HIỆN TÌNH VĂN NGHỆ MIỀN NAM:
1957-1961













LỜI TÁC GỈA.

Hiện tình văn nghệ miền Nam: 1957-1961- ThếPhong (34 trang khổ A4 in 50 ấn bản ronéotypé- Nxb Đại Nam văn hiến,Sài Gòn 1962), tác phẩm nhận định văn học riêng rẽ, không phụ thuộc bộ Lược sử văn nghệ Việt Nam: 1900-1956.
Tuy vậy, tập sách nhận định này vẫn có thể coi như phụ lục, bổ sung cho bộ sách phê bình văn học- làm sáng tỏ thêm tiến trình văn học miền Nam từ 1957 đến 1961. Sở dĩ tìm lại được tập sách nhỏ bé này- giáo sư Nguyễn Văn Trung ở Montréal copy một bản vào năm 2004, và nhờ Trần Thị Bông Giấy ở San José chuyển lại tác giả. Xin có đôi lời tri ân giáo sư Trung và nhà văn Trần Thị Bông Giấy.
Trước khi cho đăng tải trên web: newvietart.com, người viết đọc lại, có sửa chữa.

THẾ PHONG .

Chương 1.

NHÓM ĐẠI HỌC, VĂN HOÁ Á CHÂU, VĂN HÓA VỤ, SÁNG TẠO, PEN CLUB VIỆT NAM.


Tiết 4


NHÓM SÁNG TẠO.

Điểm qua tạp chí có máu mặt ở miền Nam ,xuất hiện từ khoảng thời gian 1956 trở về đây , tạp chí Bách khoa, Sáng Tạo, Sinh Lực vv.. thì nguyệt san Sáng Tạo khởi sắc hơn cả.
Chẳng hạn, tạp chí Bách Khoa không nhà văn nòng cốt, đăng bài trả tiền, liên kết một số cây viết góp bài thường trực, hẳn không thể coi là tạp chí văn nghệ đúng nghĩa được.
Ấy chưa kể chuyên viên hối đoái được đảng Cần Lao Nhân Vị tin cậy giao làm chủ nhiệm chẳng biết gì văn chương, báo chí? Một số người làm nghệ thuật đếm thừa đốt tay, còn lại kiêm nghề , làm văn giải thoát thiếu thốn tinh thần , thêm danh tiếng làm điều may mắn.
Từ một công chức nhàng nhàng đến cán bộ cao cấp khởi sự đầu bắt đầu bằng bài thơ nho nhỏ , truyện ngăn - ngắn - hoặc cạy cục ra cuốn sách trình làng, như đã mang vào cốt cách văn chương , một tác phong có văn hoá. Và quả thực là tài năng thực sự góp sức vun trồng tương lai văn nghệ việt nam - lời nói dông dài này sẽ không ảnh hưởng mặt nạ che ngoài của quí vị . Theo duy danh định nghĩa, bách khoa là trăm nghề- báo Bách Khoa giao cho Lê Ngộ Châu, anh chàng không có bút lực văn chương, chưa có một bài báo nào ký tên anh ta , vậy tạp chí kia không thể là tạp chí văn chương, nghệ thuật đúng nghĩa được!
Vậy chỉ còn Sáng Tạo -hậu thân Lửa Việt , cơ quan của một tốp sinh viên miền bắc di cư thành lập năm 1954 –Doãn Quốc Sỹ trưởng nhóm. Tháng 8 năm 1955, hoạ sỉ Duy Thanh theo chuyến tàu vét vào Nam cùng đồng môn Ngọc Dũng (lò hoạ Nguyễn Tiến Chung Hà Nội) tổ chức triễn lãm tranh ở Alliance Francaise . Khách xem tranh có tên William Tucker, giám đốc USIS tiếp xúc Duy Thanh , gợi ý muốn bỏ tiền in , cung cấp giấy cho nhóm họa sĩ di cư làm báo. Vậy hoạ sĩ có bằng lỏng không?, W. Tucker dò hỏi.
Giai đoạn này, các văn nghệ sĩ di cư được Hoa Kỳ tài trợ, hoặc thông qua chính phủ trợ cấp ra báo – sau khi Mỹ hất cẳng Pháp chiếm ngôi vị độc tôn. Năm 1954, Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái trợ cấp tài chính và cho phép xuất bản nguyệt san Văn nghệ tập san giao cho bạn cũ- giaó sư Nguyễn Đăng Thục làm chủ nhiệm, Trần Đình Khải ( tác giả Giòng nước ngược, Hà Nội 1944) chủ bút , Huy Sơn thư ký toà soạn ,cùng một số trí thức, văn nghệ sĩ di cư cộng tác viên.
Toà soạn đặt tại Câu lạc bộ Văn nghệ ,75 Phan Đình Phúng. (Saigon 1).
Phóng viên trẻ Nguyễn Hoàng Thanh Minh ( Phạm Côn Sơn sau này) được cử đi phỏng vấn nhà văn lão thành miền Nam Hồ Biểu Chánh, tác giả một gia tài văn chương đồ sộ hàng trăm tựa sách.
Bài phỏng vấn đăng lên, đọc giả khám phá một giai thoại kỳ thú, nhà văn Hồ Biểu Chánh còn làm thơ, tác giả một bài thơ duy nhất thời khởi nghiệp, trước cả trăm tác phẩm văn xuôi .
Rồi một hiệp hội văn hoá Mỹ khác gặp Vũ Khắc Khoan ( đổng lý văn phòng Bộ trưởng Thông tin Bùi kiến Tín – tiền nhiệm Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái ) hứa cung cấp tiền bạc, giấy báo xuất bản một tờ báo lớn tại miền Nam.
Và nhật báo Tự Do hình thành giao cho một nhóm văn nghệ sĩ di cư; thời kỳ đấu Tam Lang chủ bút, ban biên tập: Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Đinh Hùng, Mặc Thu ( quản lý) ,vv… Ít lâu sau thay chủ nhiệm, ban biên tập mới thích nghi vai trò làm chiến sĩ cầm bút của tiền đồn chống cộng sản, và một số nhà báo đầu cơ chính trị sẵn đất dụng võ có đất thao túng : Phạm Việt Tuyền, Mặc Thu, Như Phong, Phạm Xuân Ninh, Kiều Văn Lân ( quản lý) vv…
Trở lại vụ W. Tucker- Duy Thanh giới thiệu Mai Thảo, nhà văn di cư ,lập trường chống cộng vững chắc ( anh ruột từng là ,tỉnh trưởng ở ngoài bắc ) đứng mũi chịu sào – vây quanh là nhà văn tiền chiên di cư , nhà văn trẻ , luật sư, trí thức, giáo sư cộng tác –tạp chí Sáng tạo -tiếng nói hàng đầu miển Nam tự do. Tờ báo ra mắt tháng mười năm 1956. Với kẻ tài trợ xuất bản báo- đầu tiên đánh giá nhân thân, lập trường chính trị kẻ nhận tiền có thực thi hiệu quả lập trường chống mác xít , thì báo phát hành rộng rãivà công chúng đón nhận. Hẳn William Tucker hài lòng nhìn thấy anh em trí thức, sinh viên di cư, nhà văn trẻ, nhà văn tiền chiến đóng góp bài vở ,số báo ra mắt đầu tiên gây ấn tượng tốt. Chủ nhiệm Mai Thảo viết bài phông : Saigon xứng đáng là thủ đô Việt Nam tiền đồn văn hoá tự do, Vũ truyện ngắn Ba người bạn của Vũ Khắc Khoan thơ Thanh Tâm Tuyền , Quách Thoại, Nguyên Sa , Tô Thuỳ Yên , truyện ngắn luận đề Doãn Quốc Sỹ, xã luận dành cho luật sư tập sự Trần Thanh Hiệp án ngữ .
Vai trò Trần Thanh Hiệp viết lách nhì nhằng , chẳng ngoài mục đích gây thanh thế sự nghiệp chính trị cá nhân hơn tư thế làm nhà văn hoá có thực lực- bắt chước vai trò Đinh Gia Trinh (nhóm Xuân Thu nhã tập) bình thơ Nguyễn Xuân Sanh ,để chứng tỏ ta đây cũng biết làm thơ, nên Trần Thanh Hiệp sáng tác bài thơ đôi ba câu: Cưả sổ/ Cửa sổ/ Cửa sổ ../ thơ TTHiệp – nào có gì khác hơn bài thơ trích đoạn Louis Aragon: Persienne/Persienne/Persienne / Persienne!)
Trần Thanh Hiệp hô hào phủ nhận văn chương tiền chiến (Tự lực văn đoàn), xác quyết bình diện văn nghệ miền Nam không quá khứ (sic) . Kiểu viết bút chiến văn chương hệt lời tuyên bố chính khách, chẳng đầu đuôi, không dẫn chứng –công kích, tranh luận kiểu dương đông, kích tây- không nêu danh tính thì còn ai biết nói về ai , và ai biết ai trả lời.
Rồi sau đó, các nhà văn nhóm Sáng tạo họp bàn tròn đề cập giá trị văn chương tiền chiến còn giá trị ở thời hậu chiến không ? Đúng là không còn giá trị hậu chiến nữa, kể cả Truyện Kiều/Nguyễn Du không thể kéo dài giá trị muôn đời– nếu vậy, chỉ cần một Truyện Kiều đại diện xuyên suốt dòng lịch sử Việt nam sao? Đặt vấn đề phủ nhận văn chương tiền chiến ở thời hậu chiến là đúng, nhưng Sáng tạo thất bại vì không đủ khả năng phân tích, đánh giá thuyết phục đọc giả đồng tình.
Tiếp theo, Thanh Tâm Tuyền ( sinh 1936 ở Vinh , trưởng thành ờ miền Bắc) trước 1954 khởi sự đôi ba bài thơ đăng trên báo Nói thật – sau 1954 di cư vào Nam, ghé nhóm sinh viên di cư Doãn Quốc Sỹ ra tờ Lửa việt. Năm 1956, nhập Sáng tạo, thơ ban chủ biên được đăng tải đều đặn, tự khẳng định được , sau tập hợp xuất bản thi tập Tôi không còn cô độc ( Saigon 1956) .
“… Thơ tự do của ông không là thơ tự do Nguyễn Đình Thi, gần hơn Nguyễn Quốc Trinh, gần hơn nữa , các nhà thơ trong nhóm như Quách Thoại, Nguyên Sa, hoặc nhà thơ độc lập Phan Lạc Tuyên… Thơ Thanh Tâm Tuyền giống thơ tượng trưng Lettrisme, Dadaisme ( Pháp), lối thơ bí hiểm, khô khan, khó truyền cảm hơn cả thơ Xuân thu Nhã tập tiền chiến. Thơ ông mang sự khắc khoải, lo âu, bi thiết, chịu ảnh hưởng nặng triết thuyết Kierkegaard . Ngoài những bài thơ khó hiểu, bí hiểm, có một ít bài truyền cảm, đặc sắc, tuy không có âm điệu riêng, nội dung cô đọng. Cũng là điều lạ, nhà thơ tụ do phi lý không lý do ấy rất thích điệu slow Đoàn Chuẩn , nhạc sĩ có dòng nhạc quý phái, tươi trẻ, âm điệu quyến rũ lứa thanh xuân. Ông muốn tạo một lối mới, đi quá trớn, không kịp chín trở thành lập dị, lố bịch, thơ không đồng cảm nổi với tác gỉa mà chính tác giả chẳng hiểu sao làm thơ không phải là thơ. Cũng chưa đến nỗi như Nguyễn Xuân Sanh làm thơ bí hiểm, cố tạo ra ý tứ giảng cho đọc giả; mà chính tác giả chưa lĩnh hội được?
Chúng tôi nhớ vào thế kỷ XIX, sau thời k ỳ văn tượng trưng thì môn phái symbolisme xuất hiện- nay lại có Thanh Tâm Tuyền đại diện cho Người Sông Thương ( Nguyễn Sỹ Tế), Trần Thanh Hiệp vv… lại là một thứ Dadaisme việt, qua lối thơ chẳng hiểu, chẳng cảm nổi.
Tỷ dụ trong bài Phục sinh, thơ làm dáng suy tư:

         … .Tôi buồn khóc như buồn ngủ
        Dù tôi đứng trên bờ sông
         Nước đen sâu thao thức
         Tôi hét tên tôi cho nguôi giận
   Thanh Tâm Tuyền
         Đêm ngã xuống khoảng thì thầm tội lỗi
         Em bé quàng khăn đỏ ơi
         Này một chó sói
         Thứ chó sói lang thang…
……….

Gọi tên mình không là mới, xưa trong Gửi hương cho gió ( 1940), Xuân Diệu từng gọi tên, hoặc Huy Cận gọi hoài hoài tên Xuân Diệu trong Lửa thiêng. Song cách gọi tên phải thế nào, sao lại gọi tên- nếu một anh điên ngoài phố thường bỗng dưng gọi tên mình thì chẳng có ý niệm gì? Vậy là cách gọi tên của Thanh Tâm Tuyền chẳng khác kẻ mộng du, không tưởng. Trong bài Tình cờ:

         ………
         Hai người yêu nhau rất tình cờ
         Của lòng tin phù trợ
         Hãy yêu nhau rất tình cờ
         Như mặt trăng may mắn thoát ra khỏi vòm mây
         ….
         Chiếc đầu máy mệt nhọc đứng lại một ga nhỏ…

Thanh Tâm Tuyền như một cậu học trò của thầy Francis Picabia- lại chưa thành khẩn giống thầy - thầy dám nói thật điều bản thân chẳng cảm, chẳng hiểu nổi cái gọi là poésie, làm sao ai khác hiểu, thông cảm được? ( Các anh hiểu thế nào được việc làm của chúng tôi. Có phải vậy không? Vậy thì các bạn thân mến ơi! nào chúng tôi có hiểu chúng tôi bằng các anh đâu / Vous new comprenez pas, n’est ce pas, que nous faisons. Eh bien, chers amis nous le comprenons moins encore- Manifestations du mouvement Dada: Francis Picabia, Marcel Duchamp, Picabia, Dessaignes, Breton, Vaché, Aragon, Spupault, Éluard etc..).
Thanh Tâm Tuyền còn theo đuôi cách nói nhân vật Nathaniel - truyện André Gide ( Thức ăn trần gian/ Les nourritures terrestres) :
. … Nếu một Nathaniel kêu gào bạn hỡi: hãy vút sách ta đi, vứt ra ngoài đi- thì Thanh Tâm Tuyền bắt chước cách vụng dại, ngây ngô- khiến nhớ một Tây Thi đau bụng nhăn mặt thì đẹp, còn mụ nhà quê đất Hồ Nam bắt chước nhăn mặt kiểu Tây Thi bị chồng vác gậy đuổi đánh. Và Thanh Tâm Tuyền tưởng rằng lối viết Gide thật độc đáo , bèn , cóp ý đem đặt ở trang đầu thi tập Tôi không còn cô độc như một nguyên tắc:

“ Ở đây tôi là một hoàng đế đầy đủ quyền uy, Bởi vì người vào trong đất đai của tôi, ngươi hoàn toàn tự do để cai trị tôi có những luật lệ tinh thần mà ngươi phải thần phục nếu ngươi muốn nhập lãnh thổ ngươi hoàn tòan tư do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ…. “

( trích từ Nhà văn hậu chiến 1950-1956 của T.P)

Tác giả làm thơ cách mệnh kiểu đánh võ miệng, mượn búa rìu phưong tây bổ thẳng sọ óc xác chết phương đông. Đối tượng làm cách mệnh của ông là ai, thực ra chính ông cũng không biết, theo đuôi chỉ hô hào cách chung chung, thế thôi. . Hãy ra ngã tư cầm súng bắn hoảng vào đám dân khờ bon chen/ xả bất mãn vô cớ đang đè nén trái tim ta như Paul Éluard vừa sáng tác thơ vừa vẽ chân dung kẻ hung hãn cầm súng. Cứ nhìn cách phủ nhận văn chương tiền chiến nhóm Sáng tạo, thì kẻ thù phải là Khái Hưng, Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Trọng Lang vv.. vả vv..
Tôi đọc xong tập thơ, phản ứng đầu tiên - thương hại bạn cùng lứa chân trắng kháng chiến , chẳng hiểu mô tê cộng sản ( trừ sách vở) , dùng vòi nọc ong non châm trích bất cứ đối tượng nào . Sau thi tập đầu tay, vốn thơ trải nghiệm đời sống, thấm ý nghĩ nhân sinh nhật dụng hơn - sáng tác một loại hình thơ tự do có nội dung đứng trên danh tiếng anh hùng, vĩ nhân ( Napoléon 1er chẳng hạn)- thì điều này nhóm Dada-Surréilsme đã đi trước hàng thế kỷ..
( G. Ribemont Dessaignes viết thế này:” Qu’est ce que c’est beau? Qu’est ce que c’est laid? Qu’est ce que c’est grand, fort, faible? Qu’est ce que, c’est Carpentier,Renan, Foch,? Connais pas. Qu’est ce que c’est moi ? Connais pas, connais connais pas…” /tạm dịch: Vậy cái gì là đẹp? cái quái gì xấu? cái mạnh, cái yếu ? vậy là cái gì đây? có phải là Carpentier, Renan, Foch ? Không biết, không biết và không biết ( thật rồi)..” (trích theo Histoire du Surréalisme/ Mauruce Nadeau/Ed du Seuil/Collection Pierre vivre/Paris 1945.)
Đến chừng tâm lý bị dằn vặt cùng cực , tác giả không lối thoát, gặp ai cũng cho là kẻ thù , bén sáng tác thơ sỉ vả anh hùng, danh nhân, tượng thần chẳng liên hệ gì với bản thân. Sau 1975, Thanh Tâm Tuyền cho xuất bản một tập thơ ở Mỹ , có đô bài bài lục bát hay thật tình cờ.
Cũng chẳng khác hơn Nguyển Xuân Sanh trước và sau 1945, từ Người Xuân chuyển sang lục bát, bài thơ có tựa Làng nghẹt trong rừng đêm rất trong sáng, dể lĩnh hội. Rất đúng bước đầu khởi sự , ngông nghênh khác người, tạo bút pháp kỳ bí, trúc trắc, khó hiểu – loè bịp bản thân (trước) đến đọc giả (sau) . Ernest Hemingway thành danh với viết văn, nghề báo trở lại Paris, nhà báo Les Nouvelles Littéraires thực hiện cuộc phỏng vấn chớp nhoáng vào năm 1948.
Đại để đặt câu hỏi, ông có thấy gì khác buổi đầu làm văn,viết báo so sánh thời kỳ đã có danh? Rất khác, ra vẻ ta đây khác người, kể cả đề tài ,cú pháp văn chương, đọc lên câu cú chẳng ngữ nghĩa gì, tối tăm , đến tác giả đọc lại chẳng hiểu gì tại sao lại viết như vậy, nói gì đến đọc giả. Phóng viên bồi thêm, bây giò văn phong của nhà văn nổi tiếng đang ra sao? Câu cú, ngữ pháp gọn gàng, dễ hiểu sẽ tốt hơn, văn chương giống hệt làm ái tình, cạn rồi cần đổ đầy, đầy rồi văn chưong sẽ đằm thắm, hấp dẫn càng hơn.
Và ngòai đời, Ernest Hemingway đổ đầy tình yêu, dục vọng qua ba, bốn đời vợ . Sáu năm sau cuộc phỏng vấn của ký giả La Nouvelle Littéraire ở Paris, Ernest Hemingway nhận giải Nobel văn chương 1954.
Quan điểm văn chương Mai Thảo kém nhiệt tình so với Thanh Tâm Tuyền. Nhưng anh ta có tài tổ chức điều hành Sáng tạo, kể cả có kỹ thuật moi viện trợ Mỹ . Sau này, Nguyên Sa nhập cuộc, và tôi xếp loại hoạt động trong nhóm Sáng tạo - thì một lần gặp anh ở hiệu sách Xuân Thu vào dịp Giáng sinh 1959 (sau khi Nhà văn hậu chiến 1950-1956xuất bản tháng 11/1959) anh cải chính:
“ …này toa, moa xin cải chính là không đứng trong nhóm Sáng tạo như toa viết đâu nhé ? “.
Một số cộng tác viên nòng cốt bỏ Sáng Tạo- Nguyên Sa không hài lòng cách trả tiến bài thiếu sòng phẳng.
Tô Thùy Yên kêu ca trả lối nhỏ giọt công-tờ gút. Bên cạnh Mai Thảo là Đặng Lê Kim (quản lý tiến bạc đại diện W. Tucker) và chủ biên điều hành ăn bớt tiền bài văn nghệ sĩ, đăng nhiều bài lai cảo không phải trả tiền , nhóm dần dần tan vỡ. ( trừ hoạ sĩ Thái Tuấn và hoạ sĩ Duy Thanh, người môi giới Mai Thảo nhận tài trợ W. Tucker).
Sự vá víu ở giai đoạn hai , nguyệt san Sáng tạo xuất bản đôi ba số , sau hết tài trợ tự đóng cửa.
Nguyễn Đức Quỳnh , lãnh tụ Đàm trường viễn kiến, viết đôi lời châm trích mục đích giáo dục tay em:
“…Ít ra hắn cũng nhận một trăm đô la viện trợ thì hắn chi cho văn nghệ một nửa, đằng này tám mươi đô la chi cho riêng hắn, thì làm sao nhóm không xảy đàn tan nghé…?”

“… Chàng ( Nguyễn Đức Quỳnh) viết trong mục Chúng ta phải làm gỉ? ( báo Dân Việt 1964) gọi đích danh Sáng tạo là bọn hư sinh, lậu thuế văn nghệ .Mai Thảo phản hồi miệng:
“ …Bây giờ thì lãnh tụ văn hóa Nguyển Đức Quỳnh đâm sau lưng anh em rồi! ”
Ở một cuốn sách khác, tôi đề cập sự liên hệ ấy:
“… Tại sao Hà Việt Phương lên án bọn đàn em vượt môn Đàm trường viễn kiến - bọn sinh viên di cư, nhóm nhà văn trẻ từ Lửa Việt, Chuyển hướng, Người Việt - từ nôi văn nghệ kia nuôi dưỡng tâm hồn văn chương, khích động sáng tác, và đau đớn nhìn sản phẩm thiếu tố chất trưởng thành ,thiếu đạo đức- không tiếc lời phê Sáng tạo , thì chẳng oan gì! Chàng sư phụ như mụ mèo già dạy lũ hổ non vùng vẫy, cuối cùng hổ lớn trưởng thành, đủ móng vuốt quay sang vồ mèo già. Và mụ mèo già đã lường trước có ngày này, mèo nhảy phóc lên cành cây nhìn xuống, vừa buồn rầu, hậm hực, tự nhủ nếu dạy hết thế võ, kể cả thế biết trèo, thì bữa nay đã tan xương! Chàng sư phụ nhìn vết loang phản tặc loang rộng, gây họa vô lường, ra lệnh trưởng nam ( Duy Sinh) viết bài lên án- nhưng tài sức hạn hẹp không đủ tầm chống đỡ. Chàng bèn đeo mặt nạ , ( không ký bút danh quen thuộc dưới bài phông) bị lũ hổ non quất ngược thế cờ cho sư phụ hết thời trở nện hèn nhát, nấp trong bụi múa kích, đâm lao , không dám công khai lộ diện. Đòn lên án bọn Sáng tạo lậu thuế chỉ làm văn nghệ được, một khi có tài trợ, nay chính sư phụ đích danh tố cáo, thì bọn đàn em sẽ không còn cơ hội nào nữa . Sư phụ từng là cố vấn một bộ trưởng văn hoá, có thế lực chính trị mạnh - và trong một dịp họp văn nghệ tại nhà sư phụ của lớp văn nghệ trẻ sau, như Dương Nghiễm Mậu, Trần Dạ Từ, Thế Nguyên, Lưong Quân vv…, sư phụ nghiễm nhiên tuyên bố:”… bộ trưởng.,.. chính là tôi cũng chẳng sai! ….”
(trích từ Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh, Đại Nam văn hiến xuất bản, Saigon 1963, 1964)

Một vụ xích mích giữa Trần Thanh Hiệp và Nguyên Sa - thi sỉ Nguyên Sa bỏ nhóm Sáng Tạo- và chỉ ít lâu sau , Sở Nghiên cứu văn hoá xã hội (chánh sở Trần Kim Tuyến ) trợ cấp tài chính thành lập nguyệt san Hiện Đại , Nguyên Sa chủ nhiệm kiêm chủ bút , và thi sĩ Thái Thủy làm quản lý trị sự. Báo xuất bản được mươi số rồi tự đình bản, chủ nhiệm Nguyên Sa không giấu diếm tiết lộ: “…thời thế yêu cầu thì báo ra mắt , Mật vụ hết thời không còn chu cấp thì báo đóng cửa thôi”.
Cùng khoảng thập niên sáu mươi, tạp chí Thế kỷ hai mươi cũng đuợc nhận tài trợ ra báo, giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch làm chủ nhiệm (từng Khoa trrưởng Văn khoa Sài Gòn). Chủ nhiệm tập tọng làm thơ : câu một chữ/ xuống hàng, hai ngắt, ba nối, bốn …xuống hàng .
Chẳng hạn bài ADIOS , câu đầu : Giã từ/ dòng 2 : Adieu / dòng 3 : Sayonara / dòng 4: Adios…. vv.. dài lê thê ,ngắn cụt ngọn, cứ thế mọc tràn lan trên cánh đồng văn chương. Bài trả tính theo trang, tạp chí Văn hoá Á châu trả hai trăm đồng/trang –còn Thế kỷ hai mươi một trăm/trang.
Thơ tự do Trần Hông Châu dài mươi trang, quản lý trị sự ĐoànTường trả mão hai trăm đồng/ bài, như mọi tác giả khác theo ba rêm nhuận bút định sẵn.
Tác giả Trần Hồng Châu xuống phòng tài chính ký nhận hai trăm đồng, về lại văn phòng , bực bội nhấn chuông mời quản nhiệm Đoàn Tường ( Lý Hoàng Phong ) lên văn phòng . Chủ nhiệm hỏi , có biết tác giả Trần Hồng Châu là ai không? Quản nhiệm lắc đầu –giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch dõng dạc tự giới thiệu :
“… tôi giáo sư thạc sĩ , chủ nhiệm Thế kỷ hai mươi , làm thơ ký bút hiệu Trần Hồng Châu, ai cho phép các anh đuợc phép trả nhuận bút đồng giá đối với chủ nhiệm ? Bây gi các anh biết tác giả Trần Hồng Châu rồi, tôi yêu cầu quản nhiệm làm lại sổ chi trả giá đặc biệt xem sao ?



Tiết 5

TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT NAM hay PEN VIỆT CLUB.

Khoảng 1957, 58 gì đó, Việt Pen Club ra đời, nhà văn tiền chiến Nhất Linh đóng vai cố vấn văn chương kiêm hoạt động viên nòng cốt. Vây quanh ông, một số nữ sĩ nhóm Đời nay hậu chiến , đồng chí, đồng bạn, con, cháu, và một số nhà văn, nhà báo viết cho nhật báo Tự Do
Có thể kể phương danh: nữ sĩ Linh Bảo, NguyễnThị Vinh, Nguyễn Hoạt ( Hiếu Chân), Trương Bảo Sơn, Nhật Tiến, Đỗ Đức Thu, Vũ Hoàng Chương, Đái Đức Tuấn ( Mai Nguyệt) , Duy Lam, Phạm Việt Tuyền, linh- mục- giáo- sư Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc vv…, đợt hai nhận thêm một số hội viên mới - nhà báo viết phóng sự Hoàng Hải Thủy, nhà báo Đằng Nhâm ( Đặng văn Nhâm), giáo sư Nguyễn Văn Trung mất chức Khoa trưởng Văn khoa Đại học Huế vào Saigon chẳng hạn, vv…
Tất cả bảy chục hội viên, đếm trên tay đâu khoảng mươi lăm nhà văn, thơ đúng danh nghĩa- ngoài ra vơ bèo nhặt tép đông hội viên chỉ một mục đích gây thanh thế mõi viện trợ Hoa Kỳ. Đầu tiên, Việt Pen Club loan báo chương trình xuất bản rầm rộ, sẽ dịch truyện Nhất Linh sang Anh, Pháp- tác phẩm nổi tiếng Bướm trắng , chính tác giả tự cho là tác phẩm xuất sắc nhất sẽ cho ra mắt đầu tiên. ( sách dịch Anh, Pháp không hề được xuất bản).
Trung tâm Văn bút Việt nam
, tên hội do Phạm Việt Tuyền và Thanh Lãng thay đổi sau khi kế vị nghe kêu thế- Việt kiều ,ngoại kiều - nhìn vào sinh hoạt văn bút Việt nam – dầu có lòng hoặc không ,vẫn nghĩ rằng chẳng lẽ nhà văn tăm tiếng hàng đầu có tên hoặc không đều có mặt đầy đủ?
Một lần , Nguyễn Đức Quỳnh trao đổi chuyện văn chương với tôi, ông nói :
-Anh Nhất Linh về lại Saigon tuyên bố làm văn nghệ tách rời chính trị, thì chẳng cần quảng cáo các nhà văn trẻ xếp hàng sẽ nộp đơn xin gia nhập Hội ào ào.
Nghe xong rồi bỏ, không cần trách cứ chủ soái Tự lực văn đoàn làm gì? Bởi, ông đã bị cắt rốn khỏi thời cuộc tự chôn xoáy vỏ hến tẩm đường ngọt lịm- chẳng hiểu gì sinh hoạt xã hội hiện tại, kể cả hiểu chính ông muốn và làm gì ? Một trung niên già cội tự đặt khỏi vòng xoay thời cuộc, mũ ni che tai - vẫn tuởng bản thân còn sung sức thời trẻ đủ sức đương đầu bất cứ đối thủ nào- và lời ẩn dụ trong phim Limelight chẳng dạy dỗ ông nhận được điều gì tốt đẹp sao ? Phỏng rằng nhầm lẫn cuả ông là thật đi nữa, , ai nỡ trách chủ soái một văn đàn lừng lẫy, tác phẩm đạt mức văn chương bất tử - ( Đôi bạn, Giòng sông Thanh Thủy (ba tập), Chi bộ hai người, Vọng quốc vv…) - hôm nay xuất đầu lộ diện liệu thành tích văn hoá có bị xoá sạch?!
Khi nộp hồ sơ xin phép xuất bản tạp chí Văn hoá ngày nay- Phủ Tổng thống ( tổng thống Ngô Đình Diệm) chỉ thị cho Bộ thông tin chưa được cấp phép xuất bản báo không định kỳ, giai phẩm phải chiụ sự kiểm duyệt trước khi phát hành . ( hình thức giai phẩm). Và giai phẩm Văn hoá Ngày nay được phép ra mắt, Nhất Linh tin độc giả sẽ chào đón nồng nhiệt như thời Phong hoá, Ngày nay ở thập niên ba mươi?
Tuy vậy, giai phẩm vẫn được đọc giả chú ý , và chủ biên áp dụng mánh khoé nghê báo câu khách - tạp chí ra mắt trình diện hai thiên tài văn chương với tác phẩm đấu tay : văn sĩ Nhật Tiến và nữ sĩ Thu Vân , do Nhất Linh khám phá.
Thực ra , Nhật Tiến đã khởi sự viết văn ở Hà Nội từ 1953 , đồng lứa Song Hồ , Dương Vy Long, Tô Hà Vân ( Nguyễn Đình Toàn sau này) vv…
Sau 1954 di cư vào Nam, Nhật Tiến dạy học ở Rạch Miễu ( Bến Tre) gặp Trương Cam Vĩnh (Tô Hoàng ) đưa truyện ngắn cho Nhất Linh đọc, sau được in ngay trong giai phẩm Văn hoá ngày nay ra mắt số đầu. (Nhật Tiến từng chủ trương Nxb Huyền Trân bắt đầu từ 1959- in tiểu thuyết đầu tay Những người áo trắng ) .
Nhà xuất bản Đời Nay vào năm 1960-1961 in Những vì sao lạc, Thềm hoang (được Giải thưởng văn chương toàn quốc)- đó là tác phẩm tự lực cánh sinh của Nhật Tiến , không cần nương cậy Nhất Linh khám phá phong danh thiên tài?!
Trở lại Nhất Linh thời kỳ 1957, 58 tái xuất giang hồ ở Saigon- thì trước đó tác phẩm Tự lực văn đoàn đã được đưa vào chương trình giáo khoa , từ tiểu , trung đến đại học. Bất cứ tác phẩm nào mang tên Nhất Linh do Đời nay hậu chiến tái bản, nhà phát hành Nam Cường đều trả 25%; các tác giả khác 12.
Với Nhật Tiến lại không được trả 12%, chỉ nhận 8 –và không đươc biết lý do? ( theo tiết lộ tạp chí Văn Mới số 5, tháng 5/1962 xuất bản ở Saigon- Thế Nguyên chủ biên) .
Thử giả thiết số 4% , Đời nay hậu chiến chiết ra với lý do gây qũy nâng đỡ mầm xanh văn nghệ thì còn hợp lý- và không vậy - hẳn tác gỉa thiên tài được đàn anh phát hiện sẽ không thể không biết bị nẫng tay trên từ đàn anh Nhất Linh ?
Đọc mẩu tin văn nghệ trên Văn Mới, tôi suy nghĩ quan niệm văn chương Hippolyte Taine- xét tác phẩm văn chương phải dựa lưng thân thế tác giả cùng bối cảnh xã hội tác giả sống. Nhiều tác giả khác đã chê bai, hoặc bênh vực quan niệm Taine đề xướng. Nói đúng thì vẩn chính xác, quan niệm nhìn bằng mắt thật nhà phê bình; dựa lưng tác phẩm đời sống cá nhân tác giả xấu và tốt , cân nhắc, rồi rút ra kết luận. Theo cách này, hoàng tử văn chương Anh quốc Somerset Maugham ( bị đeo tiếng đồng tính) áp dụng cách nhìn tác giả lớn: Ivan Tourgueniev, Léon Tolstoi, Cervantès vv…
Và một khi tác giả sống, hoặc đã quan sát, hoặc đưa chính bản thân đặt trong bối cảnh xã hội (bất phân xấu, tốt) đánh giá tác phẩm . Không hiểu S. Maugham có áp dụng tình huống này với hầu hết tác phẩm văn chương đã điều nghiên không? Riêng tôi, vẫn tin rằng đã bắt đầu như thế với đa số tác phẩm được đánh giá. Bản thân tác giả từng trải nghiệm cuộc sống lao đao, khổ nhục lúc trẻ, thành danh tác giả dùng sản nghiệp tặng quỹ thế hệ nhà văn trẻ Anh quốc. Và nhất định không thể coi hành động vô vị lợi kia cầu danh- đó là thương xót bản thân tác giả lao đao kiếm đồng tiền xiết máu thời trẻ tuổi.
Tạp chí Tin Sách ( bộ mới, số 2,tháng 10/11 và 12/1961) đăng bài một nhà văn học nói chuyện với thanh niên về lý tưởng cuộc sống, luận bàn thành công, thất bại trên đường đời. Ông ta trưng dẫn Somersest Maugham như tấm gương soi, làm công đôi khi không cần nhận lương , biết chịu cực nhọc, hy sinh cho nghiệp đeo đuổi –thành công sẽ được đền bù, toại nguyện giầu sang, danh vọng đưa đến sau này.
Trên nguyên tắc, ông ta nói rất đúng, và chỉ đúng với cường quốc – còn nhược tiểu thì không thể. Miền bắc áp đặt văn nghệ chỉ huy,không thể có một nền văn nghệ lành mạnh phát triển- sau này giáo sư P.L , viện trưởng Viện văn học bị mất chức, vì đã viết báo xác nhận miền Bắc không thể có một nền thi ca tự do – mà chỉ miền Nam có, bắt đầu từ nhóm Sáng tạo.
Một nửa nước từ vĩ tuyến 17 trở vào, miền Nam vẫn chưa được như Tây Đức , anh đã thấy một nhà văn nào khởi nghiệp nhục nhã, khổ hạnh, thành danh được sung sướng trên hai mặt tiền tài , danh vọng đâu? ( không bàn tới bọn gia nô văn chương tôi đòi ) .
Nhìn sự nghiệp văn chương Nhất Linh, ông đã thành danh thời tiền chiến- cũng không chắc đã sống sung túc chỉ bằng ngòi bút chuyên nghiệp?! Nếu một Nhất Linh tương tự mang quốc tịch Đức (Tây Đức), hẳn ông ta sẽ không cần chiết 4% , nếu có ,đích thực cái khó bó cái khôn. Từ sự túng quẫn eo hẹp - buộc lâm vào thế quân tử lúc cùng thêm vận mạt.. Cần phóng tầm mắt xa hơn nghĩ tới cái thiên lương (Tản Đà) sẽ không xảy ra với chủ soái Nhất Linh ở trường hợp này!
Một nhà văn tiền chiến khác, Đỗ Đức Thu. Nói nhỏ với nhau rất chân tình - thời tiền chiến ông đã chưa là nhà văn chuyên nghiệp , làm văn tài tử kiêm nghiệp kiếm chác danh vọng –dư tiền cùng bạn bè chè tầu, thuốc lá, cô đầu cô đít cô đuôi phỉ chí tang bồng, giang hồ vặt. Thời sung sức, tác giả Nhà bên kia, Đứa con, Ba vv… sớm nổi danh , phần lớn nhờ núp bóng Tự lực văn đoàn. Sau 1954 vào Nam , tinh thần giao động , sáng tác bó hẹp - tác giả sống đời công chức sói mòn. Ôi! thật đáng tiếc- một văn tài văn xuôi tiền chiến không còn viết được trong thời hậu chiến!
Mai Nguyệt, bút danh thơ viết báo thời hậu chiến TCHYA - nổi tiếng thời tiền chiến , tác giả truyện đường rừng Thần Hổ - đồng hoá sĩ quan tác động tinh thần - làm việc tại Phòng 5 Tổng tham mưu/Quân đội Quốc gia thời kỳ đầu tiên cùng Đàm Quang Thiện. Sau giải ngũ viết potin ( chuyện hàng ngày trên nhật báo) kiếm sống độ nhật, lao đao vì nghiện hút nên thân tàn ma dại .
Còn Vũ Hoàng Chương, Đông Hồ mải miết in thơ cho kịp thời gian phó hội Văn bút quốc tế . Thi tập Trinh Trắng/ Đông Hồ- nhìn bề ngoài bề thế, nội dung sáo rỗng, chẳng khác thi tập POÈMES/ VU HOANG CHUONG - dưới mắt một nhà văn trẻ, thì:
“…Thi phẩm thứ tám của nhà thơ Vũ Hoàng Chương cùng nằm trong khăn gói nhà thơ Hoàng Trinh ( Phạm Xuân Ninh -TP chú thích) rẽ mây tung gió, vượt không gian sang phó hội trời Âu. Nhìn chữ POÈMES in ngoài bìa sách, tôi ( người viết bài trên Tin Sách số 2 bộ mới /1961) hơi lấy làm mừng. Chỉ hơi mừng, vì giá được trông coi việc ấn loát, tôi sẽ không ngần ngại in chữ đó thật to và đậm nét. Cẩn thận như vậy để ít nhất người ngoài nhìn tranh bìa sẽ không lầm đây là một tập sản dục chỉ nam . ( chuyện đàn bà, con gái nói ra xin quí vị đừng cười. Muôn vàn cảm tạ!).
Trước đây đọc thơ Nhị thập bát tú đăng trên báo Tự Do, tôi cứ lẩm cẩm tự trách mình là một người ngu. Nay đọc bản dịch Pháp văn mới thấy là mình ngu thật ( ngoại trừ trường hợp dịch ở đây có nghĩa là phản) . Nét điêu luyện về từ chương, vẻ cổ kính của văn điệu Tâm tình người đẹp chính là bãi cát lún. Bãi cát lún nào cũng có một vẻ mặt hiền từ và có khi hoa mỹ nữa, nhưng phía dưới thì ma quái khôn nguôi, phản trắc khôn cùng. Tôi nghĩ nhiều tới những vần thơ của Paul Éluard khi đã về già , viết về cái vỏ ốc cô quạnh của trái tim ông và tôi cảm thấy thương hại cho hai thi sĩ già của chúng ta. Đại Ẩn Am của ông Đông Hồ có không là một nơi lưu đày thi tôi còn hiểu được . Nhưng còn 28 vì sao ( Nhị thập bát tú-TP chú thích) của ông Vũ Hoàng Chương , thì dầu có mọc trên một nền trời tối đen như mực, tôi vẫn chỉ thấy chúng không hơn ngọn đèn – một ngọn đèn dầu yếu ớt mông lung.. ..”
Tô Thuỳ Yên ( 1938- ) -một thi sĩ trẻ hơn nhiều, so với hai nhà thơ già cội –ngoảnh mặt không thèm nhìn- điểm mặt Vũ Hoàng Chương chỉ là hình hài co rúm của chiếc bong bóng không thể dùng chứa rượu hay nước lã, vì chất cũ kỹ hoen rỉ của cái bong bóng còn nhoai lên kia, mang theo cả chất rỉ, ố; làm hại rượu hay nước uống vệ sinh (báo Dân Việt) .
Thi sĩ Lionello Fumi (quốc tịch Ý)- tôi chưa hề đọc thơ chàng Casanova này lần nào - kể cả Alberto Moravia , với tôi chỉ đọc một lần rồi bỏ, kể cả tác giả tài danh chiếm giải văn chương Quasimodo nào đó, xem qua cũng bỏ qua luôn. Trở lại Lionello Fumi, người viết tựa thơ và giới thiệu Vũ Hoàng Chương rất trang trọng giữa hội nghị thơ quốc tế ,dầu ngữ nghĩa hay đến mấy , kẻ viết tựa chẳng thể đánh bóng thơ Vũ Hoàng Chuơng hay hơn được! Hình như nhà thơ tài danh quốc tế thực sự ít có mặt trong hội nghị PEN thì phải!
Dầu cay đắng mấy, vẫn nên khích lệ Lionello Fumi đã học đánh vần unpoeta vietnamino- tặng cách luống công tôn vinh sự nghiệp thơ Vũ Hoàng Chương- dầu là lời khen khiêm tốn đi nữa . Cái giọng điệu Fumi cố làm ra vẻ hỉểu dân tộc việt - Vũ Hoàng Chương tiêu biểu- vẫn là giọng nịnh bợ ty tiện. Chúng tôi sẽ bằng lòng hơn ngữ nghĩa Fumi cảm thông tài năng thơ Vũ Hoàng Chương- và đừng cho ông ta như đại diện sáng giá Việt Nam Cộng Hoà phó hội hẳn sẽ công bằng hơn!. Lời khen tặng riêng tư không cần bàn cãi; dù đá quặng cho là vàng khối cũng mặc; nhưng giọng khen Fumi hé mở nhìn vào nền thi ca việt- đại diện Vũ Hoàng Chương thì tệ quá, đây là một điếm nhục không dễ tha thứ!
Còn Đại Ẩn Am Đông Hồ thì sao?, lại đành xin phép trích một đoạn viết khác của người đã viết bài trên Tin sách, từng phê phán Vũ Hoàng Chương:
“…TRINH TRẮNG ra đời sau 26 năm im lặng và chỉ ra đời trong một trường hợp khá đặc biệt. Đặc biệt ngay từ số 26. 26 bài thơ ghi dấu cuộc đời thi sĩ qua những thăng trầm biến đổi của giòng đời. Đặc biệt ngay từ bài đầu Bài thơ nhân loại mà có kẻ độc miệng đã hậm hực cho rằng nếu tác giả kia ứng khẩu đọc bài này tại hội trường Knokke le-Zoute thì thơ sẽ hay hơn, giá trị hơn….”
Và bây giờ là nhà thơ Hoàng Trinh ( thơ trào phúng ký Hà Thượng Nhân - tên thật mới đổi kể từ sau 1954 : Phạm Xuân Ninh -sinh 1918- ) Gọi là thi sĩ từng sáng tác thơ ở Khu Bốn cũng được , ở khía cạnh bộc bạch tâm sự người trẻ thời kháng chiến được làm mới lại vào thời hậu chiến .Thơ trào phúng chọc cười thiên hạ chỉ có giá trị không ngoài hai mươi bốn tiếng đồng hồ trên nhật báo Tự Do. Trước khi được mời dự hội thơ quốc tế , chẳng lẽ tác giả danh tiếng chưa có tác phẩm in , nên vội vã in ronéo một tập thơ mỏng tanh - gọi là có trình làng đem theo phó hội thơ bên trời Âu.
Tiếp đến Nguyễn Hoạt-nhà báo có cuốn sách đầu tay xuất bản từ năm 1940- nay chỉ hành nghề viết báo qua bút hiệu Hiếu Chân. Viết phiếm luận trên báo Tự Do, châm trích thói hư tật xấu xã hội, đời tư ( phản diện) văn nghệ sĩ , chê Nguyễn Đăng ( Mai Thảo) nhà văn khập khiễng, chê thơ Nhất Tuấn bán chạy thật, lại chỉ dành riêng cho Mari sến, (giá trị thấp) đả kích Hà Việt Phưong , lãnh tụ Đàm trường viễn kiến có khối óc nhà bác học cắm cọc văn chương trong ao tù vv… Hiếu Chân là nhà báo có tài, lại chưa đủ tầm vóc một nhà văn tài năng đúng nghĩa.
Còn chủ nhiệm nhật báo Tự Do xuất thân giáo sư trung học, tác giả sách giáo khoa : Nghệ thuật viết văn ,Hà Nội 1952) thi tập Phá Lao Lung ( ký Thanh Tuyền) chỉ là :”... một thi nhân bất đắc chí, làm thơ [thì] thất bại…” ( báo Văn Mới, Saigon tháng 2/1962).
Vậy trông chừng Trung tâm Bút Việt chỉ còn Duy Lam, Linh Bảo, Nguyễn Thị Vinh, Tường Hùng vv.. là sáng giá. ..( cánh Nhất Linh ).
Linh Bảo, tác giả tiểu thuyết Gió bấc, Những cơn mưa mùa đông …, tác giả nữ cứng cựa văn chưong, nhờ vậy đã vực dậy danh tiếng Đời nay ( hậu chiến) của Nhất Linh khởi sắc: “….nếu không có họ , tôi đã nghĩ rắng Nhất Linh đã mù đôi mắt sáng tiền chiến từ lâu …” (báo xuân Thế hệ, Saigon 1962).
Cũng cần nói rõ hơn , giả thiết có giới thiệu tiểu thuyết dịch ra ngoại ngữ, thì không là Bướm trắng / Nhất Linh, mà Gió bấc / Linh Bảo, Truyện năm người thanh niên / Phạm Thái-Nguyễn Ngọc Tân. Còn tiểu thuyết Nguyễn Thị Vinh chỉ là dáng đẹp văn chương, bởi truyện của bà thiếu bản sắc độc đáo , người đọc một lần rồi bỏ cũng không sao!
Đa số cái gọi là tác phẩm văn chương chỉ là khẩu hiệu chính trị hoá tiểu thuyết chống cộng. Suy diễn xa hơn, mọi hoạt động văn chương hội, những tên cai thầu văn nghệ điều phối phục vụ yêu cầu chính trị. Cơ quan công quyền mua bao nhiêu tác phẩm văn chương ( chống cộng) phát không chẳng ai thèm đọc. Nếu André Gide còn sống, chắc ông sẽ thêm một lần nhắc lại : ”…nếu họ viết ít hơn thì tôi sẽ thích viết nhiều hơn…” Sự sa sút thảm hại kia còn làm hạ giá tác phẩm gía trị văn chương đích thực!
C.Virgil Gheorghiu kể chuyện hai anh lính cộng sản lái Mig 15 sang Hoa Kỳ tị nạn chính trị- một anh viết hồi ký trở thành triệu phú ( nội dung chống mác xít) ; còn anh kia tự biết không là nhà văn thì không thể viết sách. Cuộc sống thường ngày thiếu thốn, nghèo khổ, cuối cùng anh ta xin được trở về nước cộng sản. ( La seconde chance, Paris 1952 ). Hai thái độ sống kia chẳng rút ra được một bài học giúp hiểu rõ tâm trạng rất đa chiều của hai phi công đào thoát. Một lợi dụng cơ hội thích nghi sống được, một thì không? Sau đợt di cư 1954 chẳng thiếu gì bọn cầm bút cơ hội biết thích nghi sống được như viên phi công viết hồi ký. Một cán bộ cỡ huyện ủy hồi chánh viết hồi ký khoác lác kinh nghiệm cán bộ cao cấp, tìm mối bán cho chính phủ, chia chác phần trăm , bỏ tuí riêng dăm ba chục vạn đồng/cuốn. Tâm trạng chàng phi công lái Mig 15 , nhân vật truyện Gheorghiu viết hồi ký bán chẳng ai cấm đoán trên đất tự do. Sách anh viết hay làm cảm động đọc giả là thành công, và tài năng xuất chúng đánh bóng sự không thật thật hơn thật lại bán chạy hơn.
Trường hợp này khác hẳn Marek Hlasko tị nạn sang Pháp năm 1956, tác giả một tập truyện ngắn được một nhà xuất bản ở Paris nhận in Sau một thời gian sống ở Paris ,cảm thấy không thể hội nhập, mắc bệnh trầm cảm, tác giả xin trở lại Ba Lan.
Nhà thơ Tuấn Giang ( Hồ Bá Cao, sinh 1924- 197?) ), quê ở Thanh Hoá (tác giả: Hương Lòng( thơ), Nhạc khúc mầu xanh ( thơ), Trên đường đi qua Trung hoa đỏ ( 1953) vv..) , di cư vào Nam hành nghề viết văn, làm báo - quen biết lớn trong Nha Tác động tinh thần – bán được mười ngàn cuốn Người quân nhân Việt nam Cộng hoà phát không cho lính. Người ký duyệt mua là Bộ trưởng trưởng phụ tá Quốc phòng Trần Trung Dung (từng chủ nhiệm nhật báo Thời sự ở Hà Nội 1954) rể gia tộc tổng thống Ngô Đình Diệm.
Trở lại vấn đề gia nhập hội viên - tin rằng có thời cơ làm ăn – đa số ký giả, nhà báo tin đây là bước ngắn nhất được ngồi chung với nhà văn thơ chính danh. Còn hội đoàn được dịp huênh hoang , càng đông hội viên gồm nhiều thành phần trí thức càng dễ mõi viện trợ nhiều hơn. Cả hai lợi dụng làm khổ nhau , và tương lai văn nghệ miền Nam bước vào ngõ cụt.
Và ý niệm xây dựng nền văn nghệ lành mạnh mất hẳn ý nghĩa, toàn tâm hội hướng tới phục vụ chính trị. Đó là sự ấu trĩ tinh thần của hội, nhóm văn nghệ quốc gia ngửa tay nhận viện trợ , không phải in tác phẩm chất lượng nghệ thuật, mà chỉ in sách chống mác xít . Vậy thì chẳng nên trách móc hội nhóm văn hoá làm gì,? Chỉ khi nào người làm nghệ thuật ý thức được việc làm , tự kiểm soát tài năng biết điều động chiều hướng ngòi bút viết tác phẩm đúng nghĩa – thì câu nói Thomas Mann ( nhà văn Đức quốc: 1875-1955) mới có ý nghĩa:
“…. Là thi sĩ, chúng tôi không trở thành người dễ bảo. nhiêm vụ chúng tôi là đặt tên riêng mỗi vật trên trái đất này…”. Một thi nhân tài danh khác của Pháp - Arthur Rimbaud đi buôn nô lệ kiếm tiền thì bỏ ngay nghiệp thơ từng đeo đuổi- vì hai nghề và nghiệp không thể song hành cùng lúc.




...CÒN TIẾP...












Newvietart chân thành cáo lỗi tác giả và độc giả nếu có những lỗi in sai trong bài



© tác giả giữ bản quyền.
.tải đăng theo nguyên bản của tác giả gởi Newvietart.com ngày 16.04.2009.
. Trích đăng lại xin vui lòng ghi rõ nguồn Newvietart.com