HIỆN TÌNH VĂN NGHỆ MIỀN NAM:
1957-1961













LỜI TÁC GỈA.

Hiện tình văn nghệ miền Nam: 1957-1961- ThếPhong (34 trang khổ A4 in 50 ấn bản ronéotypé- Nxb Đại Nam văn hiến,Sài Gòn 1962), tác phẩm nhận định văn học riêng rẽ, không phụ thuộc bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam: 1900-1956.
Tuy vậy, tập sách nhận định này vẫn có thể coi như phụ lục, bổ sung cho bộ sách phê bình văn học- làm sáng tỏ thêm tiến trình văn học miền Nam từ 1957 đến 1961. Sở dĩ tìm lại được tập sách nhỏ bé này- giáo sư Nguyễn Văn Trung ở Montréal copy một bản vào năm 2004, và nhờ Trần Thị Bông Giấy ở San José chuyển lại tác giả. Xin có đôi lời tri ân giáo sư Trung và nhà văn Trần Thị Bông Giấy.
Trước khi cho đăng tải trên web: newvietart.com, người viết đọc lại, có sửa chữa.

THẾ PHONG .

Chương Hai.

MẠN ĐÀM TỰ DO TRONG VĂN CHƯƠNG.



Ngày nay muốn biết trình độ tiến hoá một quốc gia có thể tìm hiểu qua tác phẩm văn học.. Chẳng hạn ở Pháp trình độ thửơng thức tác phẩm nghệ thuật đạt trình độ cao, nhiều nhà xuất bản có mặt ,và từ đó nuôi sống được một số nhà văn thành danh – bản quyền được trả theo số lượng sách in ra minh bạch, giúp nhà văn sống phát triển nghiệp văn càng hơn. Lấy thì dụ, một nhà văn tập sự không thể sống bằng tiền nhuận bút. Anh ta phải có nghề tay trái kiêm miếng cơm manh áo ở đời sống thường nhật mới đảm bảo duy trì được sự viết lách. Một khi thời gian, nếu may mắn trở thành nhà văn danh tiềng, tác phẩm in ra đọc giả đón nhận, được giải văn chương- anh ta sẽ được bù đắp tương xứng.
Nhìn nghiệp văn Ernest Hemingway, khởi nghiệp bằng nghề làm phóng viên xông xáo ,mạo hiểm, tham gia cuộc ở Tây ban nha , đi khắp đó đây , ghi chép, quan sát, tư liệu sống rồi rào sẽ giúp ích tác giả viết được nhiều tác phẩm độc đáo. Thời kỳ thành danh, ông cho biết: cái khiếu cần thiết cho nhà văn là phải biết dán mũi vào tất cả mọi thử thách của đời sống muôn mặt .. .( trả lời phỏng vấn báo Actualité Littéraire mensuel/ Paris/Mai 1958).
Hoặc André Gide , được bạn văn André Malraux khen tặng le contemporain capital (tạm hiểu: nhà văn đương đại tầm cỡ ) , mấy ai biết trước đó nhà văn trải qua những ngày thất thế, túng bấn sinh bần cùng- đem sách bạn văn tặng có chữ ký bán cho bouquiniste (người bán sách cũ) để có tiền độ nhật. Rồi thành công trên đường sự nghiệp, nhận giải thưởng Nobel văn chương, sách bán ra hàng triệu cuốn , ông đủ tiền mua biệt thự tráng lệ ở Cureville. Vậy là sự đền bù chỉ xảy ra ở cường quốc có nền văn hoá hưng thịnh, như Pháp, Đức, Anh, Mỹ vv.. . Ở ta thời tiền chiến nổi danh cỡ Tản Đà, Vũ Trọng Phụng… chết đi còn thiếu một bữa ăn thịnh soạn, miếng bí tết thòm thèm chực chờ nơi cửa miệng tác giả Giông tố
Ở Nam bộ, Lý Văn Sâm, nhà văn nổi tiếng đã bao lần thốt lời cay đắng túng quẫn , tác giả truyện Đời tàn trong ngõ hẹp chẳng hạn. Một tác giả khác ở Saigon, nhà văn Trang Thế Hy viết truyện ngắn tả chân xã hội rất cảm động , đó là truyện Người đẹp bán thơ đang trên báo Ngày Mới / Hoàng Phố chủ trương/ số 52/1962.
Và một thi nhân bút danh Song Hồ , tác giả Hai cánh hoa tim/ HuyềnTrân xuất bản /Saigon 1961)- một bài thơ trong đó phản ảnh một sự thật nhỏ trong nhiều sự thật lớn chát chuá:

NHỮ NG NỖI BUỒN NHỎ NHẶT

đất nuớc ta ngày nay đã độc lập
tại sao tôi không ngủ được
                      suốt đêm
tóc chưa bạc đi – nhưng râu cứ mọc dài
yêu cuộc đời
                      nên làm thơ
                     tha thiết
những người sống hôm nay
                                khổ đau
                                 chưa hết
triệu người đi
                      không tần tiện tim gan
con đường của chúng ta sáng lạn huy hoàng
sao cuộc sông nhiều người vẫn lận đận
                                                       lao đao
người bạn viết văn - đau phổi – nằm nơi nào?
người bạn viết báo – không nuôi nổi con nổi vợ
người bạn làm kịch – sống bên gầm cầu
                      hàng ngày nhìn giòng nước trôi xuôi
( những con người ngoại ô – khắp nơi
                                 mơ ước một ngày xây thành phố )
bao năm qua tim óc bóp nhiều rồi
trong cuộc sống mọi người đã trông thấy
những con-cóc-người
                                 tôm-người
                                            đầy rẫy
( tôi muốn nhờ hoạ sĩ vẽ hình ra)
bọn chúng làm thiếu thốn đời ta)
túi chúng rộng
                      lưỡi chúng mềm
                                           lắt léo
miện chúng nói
                      nghĩa nhân
                                 rất khéo
bụng chúng mang giáo mác
                                           hại người
tại sao tôi không nói về tôi?
cuối tháng lĩnh lương chưa đủ trả nợ
bao năm rồi – bao tim óc?
                                 bài thơ
tác phẩm –đem ngăn quân địch- quay về
nghĩ tới đồng lương
                                 chợt mơ
                                 chợt tỉnh
này tiền điện, tiền nhà
                                 ( vì ở thuê)
còn tiền nước không thể nào quên được
sống trên nước mình – phải mua nước. Ô hay!
thiếu nước một ngày
                                có lẽ chết
khổ nhất là không dám quả quyết
có người yêu – không dám tính chuyện cưới xin
( thêm một vợ - mai lại một con
sinh hoạt đắt đỏ làm sao mà nuôi nổi )
tình cảnh này liệu đếm được bao nhiêu?
chúng ta đây
                                 đau khổ đã nhiều
sao có chúng
                      vào cuộc đời
                                            ám ảnh
còn những kẻ mua danh thần thánh
bợ-đỡ-người-làm-văn-nghệ-công-kênh
lại có kẻ không tài hám danh
lấy-xác-chết-bạn-bè-làm-sự-nghiệp
còn có kẻ làm thơ
                                 không phải kiếp
một đôi bài-mướn phổ nhạc- làm thi nhân
à ra thế
                                 văn nghệ
                                            là rất qúy
nên có người nhẩy ra làm văn nghệ
                                                       bỏ lái xe
họ tưởng thơ văn là quẹo trái, quẹo phải, chạy thẳng
                                                       đứng lại hay quay về
và có cảnh sát chỉ lối
tới hôm nay còn mờ mờ tối
những nỗi buồn nhỏ nhặt
                                            liệu mà quên
(tác giả tự ý bỏ một câu cuối cùng)

SONG HỒ
( trích Những cánh hoa tim, 1961)

Nhà văn độc lập bây giờ (nói chung, ho sống chuyên bằng ngòi bút nuôi thân, tác phẩm không bị chính trị hoặc một thế lực nào áp đặt) không làm sao đủ điều kiện như Ernest Hemingway muốn- thể lực, ý chí nào được huấn luyện để làm quen với mọi thử thách cơm áo, tâm linh- thiếu một trong hai điều đó dễ giết chết khả năng sáng tạo:
”… sự bảo đảm có tiền tài là sự giúp ích cho nhà văn tránh được buồn nản. Và chính sự buồn nản kia làm tiêu mòn khả năng sáng tạo [nhà văn]…”( Ernest Hemingway)
Nhà văn đứng trước khó khăn miếng cơm manh áo, tác phẩm ruột thịt viết xong không phải sẽ bán được ngay – lấy ngắn nuôi dài bằng cách viết báo, và như vậy buộc phải chiều theo thị hiếu đọc giả tờ báo mà anh ta cộng tác. Tờ báo muốn đăng truyện siêu thực ma quái , nhà báo đành cóp nhặt phóng tác truyện Bồ Tùng Linh, Peter Cheney -đọc giả nữ thích đọc chuyện tình lãng mạn thì phỏng theo Đỉnh gió hú /Emily Bronte chăng hạn.
Chính quyền trao giải thưởng văn chương, đa số trao giải cho sách chống mác xít nhiều hơn tác phẩm văn học chất lượng đúng nghĩa. Ban giám khảo mời nhà văn danh tiếng dễ bảo, để anh ta dễ gật đầu tán thành bỏ phiếu tác phẩm nào chính quyền đề nghị đoạt giải.
Mới đây, trong một buổi ra mắt anh em trí thức, văn nghệ sĩ ở Nhà hàng Đồng khánh/ Chợ lớn (tháng 5/1961) , Bộ trưởng Công Dân Vụ phát biểu lấy văn hoá làm gốc, sẵn lòng giúp đỡ nhà văn có tác phẩm hay lại thiếu tiền in vv và vv.. – thì sau đó báo Tân dân tải đăng bài Hội Văn nghệ sĩ Tự do làm sao cho nhà văn khỏi trở thành văn công?của tôi: “….Ông Bộ trưởng còn tha thiết tỏ bầy:
” Chúng tôi có nhà in Quốc gia mà một số anh em phải in tác phẩm bằng rô nê ô, phải sống cuộc đời cơ cực làm văn nghệ”- tôi phải ngẫm sao lới nói rất chí tình , trang trọng giữa bốn trăm con mắt văn nhân, trí thức tối hôm đó? Dĩ nhiên qua những dòng chữ này, tôi chỉ mất công giãi bày ước vọng người làm văn nghệ biết áp dụng đúng vị trí của mình. Tốn công, tốn mực để nói đến cây bút nào đó, hoặc tác phẩm ai đó- soi nội dung không thấy bóng mình, vẫn được mang danh nhà văn có tác phẩm lớn được đặt hàng. Có một lần trên nhật báo Ngôn Luận thì phải, (chủ nhiệm: Nguyễn Thanh Hoàng), tôi được đọc lời phát ngôn của giáo sư Nguyễn Đăng Thục trả lời phỏng vấn nói cách huỵch toẹt:
“…chính phủ cấp phát tiền cho văn sĩ nhiều quá, họ sẽ thành văn công hết, họ chỉ biết ca tụng, biết gò lưng quên hết trách nhiệm…”
Lời một học giả uy tín tuyên bố vậy phải được coi như một giá trị trải nghiệm rất chính xác. Ông từng là chủ nhiệm nguyệt san Văn nghệ Tập san ( 1954/55) do Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái ( nội các Thủ tướng Ngô đình Diệm ) tài trợ . ( 1954-55) , tiếp theo ông được bổ nhiệm làm chủ tịch Hội nghiên cứu Liên lạc Văn hoá Á châu kiêm chủ nhiệm nguyệt san Văn hoá Á châu (1957 trở đi ) do ngân sách Asia Foundation đài thọ. Chẳng lẽ giáo sư thấy Hội Văn Nghệ sĩ Tự do sắp thành lập ( do Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu dự định thực hiện theo ý tưởng Cố vấn chính trị Hà Việt Phương ) được giao cho nhà báo Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc và tự điển gia Đào Đăng Vỹ thành lập, với số tiền tài trợ rất lớn , giáo sư có tà tâm ganh tị chăng ?
Điểm qua công ăn việc làm văn nghệ sĩ hôm nay- già trên năm mươi- trẻ hai, ba mươi không quân nhân thì công chức. Và không cả hai nữa thì nộp bài cho đài truyền thanh cũng được trả cachet. Một khi Hội Văn Nghệ Sĩ Tự do ra mắt, tất nhiên họ sẽ tự nguyện tham gia đông đảo để kiếm thêm lợi lộc, dự hội nghị được trả phí hội họp, được mời tham dự hàng năm các hội văn bút quốc tế. Nên không mấy lo ngại thay cho Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu gặp thất bại. Nhưng điều quan trọng là tổ chức ra sao để có đủ nhà văn đúng nghĩa ( tuy khuynh hướng văn nghệ khác nhau) góp sức xây dựng một nền văn nghệ lành mạnh đúng nghĩa . Sự khác nhau giữa nhà văn muốn đóng góp nhiệt tình ( không là bọn cơ hội) sẽ ít đông hơn nhà văn , nhà báo cơ hội. Muốn tạo được sự đoàn kết thực sự, điều này chỉ một Hà Việt Phương ( cố vấn ý tưởng cho Bộ trưởng) sẽ có phương pháp hữu hiệu điều phối. Đến như phe mác xít kia, đã rất khôn ngoan tập hợp các nhà làm văn học nghệ thuật vào h ội, vưà dễ kiểm soát và sử dụng như một công cụ sai bảo bằng mệnh lệnh– mà Maxime Gorki đã chẳng từng xác quyết: cuộc cách mạng nào thành công , một nửa từ bàn tay các nhà văn nghệ đóng góp sao?
Tôi không biết câu châm ngôn kia Maxime Gorki có đôi chút nịnh bợ, hoặc quá lời khen bọn trí thức cứng đầu khó trị. Và lãnh đạo văn nghệ mác xít đã quân đội hoá văn nghệ sĩ .

Sau 1954 tiếp quản Hà Nội ( hiệp định Genève 1954), văn nghệ sĩ được cởi trói , được phát tem gạo , cấp phòng, nhà ở (tùy theo chức vụ) - và Phan Khôi được cấp nhà đẹp, có cần vụ phục dịch . Tư dinh thống tướng De Latrre de Tassigny trở thành trụ sở Hội Văn nghệ Việt Nam, dinh cao ủy Pháp làm tòa soạn báo Cứu quốc. vv.. Rồi ba năm sau, Nguyễn Bính, Trần Duy, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Đạt, kể cả lãnh tụ văn nghệ Phan Khôi vv.. bị lưu đày – nào khác gì Jan Kott, Brandys, Adam Wazyk.. ở Ba Lan , Hồ Phong /Trung hoa lục địa, Babel , Boris Pasterna /Nga sô không được phép nhận giải Nobel văn chương. Xa hơn, Maiakovsky bắn vào đầu tự tử, Essénine , lính cũ Nga hoàng tham gia cách mạng bị cách mạng soi mói, ngay cả thần tượng Ehrenbourg ấm ức, tự giải thoát ẩn ức sâu lắng qua tiểu thuyết Le Degel ( tạm dịch: Tan băng). Ở Pháp, nước truyền thống dân chủ, tự do , có Hàn Lâm viện, các hội văn nghệ tư nhân đủ ngành, văn chương, âm nhạc, hội họa , báo chí .. các giải thưởng văn chương hàng năm phát cho nhà văn, thơ có tác phẩm xuất sắc… nhưng đến năm 1959 báo Arts ( Nghệ thuật) dấy lên phong trào đòi hủy bỏ viện hàn lâm, vì chẳng lợi ích gì. Giải thưởng văn chương Hàn Lâm viện không thể so sánh với giải văn chương độc lập Goncourt, Renaudot, Fémina vv… Và Jean Cocteau, và Saint John Perse được bầu làm Hoàng tử Thi ca -một J ean Cocteau gật - còn Perse lại lắc .. Nói vậy, không có nghĩa đa số nhà văn có chân trong Hàn Lâm viện là đồ bỏ cả - chẳng hạn nhà văn Henri Troyat được bầu vào viện , sau đó sức sáng tác sút kém hơn xưa, vì quá bám chắc ghế da danh tiếng.
Trở lại Hội Văn Nghệ sĩ Tự do đến nay chỉ ồn ào trong phòng họp thảo luận mà thôi . Chủ nhiệm báo Tân dân Nguyễn Đắc Lộc không nhận làm Chủ tịch Hội Văn Nghệ sĩ Tự do- bởi lẽ hội này thành lập với nhiệm vụ được giao phải thâu tóm được hầu hết nhà văn uy tín (hiện đang trùm chăn) ra gánh vác công việc văn hoá quốc gia. ( Tôi chỉ là một ký giả già, làm sao đủ uy tín đi gặp gỡ và nói chuyện với các nhà văn uy tín, nhất là nhà văn uy tín hiện đang trùm chăn). Nhà văn Mai Lâm-Nguyễn Đắc Lộc tâm sự , anh Nguyễn Đức Quỳnh ( Hà Việt Phương) truyền đạt ý tướng Bộ trưởng Hiếu muốn nhà văn uy tín gia nhập Hội phải làm hết mình , kể cả có anh em phải gánh vác nhiệm vụ làm văn hoá chìm để xây dựng xã hội nhân vị lành mạnh . Ông Lộc đưa ra một thí dụ khác, ngay cả quốc gia độc tài cực quyền như Phát xít- họ cũng thừa hiểu tâm lý cai trị trí thức văn nghệ sĩ ra sao? Không để cho họ đói khát, vì như vậy là điều cực kỳ nguy hiểm- độc tài cỡ lãnh tụ Phát xít ý , ông Musssolini tuyên bố:
”… nhà cầm quyền phải nhìn thấy điều này, phải biết che chở nhà văn, người làm văn chương nghệ thuật được bảo đảm cuộc sốn cho ra sống, tại sao vậy, nhà cấm quyền không thể đẻ ra thiên tài, tạo lập được văn chương nghệ thuật. Nhưng nhà cầm quyền có thể tạo được điều kiện cần và đủ thuận lợi giúp tài năng đó phát triển. Nếu cuộc sống nghèo nàn kéo dài đối với họ từ sự tranh đấu vật lộn mới kiếm được miếng cơm, manh áo; thì họ đã bị tê liệt khả năng sáng tạo từ trí óc. Nói vậy, không có nghĩa phải cấp cho chiếc bàn viết to lớn, rộng rãi ,mỗi bước đi của họ dưới chân sẵn xe hơi mang hiệu Rolls Royce.. –nếu vậy thì sự tai hại nguy ngập đến ngay sau đó, vì nhà văn lúc này chỉ còn hưởng thụ là chính…” ( Musssolini ou la dictature des choses /trong sách Chefs / Henri Massis). .
It lâu sau Bộ trưởng Hiếu được Phủ Tổng thống điều động sang công tác khác - và cái gọi là Hội Văn Nghệ Sĩ Tự do đã chết từ trong trứng nước. ( Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu thay họ- vì trọng nể và hầu việc tôn kính họ Ngô -Đình - xưa tên Paulus Hiếu, từng làm trưởng ty Ngân khố Long xuyên thời Pháp, và đồng dịch gi với Nguyễn Hiến Lê, dịch một truyện của Somersest Maugham. (ký Paulus Hiếu.)
Chẳng phải chỉ một Mussollini phát xít Ý hiểu thấu đaó vai trò văn nghệ sĩ và nhà cấm quyền tương quan ra sao? Ở Sô viết, Lénine ưu đãi Maxime Gorki và có chế độ đối xử đặc biệt, Hitler ( tác giả Mein Kamp) hoặc Musssolini biết cưu mang nhà văn hoặc Somerset Maugham, Ernest Hemingway cảm thông cuộc sống cơ cực nhà văn chưa thành đạt, vì ông tự thương mình qua quãng đời niên thiếu hàn vi lao đao.
Còn ở miền Nam, một nhược tiểu quốc bị chia đôi, nghĩ gì về cách đối xử với giới văn nhân, nghệ sĩ? Cứ thí đồng tiền lẻ thâu từ nguồn viện trợ Hoa Kỳ cho họ, bằng cách mua sách tuyêt truyền, tố cộng , khai thác tận cùng cái lợi cho chính t rị thì vẫn là chuyện nông cạn, kém suy nghĩ. Phải có một chính sách cưu mang văn nghệ sĩ chân tài, đầu tư tác phẩm giá trị văn chương đích thực; muốn làm được vậy, không phải chỉ xây dựng bằng lời tuyên bố suống như Bộ trưởng Công dân vụ Ngô Trọng Hiếu vừa qua, hoặc chỉ thị qua công văn, thông tri mà đạt được kết quả. Có thể miền Nam chưa thật sự có một ý hướng tốt xây dựng một nền văn nghệ lành mạnh ,mà chỉ vơ bèo nhặt tép bọn gia nô, bồi bế xu nịnh làm văn nghệ tuyên truyền, nịnh bợ.
Xưa kia ở nuớc Phú lãng sa , vua Louis thứ XIV ưa chuộng văn chương nghệ thuật ,thì kích nền kịch nghệ phát triển- bắt đầu từ 1862 đặt giải phát thưởng cho
La Comédie francaise 1200 livres/tháng không đặt bất cứ điều kiện nào buộc văn nghệ sĩ đứng về phiá nhà cấm quyền. Rồi thế kỷ XIX, nhà nước cấp phát hưu dưỡng già /tháng cho nữ sĩ Marceline Desbordes Valmore; đến thế kỷ XX nước Pháp gặt hái thành qủa văn chương thật hiển hách so với thế giới, năm châu- nhiều nhà văn nhận giải Nobel văn chương thì điều này không là điềm lạ.
Thời Trung hoa cổ xưa, vua phát thẻ bài cho Lý Bạch ngao du thiên hạ, đi đến đâu là được tiếp đón trọng thị đến đấy. Và ở thế kỷ hai mươi , lãnh tụ Mao trạch Đông từng ra lệnh hạ sát văn nhân thức giả Hồ Phong, vẫn một lần cúi đầu làm lễ khánh thành bia
Trung hoa chi đại thánh trước nhà tưởng niệm văn hào Lỗ Tấn. ( lãnh tụ coi trí thức không bằng cục phân)..
Văn chương và tài trợ, nhà cầm quyền miền Nam cùng nguồn tài trợ khổng lồ của chú Sam tiếp sức văn hoá Việt Nam tiến triển ra sao? Đã từ dăm năm nay, bao nguồn tài trợ ( chính quyền và viện trợ Hoa kỳ) tung ra giúp nhà văn – cải thiện đời sống các nhà văn lăn lóc đói nghèo trong ngõ cụt, só sỉnh , đời sẽ tàn theo vết xe nghèo lăn bánh bủa vây trong ngõ hẹp . Sự thật, có nhà văn chân chính nào được cấp nhà ở, số nhà mặt tiền, xe hơi tránh được lầy lội trời mưa, vũng nước lầy đâu ? Và đã có đứa con tinh thần nào xứng đáng là tác phẩm văn học đúng nghĩa được tài trợ? Có chăng, chỉ bọn văn gia nô, bồi bếp văn chương tuyên truyền viết sách đặt hàng, văn chương khẩu hiệu, t ố cộng, sách phóng tác kiểu Ánh sáng miền Nam / Mai Thảo? -tay trái chìa tay nhận tài trợ, tay phải hý hoáy phóng tác, chỗ nào cũng đầy tiếng hót tiếng ca, ngay cả đầu cầu Bông cũng có con chim tự do cất tiếng lanh lảnh giỏ vào buổi sớm mai hồng!.
Đối lại, rất nhiều văn nghệ sĩ cởi trần sống trong ngõ hẹp, bản thảo viết xong xếp trong rương không tiền in phát hành, và chẳng một ai biết tới?
Khi ông Bộ trưởng nhắc : sẵn
Nhà in Quốc gia, mà một số anh em phải in sách rô nê ô, lại sống đời cơ cực để làm văn nghệ - tuy không chỉ đích danh tôi, (Thế Phong) tác giả đầu tiên chủ biên Đại nam văn hiến xuất bản cục, in sách rô nê ô bắt từ năm 1959 – tác phẩm đầu tiên Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam/ Nhà văn hậu chiến 1950-1956 phát hành vào cuối tháng 11/1959 bán ở Saigon- giá 200 đồng/quyển, khổ sách 21x33 ,Bộ Thông Tin cấp phép – địa chỉ 504 Hồng thập Tự, Saigon 3 ( nhờ địa chỉ Nhà xuất bản Huyền Trân/ Nhật Tiến) ( đa số sách ronéo in không kiểm duyệt , và một số có giấy phép xuất bản) – tôi mới lên tiếng phân trần….
Cũng có kẻ không ưa viết báo phản kích, tôi là tác giả chẳng một nhà xuất bản nào mua bản thảo nên đành in rô nê ô - mà họ không hề biết tôi đã là tác giả 5, 6 tựa sách bán cho các nhà xuất bản in từ 1954 . ( Tình sơn nữ/ Nxb Nhị Hà Saigon 1954- Đợi ngày chiến thắng/Saigon 1955 – Muốn hiểu chính trị / Nxb Thế giới Saigon 1955 – Tổ chức sinh hoạt chính trị Nhật bản/ Nxb Thế Giới 1956 /Làm lại cuộc đời / Saigon 1956 vv…”
ĐƯỜNG BÁ BỔN
trích báo
Tân Dân (Saigon)- chủ nhiệm/Nguyễn Đắc Lộc- số 280, từ 1 đến 7/7/1961
Trong cuốn phê bình văn học Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, Tạ Tỵ phê bình sự nghiệp văn chương Thế Phong .( Lá Bối, Saigon 1974) – và qua Hoa Kỳ định cư , ông cho xuất bản một hồi ký văn nghệ khác , tác giả viết thêm :
”….Thế Phong còn ký dưới nhiều bút hiệu khác nhau như Đinh Bạch Dân, Đường Bá Bổn vv.. Tên thật Thế Phong là Đỗ Mạnh Tường. Tôi cũng không hiểu sao Thế Phong lại có tiền để làm một công việc mà tôi tin có rất ít kết quả. Sách in Ronéo lem nhem, chữ còn chữ mất, lại in lậu nên phải bán giấu diếm chứ không công khai như các loại sách có kiểm duyệt. Thế Phong, nhà văn nghệ cách mạng muốn lành mạnh hoá nếp sống tinh thần qua phương tiện văn chương, nhưng có điều Thế Phong quên, trước khi muốn sửa người, hãy tự sửa mình, nghĩa là phải quay lại nhìn những hình ảnh cũ, thế nào cũng nhận ra một số sai lầm và ân hận … ( Những khuôn mặt văn nghệ đi qua đời tôi… / Thằng Mõ xuất bản . Cali 1990 ).
TẠ TỴ

Trần Trọng Phủ ( tác giả Nghĩ gì? , Trình bày xuất bản, Saigon) viết trên tạp chí Văn Mới ( số 2,Saigon 1962) về phương pháp in sách rô-nê-ô và bình luận nội dung một số tác phẩm do Đại Nam văn hiến in rô-nê-ô :
“…Không Sáng tạo, Bách khoa, nhóm thanh niên rất gần Tô Thùy Yên; qua những tạp chí văn nghệ như Sinh lực, Sống và trong những ngày gần đây, qua loại sách quay rô-nê-ô của Sùng Chính viện do Uyên Thao chủ trương và Đại Nam văn hiến do Thế Phong làm chủ biên đã đòi hỏi sự chú ý của những người yêu Thơ. Một sự đòi hỏi chính đáng. Tủ sách Sùng Chính viện của Uyên Thao giới thiệu Nhị Thu với Mây Hà Nội, Hoàng Nguyên tức Bùi Khải Nguyên với Thiết tha, Đào Minh Lượng với Vô cùng và Thế Phong với Sai biệt… thì ngưng hoạt động. Thế Phong vốn dùng phương tiện ronéotypé này từ trước, nay lại tiếp tay với Uyên Thao trong loại sách Sùng Chính viện khổ nhỏ hơn trước, giá cũng rẻ hơn những tác phẩm trước do Đại Nam văn hiến cho ra đời- Thế Phong giới thiệu chính mình qua Vương miện Mai A và giới thiệu Cao Mỵ Nhân qua Thơ Mỵ…
Những tập thơ: Mây Hà Nội, Thiết tha và Vô cùng hiện nay rất khó kiếm. Bạn đọc có hể có một ý niệm sâu rộng về Mây Hà Nội và Vô cùng qua nhận định của Thế Phong-Đường Bá Bổn/ Mười hai nhà thơ mới nhất hôm nay:
”… Mây Hà Nội gồm những bài thơ lục bát, năm chữ, thơ mới, Tuy có mang đề tài bất khuất với xây dựng cuộc sống mới cách mạng , nhưng kỹ thuật quá hiền lành, hình ảnh, âm thanh, từ ngữ tròn trịa kiểu thơ tiền chiến. Vô cùng của Đào Minh Lượng hùng hồn hơn, xác định vị trí một người trí thức trẻ tuổi mang trong mình hoài bão cũng như nỗi thống khổ của cuộc sống hiện tại . Tâm trạng Đào Minh Lượng dẫn ông tới tư tưởng siêu hình rất dễ dàng, kỹ thuật đặc sệt lối viết thơ Jacques Prévert. Còn ý tứ thơ cũng chưa vô cùng đủ. Dầu thế, Vô cùng là một trong những tập thơ đang được tìm đọc nhất hôm nay.
Còn ông Hoàng Nguyên –Bùi Khải Nguyên với tập Thiết tha đã cho người đọc thấy rõ tâm hồn tha thiết tác giả đối với cuộc sống ly tưởng, tình yêu và xã hội. Từ những bài đầu tha thiết như Tóc mun, ông đã đưa người đọc vào một thế giới của nổi loạn. Màu sắc xã hội rõ rệt nhất trong nhà thơ này là thi tập Thiết tha. Tuy vậy, ở một vài bài Bùi Khải Nguyên quá lộ liễu, khiến người đọc có cảm nghĩ là ông tuyên ngôn thơ nhiều quá. Những bài thơ ghi lại kinh nghiệm đớn đau, uất hận cũng là cách giãi bày như bài Ẩn ức.. có sức chiêu dụ tột độ..” . Đến Thế Phong, một tiểu thuyết gia cách mạng lãng mạn của Hà Nội 1948-1954, một cây bút bình luận dưới bút hiệu Đường Bá Bổn, một người hoạt động vô cùng tưởng như anh hùng không biết thấm mệt trong mấy năm gần đây ở Saigon, còn là một nhà thơ. Thơ và Sách của ông từ giai đoạn ông viết LƯỢC SỬ VĂN NGHỆ VIỆT NAM tới nay đều được quay ronéo. Việc quay ronéo này không có gì lạ ở ngoại quốc, như Mỹ chẳng hạn. thi sĩ kiêm phê bình gia Yvor Winters quay tờ báo The Gyrocope bằng ronéo. Từ đó việc quay tác phẩm bằng ronéo chỉ thấy ở Thế Phong-Đường Bá Bổn là tha thiết hơn cả. In với giá bán 100 đồng, 200 đồng, một tác phẩm quảng cáo không công cho những hãng kính thuốc!Tới nay ông nghiên cứu quay những tập ronéo với những mẫu bìa hấp dẫn hơn, và giá rẻ hơn, thì kết quả có phần khả quan hơn trước. Chúng tôi có được một người bạn của Thế Phong tiết lộ: ít lâu nay con số các thi nhân mới tìm tới Thế Phong cậy in tác phẩm ngày càng đông. Thế Phong đã cho quay ba tập thơ tất cả: Nếu Anh Có Em Là Vợ…, Sai biệt, Vương miện Mai A, tập thơ Nếu anh có em là vợ… màu sắc tranh đấu cách mạng, ghi đậm thời gian tha thiết nhất của Thế Phong đới với cách mạng, với những hoài bão xây dựng lại cuộc đời. Và cuộc đời nhược tiểu được sắp xếp lại, theo nhà thơ thì : … Nhân loại ấy anh có em là vợ / con nhà cách mạng chính trị gia / Và khi ấy hai ta / anh và em / chúng ta chẩy hội / Chúng ta ra biển cả / chúng ta lên rừng khơi / chúng ta khắc thơ lên đá / em mỉm cười nhìn nhân loại đại đồng…
Giai đoạn 1959 này đặc ảnh hưởng Trần Dần, Phùng Quán. Chúng tôi bỏ qua thi phẩm Sai biệt ( chúng tôi mới có dịp lướt qua nên chứ đủ thâu nhận một thi phẩm hiện nay không thể kiếm được ) . Vương miện Mai A là thi phẩm thứ ba của Thế Phong không phải là lối thơ của Sáng tạo, nó chẳng khác về sự tước bỏ niêm luật nhưng khác ở chỗ ý tứ. Gay gắt hơn, thấm thía hơn, tha thiết và đậm tin tưởng ở tương lai, ở cuộc đời hơn. Thế Phong vẫn tự hào là cách mạng đến xương tủy. Trong thời gian giao tiếp với một lãnh tụ văn nghệ ở đây, Thế Phong mang thêm trong thơ ý tưởng đập phá với cái lối coi con người như phưong tiện. Mối tình của Thế Phong với một nữ sĩ hiện nay đã xuất ngoại cũng khiến ông viết được mấy bài cảm động. Hãy tìm đọc Dạy dỗ trong Vưong miện Mai A để thấy cái khí phách và nhân bản tính ở một cá nhân đầy rẫy điều tiếng như Thế Phong-Đường Bá Bổn. Đừng đòi thơ ở Thế Phong. Hãy coi ông làm cách mạng. Nhà thơ được Thế Phong giới thiệu trong Loại sách Đại Nam văn hiến là cô Cao Mỵ Nhân. Thực ra tập Thơ Mỵ này, Uyên Thao đã định in ở Sùng Chính viện. Nay Thế Phong lựa lọc những bài thơ ông cho là hay nhất của cô Cao Mỵ Nhân để trình bày với độc giả. Thơ Mỵ in rõ những nét đời sống của cô. Những bài lục bát của cô mạnh dạn như thơ của nam giới, cô còn viết những bài thơ kiểu tiền chiến nói về cây cỏ, đất nuớc, tình yêu. Cây cỏ, đất nuớc.. được nhìn qua com mắt một hướng đạo viên. Tình yêu thì nhỏ nhẹ, tha thiết, nhưng đôi lúc len vào một thoáng hoài nghi và lắm khi lại xen cả những ý tình bạo dạn, liều lĩnh. Đôi khi thơ cô có điệu già nua, vay mượn. Tưởng thế thôi, chứ đọc tiếp ta vẫnlại phải nhìn nhận rằng những nét già nua chỉ là thoáng bắt và diễn tả lý thú hơn cá tính độc lập trong cuộc sống của Cao Mỵ Nhân. Tóm lại, Thơ Mỵ giản dị, đáng yêu..”. (trích trọn bài).

(Trần Trọng Phủ là bút hiệu chung của Thế Nguyên và Diễm Châu viết trên tạp chí Trình bày, Đất Nước, vv… Khi tác phẩm Nghĩ gì? do NXb Trình bày xuất bản, chính Thế Nguyên ký tên trên sách đề tặng tôi. Và riêng bài viết này, tôi tin chắc đó là bút pháp tác giả Diễm Châu hơn là Thế Nguyên.- TP ghi chú )

Năm 1962, tôi cho xuất bản tập thơ Cho thuê bản thân, in ronéo- phổ biến hẹp vẫn bán ở ngoài phố, duy nhất ở tiệm sách báo Cô Nguyệt nhận bán ( ngã tư Lê Lợi &Công Lý Saigon 1 ) có một cuốn bán rất chạy, đó là cuốn Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh , nhà báo Phan Nghị viết điểm sách trên báo Mới ngày 18/3/1963:
”…Cuốn Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh chỉ là một bản thảo in rô-nê-ô như tất cả nhưng cuốn từ trước tới nay do Thế Phong tự xuất bản: dạy học được đồng nào bỏ ra in sách hết. Đọc NDVDNĐQ, ngưòi ta có cái khoái là biết được rất nhiều cái sự bí mật về nhóm Hàn Thuyên và tên mật thám Cút-Xô, về ông Nguyễn Đức Quỳnh, người khác mệnh danh là tay phù thủy văn nghệ và nhiều thứ vv… khác , nó là mối tương quan giữa ông Quỳnh và các tay tổ văn nghệ khác ở Saigon. Cuốn NDVDNĐQ chỉ in có 100 số. Thiên hạ thi nhau đọc và mượn nhau loạn cả lên….”
Trở lại với Cho thuê bản thân, xin trích toàn bài điểm sách của Nguiễn Ngu Í ( tác giả Sống& Viết ):
“ CHO THUÊ BẢN THÂN – Thế Phong-Đại Nam văn-hiến xuất bản, Saigon 1962- 28 trang in Rô-nê-ô-khổ 21x 26 – Giá 50 đồng.
Hai mươi tám bài thơ, nhưng mà đọc từ bài đầu đến bài cuối, hai mươi tờ thơ in rô-nê-ô này chiếm thì giờ người đọc bằng cả trăm bài thơ in ty-pô. Ấy là với tập thơ này,
” kĩ thuật”
Đánh máy và quay rô-nê-ô của tác giả, kiêm giám đốc; kiêm người chạy giấy của Đại Nam văn hiến xuất bản cục đã tiến bộ nhiều lắm rồi.
Nhưng có ai chê chi nhà xuất bản, có ai trách chi tác giả, khi mà lòng say mê Nghệ Thuật và ý chí trình diện những đứa con tinh thần của chính mình, của các bạn thân mình nó thiết tha đến nỗi không nề lỗ lã, chẳng ngại chê cười, cứ hàng năm, lại có vài tập hoặc thơ, hoặc truyện, hoặc khảo luận ra đời với phương tiện thủ công, với cái bề ngoài
bà con nghèo, và cứ thế, đều đặn đã mấy năm nay.
Và nay, trong tập thơ mới nhất của Thế Phong, chúng ta thây càng rõ rệt dấu vết của cuộc đời lạ lùng, chật vật cùng những ý tưởng
không-giống-người của tác gỉa, thì âu đó cũng là điều quá dĩ nhiên.
Và những ai thích thơ Đuờng luật, từng mê thể lục bát…, cho rằng thơ phải du dương ,phải dễ hiểu thì xin đừng tìm đến Thế- Phong. Vì chắc chắn rằng các bạn ấy sẽ
bỏ cuộc sau ba bài!
Xin chớ-tưởng rằng đây là văn xuôi, tuy trong
Cho Thuê Bản Thân cũng có đôi bài không có lấy một vần, hoặc rõ ràng, hẳn là văn xuôi đi mất, như bài Chàng ơi! Chàng không quên em.
Nhưng thơ của Thế Phong là một thứ ngựa rừng, đã không chịu mang yên, ngậm vàm, mà lại thây kệ những con đường mòn có sẵn.
Mời các bạn hãy đọc qua một bài thơ mà tác giả chọn làm tên cho toàn tập:

Ngày hôm nay sao dài dằng dặc tám tiếng đồng hồ làm quần quật
chưa đủ kiếm cơm
vì anh tin công việc làm còn phải mạng ”đăng ten”
đôi giầy da Thụy sĩ vẫn cần xi đánh bóng
thiếu tiền mua tặng em chiếc áo bông màu
một con búp bê quà tặng sinh nhật con gái đầu lòng
mà đêm qua em không nói… anh hiểu nó tủi thân khóc miết…

Bản thân nhà thơ, buồn, cực, chẳng ra gì, gần như bất lực, thì Thế Phong có cho ai thuê đi , ta cũng chẳng lạ; nhưng mà còn Nguyễn Du, vì sao Thế Phong lại cho thuê đi nốt vị thi hào khả kính dân Việt?

Tôi hy vọng học trò không bằng lòng lời tôi khen giảng
áo cổ cồn thôi vòng cổ, tôi đấm tôi trong gương soi
cho thuê Nguyễn Du, sự cần thiết không lấy bồi thường

Thì ra tác giả đem Nguyễn Du ra giảng giải cho học trò, và thấy rằng Nguyễn Du không xứng đáng:

tôi khinh tôi ra mặt chót khen tràn cổ nhân
tôi phỉ nhổ tôi thực sự vì phê bình kiều danh tiếng
trong văn học sử tôi sổ toẹt những tên thi hào vỏ
chỉ đại diện cho một góc cạnh nhìn đời nho nhỏ…

( Cho Thuê Nguyễn Du)

Thơ Thế Phong thiếu nhạc, thiếu cả tiết điệu, do đó khổ đọc là điều ta phải chịu khi muốn làm quen với thơ Thế Phong. Nhưng độ sống lắm chiều của tác giả, những ý tưởng ngược đời của người thơ cũng phản ảnh được cái gì của cái thời hỗn tạp hậu chiến.
Trắng t rợn, sỗ sàng, tàn nhẫn, ta đều có thấy đó đây trong thơ Thế Phong; nhưng cái chân thành, không bao giờ vắng mặt. Âu đó cũng là một điều đang kể cho người tự cho mình là kẻ bị” lưu đày”.

Tôi mang sự lưu đày tù ngục giam trong đôi ngươi
ra đường mình là kẻ xa lạ mọi người
khi bản án chung thân tự tay mình ký nhận
khi chán chường không thể bộc lộ cho đời….

Một nhân vật tự lưu đày của J. Paul Sartre (Frank trong Les Séquestrés d’Altona) khi ngồi trong phòng kín thường lên tiếng trần tình trước một bày cua. Nhân vật đó tự dối mình, dối người, dối cả bày cua là những sinh vật duy nhất chịu nghe những lời lảm nhảm. Thế Phongcũng tự cho mình là người tự lưu đày. E sợ người đồng thời không hiểu nổi mình, anh xoay lưng lại cuộc đời ghi lấy thi thần để mà giãi bày những từ khước, những chối cãi, những phủ nhận, những mộng ảo…
Kể ra làm thi thần của kẻ tự lưu đày cũng là điều khổ hạnh lắm thay !...”(trích trọn bài)

NGUIỄN NGU Í
( trích báo
Tin sách / chủ nhiệm: Nguyễn Ngọc Linh / số tháng 10 / 1962)

Tác giả Thơ điên, truyện Khi người chết trở về, sách biên khảo Sống & Viết - Nguiễn Ngu Í lại muốn được phỏng vấn thêm một lần nữa - hình như tôi chối từ, vì thật sự không thể trả lời vì đã không còn ý định tiếp tục viết tiếp Có một nền văn nghệ Việt Nam tương lai ?
Thiện ý chót loan tin vội vã tới bè bạn bè, báo chí - quả thật đây là một điều không tưởng !
Cúi đầu xin lỗi bạn văn, bạn thù , bạn đọc thân mến ./.


Xóm đạo Tân Sa Châu- Saigon , đầu tháng hai 1962.
Đọc lại có sửa chữa, bổ sung













Newvietart chân thành cáo lỗi tác giả và độc giả nếu có những lỗi in sai trong bài



© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 26.04.2009.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com