ Thành Phố, mỗi bài đều mang một ý nghĩa, có bài khá sâu sắc, có bài tối nghĩa tầm thường. Có một phiên khúc Trong Thành Phố 13, 18, 33, 35 rất lạ:

Tôi thương người con gái Paris
Chịu nhục hình làm dao trồng người giữa ngực
âm thầm kháng chiến
Tôi thương trẻ con Hanoi
Vất bỏ ngoài công trường thèm hơi người mẹ
Tim nhiễm độc
Tôi thương kẻ đi đường
Không nhà mồi thơm cho tật bệnh
Tôi muốn ôm vào lòng
Chúng ta nức nở
Và thương tôi
Ngại câu đập mạnh vào cửa sổ.
(Trong Thành Phố, 18)

Và trong toàn bài Trong Thành Phố 40:

Trả chúng tôi vô cùng tự do và tự do tuyệt đối
Chúng tôi uy quyền và sức mạnh vô biên
Mà luật lệ ước nghi làm cỏ rối
Làm nhà tù dùng kẽm gai làm vũ khí
Chúng tôi đi đến
Ôi tình yêu cao cả như tâm hồn
Ôi tình thương như biển khơi
từ ngày nào cho tới ngày nào
Chúng tôi đi đến
Trong chiến tranh trong nổi dậy trong sát nhơn
Bằng đói khổ lo âu sợ hãi
Bằng ngã tư bóng tối có dao găm
Bằng hô hào phục kích
Trả chúng tôi tự do nguyên thủy
Và tình người cho trái đất
Và tình yêu cho lứa đôi.

Còn nữa, một bài thơ lục bát rất đẹp, đầy ngôn ngữ riêng của Đào Minh Lượng, Bài Thơ Yên Nghỉ 22:

Thủy tinh yên lặng ngoài đường
Rùng mình mùa lạnh còn vương vào trời
Mười ba muời tám hai mươi
Bàn tay khô có khẽ cười nghiêng môi
Bàn chân bước nhẹ của ai
Thời gian không nhỏ ra ngoài giấc mơ
Tình yêu không cháy bơ vơ
Ngày mai không gọi tình cờ mây trôi
Hãy cho tôi khóc trên môi
Hãy cho tôi rẽ đường ngôi tóc buồn
Hãy cho nức nở tình thương
Không gian vẫn chết ngoài đường nằm im
Thì thầm gọi nhớ vào tim
Thì thầm gọi khẽ tên em vào trời
Xin cho hơi thở loài người
Trán hoang chết đuối trên đồi mây hoang.

Không phải loại commissaires priseurs, nên tôi chỉ thích và ưa cái đẹp chốc lát trong thơ anh mà không nhớ lâu! Một hương bông hoa thoảng đi rồi, tôi chỉ còn phảng phất nhớ, đó là cái thú riêng tôi thưởng thức thơ khi vào đề và giới thiệu tập thơ đầu của anh. Có thể anh là một trong những người bạn thân ngoài đời, cũng như có thể chỉ là vợ tôi (nếu vợ tôi làm thơ), tôi còn được quyền nhớ thơ người khác hơn - hay nói thực hơn - tôi quên chính cả thơ tôi.

Thơ Đào Minh Lượng lạnh quá, cảnh mồ hoang nơi nghĩa trang, phơ phất một vài tiếng dạo đàn bên hàng liễu rủ, nhạc phi lao - không sao cứu vãn nổi lòng mong ước nhóm lửa trong tim tôi. Nếu tôi nhận giá trị lạnh đồng của nghĩa trang là nơi an nghỉ cuối cùng của con người, bất phân xấu tốt, anh hùng, lưu manh… có thể cả chính tôi - lý do ấy rất liên quan đến điều tôi nói ra đây: thơ Đào Minh Lượng có một điểm rất nhỏ, trong bài Vô Cùng 9 nói về con mèo hoang. Một người quí mến con mèo như họa sĩ Foujita, rồi con mèo chết, kẻ trộm lượm đi. Và ngày đó con mèo đã nằm trên bàn ăn cửa hiệu nào đó, chính trong bữa ăn đó, tôi nếm món civet lapin - chính lại là món civet-matou yêu dấu!

Kết luận về thơ anh, thơ siêu hình của Đào Minh Lượng chỉ mới làm thỏa mãn tôi ở đôi phút thăm cảnh đẹp nội tâm nghĩa trang - mà không phải bây giờ còn sống mà ở lại đó lâu - để hiểu sâu ý nghĩa cuộc đời:

Tôi có một con mèo hoang ban đêm
thường leo vào cửa sổ
Ngồi nép dưới chân tôi
Gối đầu lên mũi giầy gấu quần thiêm thiếp ngủ
Bên kia ngoài trời
Những người tự do
Đẹp nằm mơ
…………………
Con mèo của tôi hôm nay đã chết
Một kẻ trộm đi khuya như mụ phù thủy già
Và ngày mai tôi ra ngồi quán
Thịt con mèo là thịt thỏ
Con mèo của tôi
Con mèo hoang đã chết
Tôi không còn ngồi đợi
Và không còn tiếng chân đi vào ô cửa
vào trăng sao
……………………
Buổi trưa
Tôi vào quán
Người lạ mặt
Mẩu bánh mì
Thịt thỏ
Chiếc dĩa con dao ……
…………………

ĐÀO MINH LƯỢNG



_________________________________________________












© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 05.06.2009.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com