VỀ VIỆC NGHIÊN CỨU “THƠ MỚI” HIỆN NAY (*)


ĐỖ NGỌC THẠCH


Mấy năm gần đây, việc “nghiên cứu lại” “Thơ Mới” đã thu hút khá mạnh những người quan tâm. Những kết quả nghiên cứu cũ thường là bị phủ định quyết liệt, nhiều khi bị “đánh” quá tay ! Những kết quả nghiên cứu mới chưa thể đánh giá một cách chính xác, nhưng cũng có thể thấy có nhiều suy nghĩ mới, những phát hiện mới. Nhưng khá phổ biến là : những cái gọi là “nghiên cứu mới” ấy lại quá cũ và đầy những sai sót trong cả những “thao tác” và phương pháp luận. Bài viết này chỉ đề cập đến một bài báo của tác giả Đào Quốc Toàn (ĐQT) : “Nhóm thơ Bình Định và trường thơ Bình Định” (Báo Văn nghệ TP.HCM, số 103, tháng 8-1993).

Ngay câu mở đầu, ĐQT viết : “Nhóm thơ Bình Định xuất hiện vào quãng 1934-1935, với những giọng thơ hết sức khác lạ…” và “Cũng xin nói thêm rằng, những tiếng thơ làm rung động đến sửng sốt lòng người này, là của những chàng trai còn rất trẻ, chưa một ai vượt quá tuổi hai mươi”.

Khái niệm “nhóm thơ Bình Định” mà ĐQT nói rõ hơn ở dưới “thật sự chỉ có” : Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Quách Tấn và Yến Lan (còn được mệnh danh là “Nhóm Tứ linh Bình Định”).

Có thể thấy ngay rằng, “quãng 1934-1935” không phải là thời gian nhóm thơ Bình Định xuất hiện “với những giọng thơ hết sức khác lạ” như ĐQT nhận xét. Mà ta đều biết rằng, đến 1936, Hàn Mặc Tử mới nổi tiếng với “Gái quê”. Còn trước đó, HMT xuất hiện và được biết đến (còn hạn hẹp) bằng bút danh Lệ Thanh, Phong Trần với những bài thơ viết theo thể Đường luật, được cụ Phan Bội Châu rất khen. Chỉ sau khi đi làm báo không thành ở Sài Gòn về Quy Nhơn (1935-1936) và sau khi tập “Gái quê” xuất bản (cuối 1936), HMT lâm trọng bệnh nan y, thiên tài mới bộc phát, “Thơ Tử mở ra một chân trời mới lạ hẳn” (Quách Tấn). Hoặc nói như Chế Lan Viên : “Nhưng phải có cơn bão máu, trận hồng thủy tai ương , những động đất tâm hồn, những phun lửa tình yêu kinh khủng về sau thì các khả năng kia (nói về khả năng sáng tạo qua tập “Gái quê” – Đ.N.T) mới lên cái thế bình phương, rồi lập phương như ta thấy (Xem Quách Tấn : Đôi nét về Hàn Mặc Tử” và Chế Lan Viên : “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”, cùng in trong cuốn “Thơ Hàn Mặc Tử”, Sở VH-TT Nghĩa Bình, 1988).

Nói thêm về “Gái quê”, như Quách Tấn nhận xét trong bài dẫn trên thì : “Về hình thức, Tử chỉ bỏ sự đối chọi và sự hạn câu của luật Đường. Còn thể thơ và âm điệu vẫn giữ” và : “Lời thơ êm đềm, nhạc thơ du dương, hình ảnh mơ màng có, lộng lẫy có…Thơ rung cảm người đọc một cách dịu dàng, phơn phớt”.Điều này đúng như sự biết về Hàn Mặc Tử của đông đảo người đọc qua bài thơ nổi tiếng Đây thôn Vĩ Dạ. Giáo sư Lê Đình Kỵ cũng có nhận xét gần với ý này : “Thơ “Gái quê” phần nhiều hướng ngoại, để không nói là mở đầu cho thơ Nguyễn Bính một hai năm sau” (Thơ mới những bước thăng trầm”, NXB TP.HCM, 1993).

Như thế, nhận xét của ĐQT không đúng với Hàn Mặc Tử.

Với Quách Tấn, cũng không đúng nốt ! Năm 1939, Quách Tấn mới nổi tiếng với Một tấm lòng theo dòng thơ ảnh hưởng thơ Đường (nói theo cách phân 3 dòng thơ của Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam” : 1/ dòng ảnh hưởng thơ Pháp mà mở đầu là Thế Lữ ; 2/ dòng ảnh hưởng thơ Đường mà mở đầu là J.Leiba, Thái Can ; 3/ dòng thuần Việt tiêu biểu là Lưu Trọng Lư, Phan Văn Dật, Nguyễn Nhược Pháp, Nguyễn Bính…). Đến 1941, Quách Tấn thật sự nổi tiếng ở “dòng thơ Đường” với Mùa cổ điển mà theo Hoài Thanh thì “Mùa cổ điển”, một tập thơ cũ, đã khép lại một thời đại trong thi ca” và sau đó Hoài Thanh có nhắc lại : “Mùa cổ điển” là hết một thời đại trong thi ca” (Thi nhân Việt Nam).

Câu “xin nói thêm” đã dẫn của ĐQT chỉ nói thêm lên sự trật lấc : đến “quãng 1934-1935” thì Hàn Mặc Tử (sinh 1912) và Quách Tấn (sinh 1910) đã quá tuổi hai mươi từ lâu rồi, chỉ có Chế Lan Viên (sinh 1920) và Yến Lan (sinh 1918) là chưa quá tuổi hai mươi mà thôi ! Và, đến “quãng 1934-1935” thì “Điêu tàn” của Chế Lan Viên đã xuất hiện đâu ? Mà đến 1937 “Điêu tàn” mới đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị”!

Như đã trình bày sơ qua trên thì rõ ràng là không thể nhận định như ĐQT ở một đoạn khác tiếp theo : “Hoàn toàn không phải vô tình hay ngẫu nhiên, mà vùng đất Bình Định này bỗng chốc lại có liền một lúc (Tôi gạch dưới – Đ.N.T) những giọng thơ gây nhiều kinh ngạc như thế”. Mới dẫn có hai trong Tứ linh mà đâu có thấy “liền một lúc” ?! Và, với Quách Tấn, “nhà thơ Đường Việt Nam” thì không những không “kinh ngạc”, mà dường như Hoài Thanh muốn xếp ông vào người của làng thơ cũ sau khi gọi ông là “sứ giả của đời Đường, đời Tống” (“Thi nhân Việt Nam).

Trong bài viết của mình, ĐQT nhấn mạnh Quy Nhơn là vùng đất “hội tụ của thi ca” và từ đây “đã làm bùng lên ngọn lửa cách tân của thi ca”.

Thực ra, đúng như Hoài Thanh nhận xét, sự “đột ngột xuất hiện ra giữa làng thơ Việt Nam như một niềm kinh dị” của Chế Lan Viên và những vần thơ loạn, thơ điên của Hàn Mặc Tử trong vườn thơ “rộng rinh không bờ bến, càng đi xa càng ớn lạnh” của Thi sĩ, chính là sự ảnh hưởng của thơ Pháp mà Hoài Thanh đã nói rõ : “Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và, qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe. Có khác chăng là Chế Lan Viên đi từ Baudelaire, Edgar Poe đến thơ Đường , mà Hàn Mặc Tử đã đi ngược lại từ thơ Đường đến Baudelaire, Edgar Poe và đi thêm một đoạn nữa cho gặp Thánh Kinh của đạo Thiên Chúa. Cả hai đều cai trị trường thơ loạn…” (Một thời đại trong thi ca – TNVN). Như vậy, sự cách tân của nhóm thơ Bình Định đâu phải vì mảnh đất “đặc biệt” ấy, như ở đoạn kết bài viết của mình, ĐQT nói nhóm thơ Bình Định chịu ảnh hưởng rất quan trọng của vùng văn hóa dân gian Bình Định, mà là do “một cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến…Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” (Một thời đại trong thi ca – TNVN).

Tính cách tân của thơ Bích Khê trong Tinh huyết cũng là một biểu hiện rất rõ của sự giao lưu văn hóa Đông Tây ở cái thời điểm lịch sử đặc biệt lúc đó, cũng như Hoài Thanh đã nhận định rằng , Chế Lan Viên đi tới thơ tượng trưng Pháp, và “điều ấy thấy rất rõ ở tác phẩm một người rất gần Chế Lan Viên và Hàn Mặc Tử : Bích Khê” (Một thời đại trong thi ca-TNVN) (xin xem thêm Tựa Tinh huyết của Hàn Mặc Tử trong cuốn Thơ Bích Khê – Sở VH-TT Nghĩa Bình, 1988). Và việc Hoài Thanh xác định Yến Lan tuy có mặt ở Quy Nhơn và chơi thân với các thi sĩ vừa nói trên, nhưng Yến Lan tiêu biểu cho một lối thơ khác và Hoài Thanh muốn xếp Yến Lan vào nhóm Huy Xuân (Xuân Diệu và Huy Cận) là có lý. Và nếu muốn nói đến “trường thơ Bình Định” thì phải xếp bên cạnh nhau ba khuôn mặt độc đáo đến dị thường này : Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Bích Khê. . Để cho rõ hơn, hãy đọc thêm một đoạn nhận xét về Bích Khê của Hoài Thanh : “Từ Xuân Diệu, Huy Cận, thơ Việt Nam đã có tính cách của thơ Pháp lối tượng trưng. Nhưng còn dè dặt. Bích Khê và ít người nữa như Xuân Sanh muốn đi đến chỗ người ta thường cho là cao nhất trong thơ tượng trưng : Mallarmé, Vale1ry” (Hoài Thanh : Một thời đại trong thi ca – TNVN); hoặc trong phần viết riêng về Bích Khê, giáo sư Lê Đình Kỵ đã đăc biệt chú ý đến sự đi tới tận cùng của trường phái tượng trưng, siêu thực trong thơ Bích Khê (và so với các nhà thơ cùng trường phái, Bích Khê đã đi xa hơn tất cả trong chủ trương canh tân triệt để của mình):”Bích Khê không dừng lại đó mà muốn thơ phải bao gồm đủ kiến trúc, hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, âm nhạc, vũ đạo, vừa đánh thức sự sống nguyên thủy, bản năng, vừa đạt tới đỉnh cao của thơ hiện đại:

Hỡi lời ca man dại
Điệu nhạc thở hơi rừng.
Đêm nay xuân đã lại
Thuần túy và tượng trưng.

Bích Khê tâm niệm một thứ thơ tuyệt đối, thuần túy, “vàng ròng” …Và sáng tạo theo quy luật của thơ và của ngôn ngữ Việt Nam, của gốc “cổ Đông phương”:

Và mới mẻ trên viện cổ Đông phương
Ai có nghe sức tiềm tàng bí mật”

(Lê Đình Kỵ: Thơ Mới – những bước thăng trầm;
NXB TP.Hồ Chí Minh, 1993).

Việc ảnh hưởng thơ Pháp của ba thi sĩ này không có gì là “xấu”, không làm giảm giá tài năng của họ và nói đến như vậy là đủ chứ không phải như nhiều người đã thêm vào cái đuôi “suy đồi” để mà, hoặc là phủ định họ, hoặc là vì muốn bênh vực, bảo vệ họ là rất “dân tộc”, thì lại sợ nói đến sự ảnh hưởng tất yếu đó của một “ cơn gió mạnh bỗng từ xa thổi đến”. Việc ĐQT hai lần nói đến khái niệm “vùng văn hóa truyền thống ở Bình Định”, “vùng văn hóa dân gian Bình Định” quả là muốn đề cao “tính dân tộc” của nhóm thơ Bình Định và muốn phủ nhận hoặc xem nhẹ sự giao lưu văn hóa Đông Tây của một thời đại thi ca đầy biến động này.

Về quan điểm mỹ học của nhóm thơ Bình Định nói riêng và Thơ mới nói chung là một vấn đề phức tạp, đã tốn khá nhiều giấy mực và sẽ còn tiếp tục như vậy. Và nếu như ĐQT đưa ra “thuật ngữ” nhóm thơ Bình Định và nhóm thơ công chức rồi cộng lại thành ra trường thơ Bình Định thì quả là vấn đề trên sẽ rối như canh hẹ!

Ngay như Hoài Thanh, khi có ý muốn phân loại xu hướng, trào lưu, trường phái trong Thơ mới cũng rất dè dặt và ông đã mượn cách nói chơi trong ngôn ngữ đời thường để mà phân ra các loại trường phái về mặt phong cách nghệ thuật đối với làng thơ Việt Nam : trong làng thơ VN có những xóm thơ như xóm Tự lực có Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận…, xóm Huế có Phan Văn Dật, Nam Trân, Nguyễn Đình Thư…, xóm Hà Tiên có Đông Hồ, Mộng Tuyết và xóm Bình Định có Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên…

Việc Hoài Thanh phân làm ba dòng thơ đã nói trên và các xóm thơ đó quả là rất nôm na nhưng rất giỏi và rất chính xác vậy mà ông cũng còn thấy run tay : “Những thơ ra đời trong mười năm nay đã nhiều lại nhiều khuynh hướng . Tôi cố đưa ra một tí trật tự vào chỗ vốn chẳng có trật tự gì. Tôi chia ra làm ba dòng : dòng Pháp, dòng Đường và dòng Việt . Ấy cũng là liều. Tôi đã phân vân nhiều lắm trước khi dám liều như vậy”(Nhỏ to- Thi nhân Việt Nam). Và sau khi chia xóm như vừa nói trên, Hoài Thanh lại thấy cái khó mới:”Nhưng trong các xóm dân ngụ cư nhiều quá không có gì thuần nhất. Và đã chia xóm, rồi lại phải đặt “trùm xóm”, cũng lôi thôi”(Nhỏ to-TNVN)!...

Đến đây, người viết muốn tạt vào khu vực vấn đề rất “lắm chuyện” này một chút, nhưng e bài viết sẽ quá dài, làm mất thì giờ người đọc . Vì vậy, tôi muốn nói điểm cuối cùng này nữa rồi tạm ngưng.

Ở đoạn thứ hai của bài viết của ĐQT, tác giả đã viện dẫn Hoài Thanh để làm “điểm tựa” cho sự luận giải của mình. ĐQT đã dẫn Hoài Thanh như thế nào, hãy xem :

Hoài Thanh viết : “Giữa đồng bằng văn học Việt Nam ở nửa thế kỷ hai mươi, nó (chỉ cậu bé 16 tuổi Chế Lan Viên tác giả Điêu tàn – Đ.N.T) đứng sững như một cái tháp Chàm, chắc chắn là lẻ loi, bí mật” (Thi nhân VN – Phần viết về Chế Lan Viên).

Và ĐQT viết : “…thì nói như Hoài Thanh, trên cánh đồng thơ Việt Nam đang trải dài mênh mông, bỗng xuất hiện sừng sững những ngọn tháp Chàm huyền bí, rợn ngợp…của “Điêu tàn” Chế Lan Viên. Rồi ánh trăng kỳ ảo, kinh dị của tiếng thơ Hàn Mặc Tử. Rồi mênh mang, xa vắng của “Bến Mi Lăng” Yến Lan v.v…

Đọc xong, tôi không hiểu câu nói của Hoài Thanh đến đâu ? Đến dấu chấm câu sau chữ Chế Lan Viên hay tiếp hai câu mở đầu bằng chữ “Rồi”? Tôi rất tiếc là không có đủ thời gian để đi tra cứu xem Hoài Thanh có nói như thế ở chỗ nào khác như câu của ĐQT viết hay không ? Song , tôi đoan chắc rằng Hoài Thanh không nói như vậy bởi vì câu này “chẳng Hoài Thanh” một chút nào! Mặt khác, ở Bình Định tôi biết có những tháp Chàm, nhưng ở Thơ Mới chỉ có một tháp Chàm đứng sững là Điêu tàn của Chế Lan Viên mà thôi!...Và tôi nghĩ, trích Hoài Thanh như thế khác nào “yêu nhau thì cũng bằng mười phụ nhau”!

Ta thường thấy trong nghiên cứu, lý luận, phê bình có tình trạng : khi muốn ca ngợi ai thì ca hết lời, vơ vào đủ thứ mà đối tượng được ca không hề có ; Còn khi muốn “đánh đập” ai thì chụp lên đầu người ta đủ thứ tội mà người ta không hề có ! Giống như câu ca dao này :

Thương nhau cau sáu bổ ba
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười !

Nếu bị sa vào một trong hai cực đoan đó, nhà nghiên cứu, lý luận, phê bình đều không thể đạt tới chân lý khoa học cho dù tài ba đến cỡ nào ! Tôi nghĩ rằng , trong cao trào “đổi mới” của đời sống văn học hôm nay, giới nghiên cứu, lý luận, phê bình cần tỉnh táo, cẩn trọng hơn bao giờ hết!


________________________________

(*)Bài này được viết vào năm 1993 (Báo Văn Nghệ TP.HCM, số 106, ngày 9-9-1993), tác giả có bổ sung đôi chỗ, quan điểm không thay đổi vì liên quan đến nhiều vấn đề lớn của Thơ Mới và lý luận văn học nói chung…
TP.HCM, cuối tháng 8-93

© tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi từ Sài Gòn ngày 08.05.2009.
. Tải đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com