CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP
CỦA NHÀ VĂN NHẬT BẢN
HARUKI MURAKAMI

A)- CUỘC ĐỜI :

Sinh ngày 12 tháng Giêng năm 1949 tại Kyoto, nhưng lớn lên tại Ashiya, Hyogo. Cha mẹ ông giảng dạy văn chương Nhật. Tuy nhiên, Murakami lại ưa chuộng loại truyện trinh thám và khoa học tưởng tượngcủa Hoa Kỳ.
"Mình tôi trong căn phòng, nghe nhạc Jazz của Mỹ và nhạc rock and roll, xem truyền hình Mỹ giới thiệu và đọc những tiểu thuyết Mỹ ", Murakami đã nhắc lại trong một buổi trả lời phỏng vấn (New York Times, 27 tháng 11 năm 1992).
Những nhật vật như Raymond CARVER, Raymond CHANDLER và Scott FIZTGERALD tưới đẫm sự tưởng tượng của Murakami trong thời kỳ trẻ của ông - Murakami đã viết lại sự kiện này .

Năm 1968, Murakami về Tokyo theo học kịch nghệ và văn minh Hy Lạp tại viện Đại Học Waseda - thời kỳ ở tại Tokyo Murakami cũng hòa nhập vào phong trào sinh viên Nhật xuống đường biểu tình phản kháng - và tốt nghiệp năm 1975.
Murakami cưới vợ vào năm cuối trước khi tốt nghiệp Đại Học Waseda.

Năm 1974, cùng với người vợ, Yoko Takahashi, Murakami mở "Peter Cat" một club nhạc Jazz tại Tokyo cho tới năm 1981.

Năm 1977 hai vợ chồng Murakami dời club nhạc về Sendagaya một khu vực khá yên tĩnh ở ngoại ô Tokyo .

Năm 1978, khi đi xem một trận đấu khúc côn cầu ở vận động trường Jingu, đột nhiên Murakami cảm thấy mình có khả năng viết một tiểu thuyết , vào đúng ngay lúc người đánh cầu Hoa Kỳ, Dave Hilton, đập trúng trái banh.
Trong cuộc phỏng vấn của tờ L'Expresse Livres - Pháp - Murakami đã nói về việc này như sau :

"Tôi là đứa trẻ duy nhất trong gia đình và tôi đã tự tạo cho tôi một thế giới riêng biệt, đầy sách, nhạc và nhhững cuộc đối thoại với những con mèo của tôi. Những quyền sách tôi yêu chuộng càng ngày càng dầy, viết bởi những nhà văn lớn như Dostoïevski, Tolstoï, Dickens hay Balzac, vì lẽ sự dầy dặn của sách là những hứa hẹn cho một hành trình dài.
Tôi đã luôn bị lôi cuốn đến một nơi khác và bợi những nhá văn ngoại quốc. Nếu như tôi đã không học Anh ngữ ở trường - một tình cờ làm cho tôi khám phá và yêu thích Chandler, Vonnegut hay Capote - thì chắc chắn tôi cũng sẽ đam mê văn chương và văn hoá Pháp rồi. Nhưng dù sao chăng nữa, tiểu thuyết đầu tiên mà tôi đọc trong đời tôi, vào lúc được 12 hay 13 tuổi, là quyển Le Rouge et le noir của Stendhal, và Truffaut cũng đã ghi lại trong tôi một cách xâu đậm.
Lúc đầu, tôi theo học về phim ảnh để trở thành người viết phim bản scénariste, nhưng cũng thật nhanh , tôi khám phá được rằng... tôi chẳng có gì để mà viết. Quả thực chẳng có gì. Tôi là một cậu bé xuất thân trong một gia đình trung lưu bình thản của xã hội Nhật. Cho rằng vào năm 1968, cũng giuồng như những nơi khác trên thế giới, chúng tôi cũng có, vì lý tưởng, chiếm đóng viện đại học và đánh nhau với cảnh sát; nhưng xã hội đã qúa mạnh và mọi việc cũng đâu đó nằm vào vòng trật tự của nó. Vì thế tôi quẳng đi tất cả.
Sau thời kỳ ợ Đại học, tôi đã giữ trong suốt gần tám năm một qúan cà phê nhạc jazz mà chỉ viết những thực đơn. Tôi đã nghĩ rằng tôi không có tài như một nhà văn, tuy nhiên với sự lui tới của khách hàng, hàng trăm lần gặp gỡ đã nuôi đưỡng cho tôi một kinh nghiệm về con người Đề rồi, một ngày đẹp trời, vào lúc 29 tuổi, tôi chợt phát hiện, trong một trận base-ball. Vào một buổi chiều mùa xuân, trên hàng ghế khán giả, tay cầm lon bia. Một khoảng thời gian hạnh phúc, tràn ngập. Nếu như tôi chọn lựa một ngày của cuộc đời tôi, tôi sẽ lựa ngày đó. Ngày đó, tôi đã cầm bút, và tôi trở thành một nhà văn "tự nhiên". Một người thuật lại những câu chuyện.
.............................

Và Kaze no uta o kike (Hear the Wind Sing), tập truyện đầu tiên của ông ra đời vào ngay năm sau, 1979, đoạt giải Gunzo New Writer's Award dành cho những cây bút mới.
Đây là cuốn đầu tiên trong bộ Ba tập, tiếp theo sau là Sen kyuhyaku nanaju san nen pas pinboru (1980, Pinball 1973) cũng được trao giải thưởng Kondansha nhà xuất bản Shinjin Bunkaku dành cho người viết mới tới vào năm 1980

Năm 1981, bán lại bar này và khởi sự sống bằng ngòi bút của mình.

Năm 1982 với Hitsuji o meguru boken (A Wild Sheep Chase) .

Ngay ở ba tác phẩm đầu tiên này cũng đã xác định văn phong của Murakami. Một văn phong mà người Nhật xử dụng để biểu hiện mono no aware (tạm dịch là " nỗi u sầu thống thiết của những sự kiện "), một thể văn có từ thời kỳ Heian để chỉ định chẳng hạn như "nhìn những chiếc lá rơi trong im lặng hoặc một người thân yêu chợt biến mất sau khúc ngoặt một con đường"... một tình cảm của hư không sầu muộn, phù hợp với thi ca cổ điển truyền thống Nhật Bản.

Tập truyện thứ tư - "Sekai no owari to hadoboirudo wandarando" (Hard-Boiled Wonderland and The End of the World) xuất bản vào năm 1985 , một loại khoa học viễn tưởng , cũng đoạt giải Tanizaki Prize.

Mặc dù thành công ngay khi vừa bước vào đường văn nghiệp , nhưng Murakami không thể chịu đựng được với chủ nghĩa theo thời của xã hội Nhật, ông bỏ nước đi sang sống tại Hy Lạp từ năm 1986

Năm 1987, Murakami cho ra mắt quyển Noruwei No Mori (Norwegian Wood) tựa đề tên bài hát của ban nhạc Beatles . Tác phẩm này đã bán được hơn 4 triệu ấn bản chỉ tình riêng tại Nhật và đã được dịch sang rất nhiều thứ tiếng ( bản dịch Việt năm có tên : Rừng Na Uy).

Năm 1989, Murakami dời Hy Lạp sang rồi Ý, sau đó năm năm sống ở Hoa Kỳ. Tại đây, vào tháng giêng năm 1992 Murakami đảm nhận chức vụ phụ tá nghiên cứu tại đại học Princeton và tháng bảy năm 1993 dời về Santa Ana CA về giảng dạy tại William Howard Taft University .

Năm 1995, sau trận động đất tại Kobe và vụ mưu sát do môn phái Aum Shinrikyo tổ chức bằng hơi gaz độc trong xe điện ngầm tại Tokyo, Murakami quyết định quay về tái định cư ở Nhật.

"Trong cương vị một nhà văn, tôi đã có cảm giác rằng mình cọ sát vào những biến cố sảy ra tại Nhật này. Vì thế nên tôi quay về Nhật và lúc này tôi hiểu rằng những ấn tượng trong tôi đã phải đối chất với những ấn tượng ngoại cảnh. Hai thế giới đó chồng chất lên nhau trong sự xáo trộn thường trực mà mình cần phải giải mã ."
Cho tới tập truyện Nejimaki-dori kuronikuru (1994-95, Wind-up Bird Chronicle) Murakami không động chạm gì tới những vẩn đề chính trị , nhưng qua tác phẩm này Murakami cũng đã giáng một cho chiến dịch của đế quốc Nhật tại Mãn châu trong thời kỳ chiến trang trong vùng Thái Bình Dương. "Trong sự cố gắng miêu tả lại một mảnh vở, hỗn độn và không thể nhận thức được sau cùng của thế giới, Murakami đã viết một cuốn sách bằng cách rời rạc và không sắp xếp thứ tự ," câu viết của Michiko Kakutani với báo The New York Times (October 31, 1997). After the Quake (2000), tập truyện ngắn tưởng tượng lấy cảm hứng từ trận động đất ở Kobé năm 1995. Andaguraundo / Yakusoku sareta basho de - Underground: The Tokyo Gas Attack and the Japanese Psyche (1997-98), tập sách không hư cấu đầu tiên của Murakami đề cập tới vụ khủng bố của Aum Shinrikyo ở Tokyo năm 1995.

Umibe no Kafuka, 2002 - Kafka on the Shore, Đoạt giải Kafka năm 2006 của nước Cộng hoà Czech , đã vĩnh viễn ghi dấu Murakami là một trong những khuôn mặt lớn của văn chương thế giới.
Gần đây nhất sự kiện này lại thêm một lần nữa được xác định : Haruki Murakami đoạt giải văn học Jerusalem năm 2009.

Haruki Murakami cũng là một dịch gỉa từ Anh ngữ sang tiếng Nhật các tác phẩm của nhiều tác giả trong số đó người ta có thể kể : Scott Fitzgerald, John Irving đặc biệt là Raymond Carver, người mà Murakami đã nói khi nhà văn này qua đời vào năm 1987 : "Không thể ngờ vực được vì Raymond Carver là một vị giáo sư quan trọng nhất trong sự hiện hữu của tôi và cũng lại là một người bạn lớn lao nhất của tôi trong văn chương ".
Murakami rất yêu chuộng nhạc Jazz, với một bộ sưu tập khoảng 40.000 đĩa nhạc chính trong nhiều tác phẩm ông viết cũng đã ghi dấu lại rất nhiều lần với tựa đề của Miles Davis hoặc Duke Ellington ( người ta đã đếm được hơn 50 tựa đề) , đặc biệt là những bài hát, như trong Dance, Dance, Dance (từ The Dells hoặc The Beach Boys), trong Norwegian Wood (theo bài hát của Beatles) và South of the Border, West of the Sun mà phần đầu với tựa đề bài hát của ca sĩ Mỹ Nat King Cole.
Murakami cũng còn là một lực sĩ chạy bộ kể từ khi ông được 33 tuổi và đã tham dự vào các cuộc chạy đua maratông và triathlon.

B)- TÁC PHẨM CHỌN LỌC :

. Kaze no uta o kike, 1979 - Hear the Wind Sing
. Sen kyuhyaku nanaju san nen no pinboru, 1980 - Pinball 1973
. Hitsuji o meguru boken, 1982 - A Wild Sheep Chase - Suuri lammasseikkailu
. Zojo kojo ni happiendo, 1983
. Kangaru biyori, 1983
. Chugoku iki no surou Boto, 1983
. Murakami Asahido, 1984
. Nami no e. nami no hanashi, 1984
. Murakami asahido, 1984
. Hotaru naya o yaku sonota no tanpen, 1984
. Kaiten mokuba no deddo hito, 1985
. Sekai no owari to hadoboirudo wandarando, 1985 - Hard-Boiled Wonderland and The End of the World
. Hitsuji otoko no kurisumasu, 1985
. Kaiten mokuba ni deddo hito, 1985
. Rangeruhansuto no gogo, 1986
. Panya saishugeki, 1986
. Murakami asahido no gyakushu, 1986
. Noruwei no mori, 1987 (2 vols.) - Norwegian Wood
.'The Scrap' natsukashi no 1980 nendai, 1987
. Hi izuru kuni no kojo, 1987
. Za sukkotto fittsugerarudo bukku, 1988
. Dansu, dansu, dansu, 1988 - Dance Dance Dance
. Murakami asahido haiho!, 1989
. Toi taiko, 1990
. Uten enten, 1990
. Murakami Haruki zensakuhin, 1979-1989, 1990-92 (8 bộ.)
. Kokkyoh no minami, taiyoh no nishi, 1992 - South of the Border, West of the Sun
The Elephant Vanishes: Stories, 1993
. Nejimaki-dori kuronikuru, 1994-95 - Wind-up Bird Chronicle
. Andaguraundo / Yakusoku sareta basho de, 1997-98 - Underground: The Tokyo Gas Attack and the Japanese Psyche
. Supuutoniku no koibito, 1999 - Sputnik Sweetheart - Sputnik-rakastettuni (suom. Ilkka Malinen)
. Kami no Kodomotachi-wa nuba Idoru, 2000 - After the Quake
. Umibe no Kafuka, 2002 - Kafka on the Shore
. Afutadaku, 2004 - After Dark
. Tokyo Kitanshu, 2005 . Blind Willow, Sleeping Woman, 2006
. What I Talk About When I Talk About Running, 2008
. Murakami Diary 2009, 2008


C)- PHIM THỰC HIỆN PHỎNG THEO TÁC PHẨM CỦA HARUKI MURAKAMI :

- Dansa med dvärgar (2003) - phim ngắn tiếng Thụy Điện thực hiện bởi Emelie Carlsson Gras.
- Tony Takitani (2004), thực hiện bởi Ichikawa Jun đoạt giải Prix Fipresci và Giải Prix Spécial du Jury tại đại hội Locarno (Thụy Sĩ) .



Tổng hợp theo các tài liệu của : Murakami , L'Express, ...

La Sérénité-Troyes, 11 giờ 20 ngày 02.02.2009.









© tác giả giữ bản quyền.
. Tải đăng ngày 05.05.2009
. Trích Đăng Lại Vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com.